CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
- Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Nghiên cứu ở nước ngoài
Tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về GD
(giáo dục) ý thức BVMT (bảo vệ môi trường), tác giả có một
số nhận xét sau: GD ý thức BVMT không phải là mảnh đất
mới chưa được “cày xới” mà GD ý thức BVMT là một vấn đề
đã được một số nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm đến
dưới các góc độ khác nhau. Trong phạm vi cho phép có thể đề
cập một số hướng nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về mục tiêu, nguyên tắc giáo dục
môi trường.
Năm 1975, tại Belyrade (Nam Tư) Chương trình giáo
dục môi trường quốc tế (IEEP) ra đời. Tại Hội thảo Quốc tế
lần thứ nhất về giáo dục môi trường, chương trình IEEP đã
đưa ra được Nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu,
nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường. Hội thảo đã công
bố Hiến chương Balyrade – Một hệ thống nguyên tắc toàn cầu
cho giáo dục môi trường được tóm tắt ở những điểm cơ bản
sau:
+ Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ
tương tác về kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái giữa nông thôn
và thành thị.
+ Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến
thức, những giá trị, quan niệm, trách nhiệm và các kỹ năng
phụ thuộc vào các chiến dịch giáo dục lớn, các cuộc thảo
luận và sự tham gia của quần chúng”
Hội nghị Thượng đỉnh (UNCED) diễn ra tại Rio de
Janeco (Brazil) vào năm 1992 có 170 nước tham dự. Hội nghị
thảo luận vấn đề mấu chốt là “Chương trình Nghị sự 21”.
Chương trình nhằm chỉ ra cho các quốc gia biết cần phải làm
những gì để đạt được sự phát triển mang tính chất duy trì
trong thế kỷ XXI. Hội nghị nhất trí cao phát triển và giáo
dục môi trường phải là một bộ phận thống nhất của quá
trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức.
Hội nghị cũng đưa ra dự kiến là mọi chính phủ phải nỗ lực
phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược
nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn
đề trọng tâm để đưa vào các cấp giáo dục.
Thứ ba, nghiên cứu về trách nhiệm của con người đối
với việc phát triển môi trường một cách bền vững.
Nghị định thư Kyoto năm 1997 đưa ra chỉ tiêu cắt giảm
lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính có tính ràng buộc pháp
lý đối với các nước phát triển và cơ chế đối với các nước
đang phát triển nhằm đạt được sự phát triển kinh tế xã hội
một cách bền vững thông qua thực hiện “cơ chế phát triển
sạch”.
Hội nghị quốc tế về môi trường với chủ đề: “Các công
dân trên trái đất” diễn ra tại Pari (Pháp) năm 2007 với mục
đích đưa ra các giải pháp hiệu quả để bảo vệ an toàn trái đất
trước nguy cơ biến đổi bất lợi do con người gây ra. “ Lời kêu
chương trình quốc tế về môi trường cùng với việc hoạch định
và thực hiện các chương trình hành động quốc gia về môi
trường.
Trong những năm qua, có rất nhiều công trình nghiên
cứu về giáo dục môi trường cho trẻ mầm non ra đời như:
- Dự án thiết kế và thử nghiệm nội dung giáo dục môi
trường ở mẫu giáo và tiểu học (Viện khoa học giáo dục –
1996)
- Dự án thử nghiệm đưa giáo dục môi trường vào trường
mầm non – Nội dung: Thời tiết và cuộc sống của chúng ta
(Trường CĐSP NT-MGTW 1)
- Dự án thiết kế thử nghiệm chương trình bồi dưỡng
nâng cao kiến thức cho cán bộ giáo viên ngành học mầm non
về môi trường (Trường CĐSP NT-MGTW 1, 1998-1999)
- Đề tài “Xây dựng nội dung bảo vệ môi trường cho trẻ
mẫu giáo 5 tuổi trong trường mầm non” (Trung tâm nghiên
cứu GDMN – Viện khoa học giáo dục, 1998-2000)
- Đề tài “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ từ 3-6 tuổi
trong trường mầm non theo quan điểm tích hợp” (Đề tài
nghiên cứu cấp Bộ - Tiến sĩ Lê Thanh Vân – Khoa GDMN –
Trường ĐHSP Hà Nội, 2003-2004)
- Nâng cao năng lực giáo dục môi trường của sinh viên
trường CĐSP mầm non (Trường CĐSP NT-MGTW 2, 20012003)
- Hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường trong trường mầm non (Nhà xuất bản GDVN, 2011)
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định
GDMT có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố
thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt
quá mức cho phép đã được xác định.
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở
thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức
khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật
trong môi trường đó. Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như
rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt
nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi
lửa phun, NO2 trong khói xe, CO từ khói đun …), các kim loại
nặng như chì, đồng … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể
rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian.
Từ các phân tích trên, trong luận văn chúng tôi sử dụng
khái niệm ô nhiễm môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường của
Việt Nam: "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của
môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"
- Ý thức
Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin, ý thức là
một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ
óc người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não
người. Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan vào
bộ não người và không có bộ não người với tính cách là cơ
quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức. Bộ não người
và sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người là
nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Hoạt động giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
xanh, sạch, đẹp là một trong những nội dung quan trọng trong
công tác giáo dục tại các nhà trường từ cấp học mầm non đến
là: Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực,
một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống
nhất [18]
- Giáo dục ý thức BVMT cho trẻ MGL dựa vào lực lượng
cộng đồng
Giáo dục ý thức BVMT cho trẻ MGL dựa vào lực lượng
cộng đồng là sự phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài trường
hay huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo
dục. Cụ thể hơn, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ dựa vào lực
lượng cộng đồng là quá trình vận động (động viên, khuyến
khích, thu hút) và tổ chức mọi thành viên trong cộng đồng
tham gia vào việc xây dựng và phát triển chương trình, kế
hoạch GD ý thức BVMT cho trẻ từ xây dựng mục tiêu, nội
dung đến triển khai hình thức, phương pháp giáo dục đến việc
kiểm tra, đánh giá và tham gia giáo dục trẻ.
- Nội dung cơ bản về giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho trẻ mẫu giáo lớn
- Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn
Đặc điểm phát triển trí nhớ:
Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu
xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) và phát triển mạnh ở mẫu
giáo lớn (5-6 tuổi) do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và
do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao. Loại ghi
nhớ có chủ định của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc.
Trí nhớ vận động: Trẻ có thể dần bỏ hình mẫu, nhưng
những lời chỉ dẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa. Động tác
vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít có những động tác
thừa của cơ thể.
ngày càng lớn trong số các động cơ đạo đức. Lúc này, trẻ đã
hiểu rằng những hành vi của chúng có thể mang lại lợi ích cho
những người khác và chúng bắt đầu thực hiện những công
việc vì người khác theo sáng kiến của riêng mình.
Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo trở nên đa dạng: động
cơ muốn tự khẳng định mình, động cơ muốn nhận thức, muốn
khám phá thế giới xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xã
hội… Cần phải quan tâm đến nội dung động cơ và cần phát
huy động cơ tích cực, ngăn chặn động cơ tiêu cực. Ở lứa tuổi
này bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của
các động cơ. Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong sự phát triển
nhân cách của trẻ mẫu giáo. Trong mỗi công việc trẻ đều có
một hệ thống thứ bậc động cơ thúc đẩy.
Ở lứa tuổi này, hành vi của trẻ tương đối xác định. Nếu
động cơ xã hội chiếm ưu thế thì trẻ sẽ thực hiện những hành
vi mang tính đạo đức tốt đẹp. Ngược lại, nếu động cơ nhằm
thỏa mãn quyền lợi riêng tư chiếm ưu thế thì trong nhiều
trường hợp trẻ sẽ hành động nhằm tìm kiếm những quyền lợi
cá nhân ích kỷ, dẫn đến những vi phạm về chuẩn mực đạo đức
xã hội. Do vậy, cần phải tạo ra những tình huống để gợi lên
những hành vi đạo đức tốt đẹp.
Sự hình thành ý thức:
Đến cuối tuổi mẫu giáo thì ý thức bản ngã của trẻ mới
được xác định rõ ràng. Đến lúc này trẻ mới hiểu được mình
như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh
đối xử với mình ra sao và tại sao mình có hành động này hay
hành động khác. Ý thức bản ngã của trẻ được thể hiện rõ nhất
trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về
- Sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non
Lứa tuổi mầm non là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của
cuộc đời mỗi con người. Để đảm bảo và tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của đứa trẻ thì người lớn, đặc biệt là giáo
viên mầm non cần tổ chức cho trẻ được tham gia vào các hoạt
động cơ bản phù hợp với lứa tuổi trẻ. Ý thức BVMT của trẻ
chỉ được hình thành trong môi trường tự nhiên và xã hội dưới
sự hướng dẫn của cha mẹ, cô giáo và những người gần gũi.
Ngay từ lứa tuổi mầm non cần hình thành ý thức cho trẻ để
bảo vệ môi trường.
Việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ MGL sẽ
góp phần giải quyết nhiệm vụ phát triển trẻ một cách toàn
diện các mặt trí tuệ, đạo đức, lao động, thẩm mỹ.
Thứ nhất: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường góp phần
phát triển trí tuệ cho trẻ.
Quá trình lĩnh hội tri thức về tự nhiên vô sinh, động vật,
thực vật, con người và mối quan hệ đơn giản giữa các sự vật
và hiện tượng tự nhiên phù hợp với đặc điểm nhận thức của
trẻ sẽ hoàn thiện các giác quan, tích lũy kinh nghiệm cảm tính
ở trẻ, hình thành các khái niệm đơn giản. Việc lĩnh hội tri thức
về môi trường có liên quan trực tiếp đến sự phát triển ở trẻ
khả năng nhận thức, tư duy lôgic, chú ý, ngôn ngữ, sự quan
sát, say mê...để phát triển tư duy và hình thành thế giới quan
duy vật, cần cho trẻ tiếp xúc sự vật, hiện tượng xung quanh,
dạy chúng tìm kiếm cách giải thích những hiện tượng quan sát
thành quả của mình. Sự đa dạng của thiên nhiên cùng với ý
thức bảo vệ môi trường giúp trẻ hình thành những phẩm chất
nhân cách quan trọng như thái độ coi trọng lao động, biết yêu
lao động, có thói quen lao động, có trách nhiệm với môi
trường sống xung quanh.
Thứ tư: Giáo dục ý thức BVMT góp phần phát triển
thẩm mỹ.
Cái đẹp của tự nhiên có thể ảnh hưởng đến mọi trẻ. Khi
cho trẻ làm quen với tự nhiên, ý thức tích cực bảo vệ tự nhiên
trẻ dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp của cây, con, hoa, quả, sự
vận động của động vật. Từ đó chúng biết cảm nhận thế giới
với mọi sự hấp dẫn và đa dạng của nó.
- Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu
lớn
Vấn đề cơ bản của giáo dục môi trường thể hiện ở mối
quan hệ giữa con người và môi trường. Trong mối quan hệ
này, con người với tư cách là chủ thể của môi trường sống,
với hành vi tích cực của mình con người cần phải ứng xử có ý
thức với môi trường. Do vậy, con người phải hiểu rõ về mối
quan hệ này.
Hành vi có ý thức
Con người
Môi trường
Kiến thức, kĩ năng, thái độ
Trong mối quan hệ này, con người cần hiểu rõ:
Trẻ có kiến thức
Trẻ có kỹ năng
Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, việc giáo dục ý thức
BVMT suy cho đến cùng là tạo ra sự thống nhất giữa nhận
thức và việc làm trong hành vi của trẻ đối với các vấn đề môi
trường. Yếu tố đầu tiên của văn hóa môi trường được hình
thành trên cơ sở tác động qua lại của trẻ với thế giới đồ vật –
Tự nhiên có ở xung quanh trẻ dưới sự điều khiển của người
lớn.
Như vậy, nội dung GD ý thức BVMT cho trẻ MGL bao
gồm các bước sau:
Cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi
trường; Môi trường tự nhiên; Môi trường xã hội – mối quan
hệ giữa con người và môi trường; Sự ô nhiễm môi trường và
bảo vệ MT; Hình thành cho trẻ thói quen, kỹ năng hành động
và các hành vi phù hợp với môi trường; Giúp trẻ có thái độ
tích cực với MT.
Tạo xúc cảm tích cực đối với trẻ khi thực hiện hành vi
BVMT. Kích thích hứng thú ở trẻ khi trẻ tham gia BVMT
bằng những lời động viên, khen ngợi, hưởng ứng. Ví dụ, khi
trẻ đến lớp, trẻ biết cất dép, túi gọn gàng, ngăn nắp vào đúng
nơi quy định, khi chơi đồ chơi trẻ biết giữ gìn đồ chơi cẩn
thận, khi ăn cơm trẻ không để cơm rơi vãi ra bàn, nếu tất cả
những hành động này của trẻ được người lớn hưởng ứng sẽ
tạo ra sự thỏa mãn ở trẻ. Từ đó trẻ sẽ có những xúc cảm tích
cực, tự nguyện, tự giác, thích thú thực hiện BVMT.