CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG BIỂN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG
THCS DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG HẢI PHÒNG
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Các nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển
Công ước quốc tế hay vấn đề bảo vệ môi trường biển là
những vấn đề không mới. Thực tế đã có rất nhiều bài viết, công
trình nghiên cứu, khóa luận, luận văn đề cập đến vấn đề này như:
- Cuốn sách “Bảo vệ môi trường biển Việt Nam- Vấn đề và
giải pháp” của tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao, năm 2004. Trong cuốn
sách này, TS. Nguyễn Hồng Thao đã phân tích khá đầy đủ, toàn
diện về vấn đề bảo vệ môi trường biển Việt Nam cũng như đưa ra
giải pháp để cải thiện và bảo vệ môi trường biển. Cuốn sách cũng
dành một phần riêng để phân tích về vấn đề Việt Nam và các công
ước quốc tế về môi trường biển.[42]
- Bài viết "Ô nhiễm môi trường biển và vấn đề thực thi các
điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam", của Đỗ
Văn Sen trên Tạp chí Nhà nước vàpháp luật, Viện Nhà nước và Pháp
luật năm 2008. Bài viết này nêu nội dung cơ bản của một số Điều
ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập và cả các Công ước
quốc tế mà Việt Nam chưagia nhập về bảo vệ môi trường biển liên
quan đến tàu biển với mục đích tìm hiểu thực trạng pháp luật Việt
Nam hiện hành và xác định chính sách ký kết và gia nhập các điều
ước quốc tế về lình vực trên trong thời gian tới.[38]
- Luận văn tốt nghiệp của Cao Võ Thanh Sang, năm
2008"Pháp luật bảo vệ môi trường biển" [37], đề tài nghiên cứu
xoay quanh các văn bản pháp luật Việt Nam và quốc tế về bảo
- Luận văn tốt nghiệp của Vũ Quốc Việt, 2013 “Môi trường
biển và ven biển Hải Phòng, thực trạng và giải pháp ”[46]. Luận
văn nghiên cứu về môi trường biển tại Hải Phòng và đưa ra một
số biện pháp về vấn đề quản lí môi trường biển và ven biển tại
Hải Phòng.
- Luận văn tốt nghiệp của Đinh Thị Thu Hương, năm 2014
“Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở
Việt Nam”[19].Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và
thực tiễn của pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển, chỉ
ra những hạn chế, thiết sót thông qua đó đề xuất những phương
hướng, kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản
lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đóng góp
một phần vào công tác bảo vệ môi trường biển, tạo ưu thế cho sự
phát triển của các ngành kinh tế biển. Tuy vậy, do giới hạn của
từng công trình, chúng đã không đề cập hoặc có đề cập đến vấn
đề pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi
trường biển nhưng ít nghiên cứu chuyên sâu về mặt khoa học
pháp lý.
- Các nghiên cứu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển
- Luận văn “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp” của Dương Thị
Hiệp, năm 2012[16]. Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý
luận về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, phân tích thực trạng
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT ở huyện
Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp hiện nay và đề xuất một số giải
nhằm nâng cao hơn nữa công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục
đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sông xã hội, lao
động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử xã hội của loài người. Giáo dục được hiểu dưới
hai góc độ:
- Giáo dục được xem như là tập hợp các tác động sư phạm
đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất;
- Giáo dục được như là một hoạt động xã hội, dạng tái sản
xuất ra lực lượng lao động mới. Ở đây, đối tượng là thế hệ trẻ, là
tập hợp các đối tượng đơn nhất. Giáo dục là đào tạo và bồi dưỡng
đội ngũ lao động;
Khi nói đến giáo dục theo nghĩa rộng, là ta thường liên
tưởng ngay đến cụm từ "giáo dục theo nghĩa hẹp và đào tạo".
Theo nghĩa rộng, giáo dục: Là sự hình thành nhân cách
được tổ chức có mục đích, thông qua các hoạt động và các quan
hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người
được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài
người.[59 ]
Khái niệm Giáo dục (nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệm
nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người.
Hình thành nhân cách: Là quá trình phát triển con người về
mặt sinh lý, tâm lý và xã hội, mang tính chất tăng về lượng và
biến đổi về chất. Quá trình này xảy đến do ảnh hưởng của các
nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền,…), và các nhân tố bên
ngoài (hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo
dục), do ảnh hưởng của hành động tự phát, ngẫu nhiên, chưa được
kiểm soát và các tác động có mục đích, có tổ chức, kiểm soát
được.
hay hoạt động chân tay.
- Khái niệm môi trường biển.
“Môi trường biển” là một thuật ngữ chưa có thời gian dài,
nó mới xuất hiện và cũng ít được định nghĩa một cách đầy đủ và
toàn diện. Thuật ngữ này mới xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XX và
được nhận biết như một từ ghép giữa từ “môi trường” và “biển”.
Quá trình phát triển của con người cho thấy một thời kỳ người ta
chỉ nói đến từ “biển” hoặc “ biển cả” mà chưa đề cập đến từ ngữ “
môi trường biển”. Điều này cũng dể hiểu, bởi từ thời xa xưa
người ta chỉ biết đến biển như một món quà được ban tặng bởi
thiên nhiên, mà không phải chịu bất cứ một trách nhiệm, một
nghĩa vụ nào và coi biển là một nguồn tài nguyên vô hạn. Con
người thời đó, coi biển là rất rộng lớn, có thể hấp thụ và chuyển
hóa mọi chất thải mà con người đưa đến nên từ ngữ “môi trường
biển” chưa được chỉ ra.
Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộng
đồng thế giới đến bảo vệ môi trường thì từ ngữ “môi trường biển”
cũng dần xuất hiện. Ở thời kỳ này, từ ngữ “môi trường biển” chưa
tồn tại một cách độc lập mà chỉ xuất hiện trong những vấn đề liên
quan đến bảo tồn tài nguyên biển, bảo vệ ô nhiễm môi trường.
Đến năm 1982, khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời (UNCLOS)
thì từ ngữ “môi trường biển” mới được nói đến một cách chính
thức, nhưng nó cũng chỉ mới ở dưới dạng liệt kê một số yếu tố tự
nhiên của môi trường biển mà chưa có một khái niệm hoàn chỉnh
về “ môi trường biển”. Như ta thấy, ở [Điều 1, khoản 4 của “
Công ước Luật Biển 1982] có quy định “môi trường biển” bao
gồm “các cửa sông” , “hệ động vật biển và hệ thực vật biển”,
thác dầu lửa (sự rò rỉ dầu từ các dàn khoan, các ống dẫn dầu, các
nhà máy lọc dầu...), hoặc do các nguồn ô nhiễm phát sinh từ đất
liền (các chất thải phóng xạ độc hại do các nước công nghiệp
dùng tàu đổ xuống biển...) ảnh hưởng tới đời sống của các loài
sinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển
của chúng.[58]
Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia
ra thành một số dạng như sau:
- Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển
như dầu, kim loại nặng, các hoá chất độc hại.
- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích
biển ven bờ.
- Suy thoái các hệ sinh thái biển.
Nói cách khác, nhiễm môi trường biển là việc con người
trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào
môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không
trung, đáy biển hoặc do những biến đổi bất thường của tự nhiên,
từ đó gây ra những tác hại nguy hiểm cho sức khỏe con người,
gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản
và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi
chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút
các giá trị mỹ cảm của biển.
- Khái niệm bảo vệ môi trường biển.
Bảo vệ môi trường biển là hoạt động giữ cho môi trường
biển luôn được trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế các tác
động xấu tới môi trường, ứng phó các sự cố môi trường; khắc
phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai
thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ
- Khái niệm ý thức bảo vệ môi trường biển
Ý thức chính là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới
khách quan vào bộ óc người; là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan.[42]
Ý thức bảo vệ môi trường biển là một hình thái ý thức xã
hội, về cấu trúc bao gồm hai bộ phận: Tâm lý về bảo vệ môi
trường biển và tư tưởng bảo vệ môi trường biển. Tâm lý bảo vệ
môi trường biển hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm,
tâm trạng, cảm xúc đối với các hiện tượng môi trường biển xảy ra
trong đời sống xã hội.[42]
Tư tưởng bảo vệ môi trường biển là tổng hợp các quan
điểm, quan niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng môi
trường một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các
phạm trù khoa học. Ý thức về môi trường biển của một người có
vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường biển. Vì vậy
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển là trách nhiệm của mỗi
công dân.
Biểu hiện của ý thức bảo vệ môi trường biển chính là:
Không bỏ rác thải bừa bãi, không đúng nơi quy định; không thải
khói bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại xuống biển, phát phóng xạ,
bức xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động, thực vật, vi
khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây bệnh vào nguồn nước; không
khai thác, kinh doanh các loại thủy hải sản quý hiếm trong danh
mục quy định của chính phủ; không khai thác thủy hải sản bừa bãi
gây hủy hoại môi trường biển, làm mất cân bằng sinh thái; không
nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi
trường; không sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ
hủy diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động thủy
Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: tương quan
cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên
cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; có sự liên
hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện
được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; có sự hiến dâng về mặt
tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội
ngưỡng mộ; có ý thức đoàn kết tập thể. Cộng đồng được hình
thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên
cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm
khác. Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các
quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi
như kà một hằng số văn hóa. [63]
- Khái niệm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển
Theo tác giả, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển là việc
thực hiện giáo dục các nội dung của Luật Biển Việt Nam, các nghị
định của Chính phủ về bảo vệ tài nguyên môi trường biển nhằm
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển, ngăn chặn các mối đe
dọa gây ô nhiễm môi trường biển, giảm thiểu các hành vi gây ô
nhiễm môi trường biển. Giáo dục từ những việc làm, hành động
nhỏ nhất như trồng và chăm sóc rừng ngập mặn; vệ sinh bãi biển;
sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên từ biển; tổ chức các diễn
đàn về môi trường biển, bảo vệ môi trường biển.
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển cho học sinh
THCS dựa vào cộng đồng.
- Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển dựa
vào cộng đồng.
Thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường biển, truyền tình
yêu biển đảo cho học sinh. Trang bị đầy đủ hành trang, kiến
xấu đối với môi trường biển.
- Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác
trên biển phải được kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
- Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại
khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài
nguyên biển sau khi sử dụng phải được thu gom, lưu giữ trong
thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo quy định về quản lý
chất thải nguy hại.
- Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải xuống biển.
- Có sự đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, tiềm năng
phát triển, thực hiện định kỳ các hoạt động quan trắc, giám sát
những biến động về tài nguyên và môi trường biển;
- Xây dựng trạm cảnh báo thiên tai, đánh giá mức độ suy
thoái tài nguyên hệ sinh thái biển;
- Tiếp tục xây dựng và bổ sung hoàn chỉnh các văn bản pháp
quy liên quan đến phát triển bền vững và dải ven bờ biển;
- Xây dựng chiến lược, chương trình hành động, dự án ưu
tiên để kiểm soát ô nhiễm, ngăn ngừa suy thoái phát triển tài
nguyên, cảnh báo thiên tai và sự cố môi trường trên biển.
- Cần thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động môi
trường, cam kết bảo vệ môi trường và ưu tiên triển khai các dự án
quản lý, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển như xử lý các chất
thải, phục hồi nơi sinh cư của các loài quý hiếm, đặc hữu và các
hệ sinh thái đặc thù, ứng cứu các sự cố môi trường, tràn dầu trên
biển;
- Tham gia vào việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng
đồng địa phương về bảo vệ môi trường biển, đảo.
- Kẻ, vẽ, treo các khẩu hiệu, áp phích tuyên truyền, cổ động mọi
tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ môi trường biển đảo.
-
Phát thanh, tuyên truyền, phát tập gấp, tờ rơi về bảo vệ môi
trường biển đảo tại các tụ điểm dân cư.
- Tổ chức và tham gia các cuộc thi sáng tác các tác phẩm báo chí;
các loại hình văn học, nghệ thuật của Trung ương và địa phương
về chủ đề bảo vệ môi trường biển đảo.
- Tổ chức và tham gia vào các hoạt động xã hội, các cuộc triển lãm,
trưng bày; các cuộc biểu diễn nghệ thuật về bảo vệ môi trường
biển đảo ở địa phương.
- Tổ chức chiến dịch ra quân làm sạch bờ biển, các hoạt động thể
thao dưới nước hoặc trên bờ biển; thăm hỏi, động viên cán bộ,
chiến sĩ, đồng bào đang sinh sống tại các bãi ngang và hải đảo có
nhiều khó khăn.
- Thường xuyên và tích cực tham gia các hoạt động xử lý chất thải,
dọn vệ sinh, làm đẹp cảnh quan, môi trường nơi mình đang cư trú,
sinh sống và học tập.
nhiệm vụ vô cùng quan trọng, cùng với những nỗ lực mang tính
hành chính, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển cho học sinh
các trường THCS dựa vào cộng đồng cần phải được được thực
hiện một cách rộng rãi. Chính quyền tại các địa phương cần triển
khai nhiều kế hoạch đẩy mạnh giáo dục môi trường biển như
thành lập các trung tâm giáo dục môi trường biển, xây dựng
chương trình giáo dục cho thế thệ trẻ đặc biệt là học sinh, những
người lãnh đạo tương lai, phổ cập giáo dục môi trường biển tới
mọi tầng lớp nhân dân.
Bên cạnh đó, hoạt động tự nguyện bảo vệ môi trường biển
của người dân, các tổ chức doanh nghiệp các lực lượng cộng đồng
cần được phát huy một cách hiệu quả.
Để đẩy mạnh hơn nữa phong trào giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường biển cho học sinh các trường THCS dựa vào cộng
đồng, các cấp các ngành nên quan tâm thực hiện một số biện pháp
sau:
- Đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền về bảo
vệ môi trường biển để tiến tới xây dựng chuẩn mực đạo đức cao
đẹp, có những phong tục đẹp về hành động bảo vệ môi trường
biển, tiết kiệm tài nguyên trong đời sống hàng ngày. Thông qua
các phương tiện truyền thông như phát thanh, truyền hình, báo in,
pano, áp phích, tờ gấp, tranh cổ động... cùng với các hoạt động
tuyên tuyền khác như biểu diễn văn nghệ, hội thảo, triển lãm... để
chuyển tải thông tin, thông điệp môi trường biển tới các nhóm đối
tượng khác nhau.
- Hình thức tổ chức nâng cao nhận thức cộng đồng cần đa
dạng, phù hợp với từng đối tượng cộng đồng như thông qua các
cuộc trao đổi, thảo luận chính thức hoặc không chính thức, lôi kéo