THỰC TRẠNG GIÁO dục kỹ NĂNG ỨNG PHÓ THIÊN TAI CHO học SINH TRUNG học cơ sở dựa vào CỘNG ĐỒNG tại HUYỆN tây hòa, TỈNH PHÚ yên - Pdf 51

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ
NĂNG ỨNG PHÓ THIÊN TAI
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ DỰA VÀO CỘNG
ĐỒNG TẠI HUYỆN TÂY HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN


- KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÌNH
HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC THCS Ở HUYỆN
TÂY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN
- Điều kiện tự nhiên
Huyện Tây Hòa là một huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú
Yên, phía Bắc giáp huyện Phú Hòa, huyện Sơn Hòa, phía Nam
giáp huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa, phía Đông giáp huyện
Đông Hòa, phía Tây giáp huyện Sông Hinh.
Huyện được thành lập trên cơ sở chia tách huyện Tuy Hòa
thành hai huyện Đông Hòa và Tây Hòa, chính thức đi vào hoạt
động từ ngày 1/7/2005. Huyện có diện tích tự nhiên 609,45 km 2;
dân số trung bình năm 2014 là 118.523 người. Toàn huyện có 11
đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 10 xã: Hòa Bình 1, Hòa Mỹ
Tây, Hòa Mỹ Đông, Hòa Thịnh, Hòa Đồng, Hòa Tân Tây, Hòa
Phong, Hòa Phú, Sơn Thành Đông, Sơn Thành Tây (trong đó có 4
xã miền núi) và thị trấn Phú Thứ.
Tây Hòa thuộc vùng khí hậu III-“Vùng khí hậu thủy văn chủ
yếu núi cao phía nam”, lượng mưa lớn nhất tỉnh, với tổng lượng
mưa năm trung bình nhiều năm 2200 – 2400 mm. Lượng mưa


phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm. Nhiệt độ trung
bình năm khoảng 260C. Địa hình phức tạp, đan xen giữa 2 dạng

lên. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương được tăng cường,
tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
- Khái quát tình hình Giáo dục và Đào tạo
Quy mô giáo dục từng bước phát triển vững chắc, đáp ứng
nhu cầu học tập ngày càng cao của Nhân dân, phục vụ yêu cầu
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước. Hiện nay, toàn huyện có 70 cơ sở giáo dục gồm 11
trường mầm non, 22 trường tiểu học, 11 trường THCS, 03 trường
THPT, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên và dạy nghề; 11 cơ sở
mầm non tư thục và 11 trung tâm học tập cộng đồng. có 22
trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó cấp THCS có 4/11 trường (03
trường hạng I, 01 trường hạng II). 100% xã, thị trấn đạt chuẩn phổ


cập giáo dục cho trẻ em 5 tuổi và đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2;
10/11 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học; 3/11 xã, thị
trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
- KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT THỰC
TRẠNG
- Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng ƯPTT
cho học sinh trung học cơ sở dựa vào cộng đồng tại huyện Tây
Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đối tượng và địa bàn khảo sát
* Địa bàn khảo sát: Khảo sát tại 4 trường THCS thuộc
huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên: THCS Nguyễn Tất Thành (Thị
trấn Phú Thứ), THCS Lê Hoàn (Xã Hòa Phú), THCS Tây Sơn
(Xã Hòa Mỹ Tây), THCS Đồng Khởi (Xã Hòa Thịnh).
- Nội dung khảo sát
Khảo sát mức độ nhận thức của các đối tượng về vai trò của

- THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG ƯPTT CHO
HỌC SINH THCS DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN
TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thực trạng thiên tai hiện nay ở huyện Tây Hòa
Huyện Tây Hòa là huyện trọng điểm thường xuyên chịu ảnh
hưởng thiên tai của tỉnh, nằm giữa hạ lưu của 2 con sông (Sông
Ba, sông Bánh Lái), huyện có lượng mưa lớn nhất tỉnh.
Các loại hình thiên tai đã xảy ra trong 5 năm gần đây tại
huyện Tây Hoà: Lũ lụt, bão, sạt lở đất, hạn hán, cháy rừng,…
trong đó, lũ lụt và bão là hai loại hình phổ biến, tác động thường
xuyên hàng năm.
Trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, trước dự báo
thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường thì tần suất xuất
hiện của lũ, bão ngày càng nhiều với cường độ tác động mạnh dần
lên. Điển hình trong năm 2017, theo thống kê của Trung tâm khí
tượng thủy văn, toàn tỉnh có 4-5 đợt lũ, xuất hiện 16 cơn bão, 7 áp


thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông, mức cao hơn so với
trung bình nhiều năm. Sáng sớm ngày 04/11/2017, bão số 12 đã
đổ bộ vào tỉnh Phú Yên nói chung và huyện Tây Hòa nói riêng,
trước và khi bão đổ bộ trên địa bàn huyện Tây Hòa đã có mưa to,
rất to và ảnh hưởng việc xả lũ của các hồ thủy điện sông Ba Hạ và
Sông Hinh. Bão, lũ gây thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước
và của Nhân dân như: Người bị thương, trụ sở làm việc, trường
học của một số cơ quan, đơn vị bị tốc mái, nhiều nhà dân bị sập,
tốc mái, tụt vách, đổ ngã cây ăn quả, hoa màu…,lũ lụt đã chia cắt,
cô lập nhiều thôn, xóm…, tổng thiệt hại hơn 104.041 triệu đồng.
- Thực trạng nhận thức vai trò của giáo dục kỹ năng
ƯPTT cho học sinh THCS dựa vào cộng đồng


Số lượng

Tỉ lệ (%)

64

64,0

Rất cần thiết

356

89,0

24

24,0

Cần thiết

42

10,5

12

12,0

Ít cần thiết


TT

Các loại hình
thiên tai

1

Lũ, lụt

2

Bão, áp thấp nhiệt
đới

Học sinh đánh giá (N=400)
Số lượng

Tỉ lệ(%)

383

95,8

304

76,0

3


7

Xói lở bờ sông

136

34,0

8

Cháy rừng

174

43,5


9

Mưa đá

80

20,0

10

Sương đá

40

Các loại
hình

Rất

thiên tai

thư
ờng
xuy

2 Bão,

Thỉ

ờng

nh

xuyê thoả

Rất
Khô thườ
ng

ng



xuyê

8,8

33,5 54,0 2,3

11

104

255

22

2,8

26,0 63,8 5,5

ên
1 Lũ, lụt

Thư

Tỉ lệ (%)

n

áp

thấp
nhiệt đới
3 Lũ quét


36,8

35,0

51,
3
53,
0
41,

23

14

182

165

5,8

3,5

45,5

6

38

143


8

68

64

21

10

151

193

128

46

159

123

218

318

2,0

3,8

thoảng, có 255 em lựa chọn (63,8%), mức độ tác động thường
xuyên có tỉ lệ thấp, chỉ có 104 em lựa chọn (26,0%). Trong thực
tế, hàng năm tỉnh Phú Yên nói chung, huyện Tây Hòa nói riêng
thường xuyên chịu tác động của 2 loại hình thiên tai này. Qua đó,
ta nhận thấy đa số học sinh chưa nhận thức, nhận biết đúng về


mức độ tác động của các loại hình thiên tai xảy ra tại địa phương
sinh sống.
- Thực trạng nhận thức của học sinh về những kỹ năng
cần thiết
Để khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh về những kỹ
năng cần thiết cho bản thân trong ứng phó với các loại hình thiên
tai thường xảy ra tại địa phương các em sinh sống, tác giả luận
văn đã tiến hành khảo sát và kết quả thu được phản ánh trong
Bảng sau:
- Nhận thức của học sinh về những kỹ năng cần thiết đối với
bản thân trong ứng phó với các loại hình thiên tai thường xảy ra
tại địa phương các em sinh sống
Ý kiến đánh giá
T
T

(N=400)
Các kỹ năng
Số lượng

Tỉ lệ
(%)


7

Kỹ năng ứng phó với các tình
huống căng thẳng

328

82,0

288

72,0

246

61,5

291

72,8

Qua số liệu thống kê ở bảng trên cho thấy: Đa số những kỹ
năng đưa ra để khảo sát đều được cho là quan trọng, đặc biệt là kỹ
năng đảm bảo an toàn cho bản thân khi gặp nước lũ, có đến 82,0%
học sinh lựa chọn kỹ năng này, điều này xuất phát từ thực tế vì
huyện Tây Hòa nằm giữa hạ lưu của 2 con sông (Sông Ba, sông
Bánh Lái), thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi mưa và xả lũ ở các
hồ thủy điện mà kỹ năng đảm bảo an toàn cho bản thân khi gặp
nước lũ của các em còn hạn chế. Tiếp đến là kỹ năng tìm kiếm sự
hỗ trợ (79,0%), kỹ năng ứng phó với các tình huống căng thẳng

đới
Lũ quét

Số lượng

Tỉ lệ (%)

93

93,0

74

74,0

41

41,0


4

Lốc, Sét

38

38,0

5


9

Mưa đá

20

20,0

10

Sương đá

15

15,0

Qua số liệu, các loại hình thiên tai cần thiết để giáo dục cho
học sinh được CBQL và giáo viên lựa chọn có tỉ lệ cao, đó là: Lũ,
lụt (93%); bão, áp thấp nhiệt đới (74%), hạn hán (57%), cháy rừng
(48%), xói lở bờ sông (43%). Đây là những loại hình thiên tai có
tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội huyện nhà nói chung và
công tác GD & ĐT nói riêng trong những năm qua.
Để khảo sát thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên về
những kỹ năng ƯPTT cần thiết để giáo dục cho học sinh, tác giả
luận văn đã khảo sát 100 CBQL, giáo viên, kết quả: 7/7 kỹ năng
ƯPTT mà tác giả đưa ra khảo sát được CBQL và giáo viên đánh
giá cần thiết ở tỉ lệ cao (từ 50% trở lên), cụ thể: Kỹ năng đảm bảo
an toàn cho bản thân khi gặp nước lũ (79%), kỹ năng tìm kiếm sự



Mức độ hiểu biết (%)

Mức độ hiểu biết (%)


Tru
Tốt

Khá

ng

Tru
Yếu

bình
1 Lũ, lụt

61

13

23

Tốt Khá

ng
bình

2

Xói

lở

bờ sông

8 Cháy

23

24

30

15

39

27

37

45

31

41

27


8
39,
25
30,
5
33,
3
29,

23

42

29

5

14,8 26,5 23,8

17

40

32

8

18,0 26,8 30,8 20,

3


19,5 18,5

34,
3
49,
75

Qua số liệu thống kê ở bảng trên cho thấy: Đối với các loại
hình thiên tai thường xảy ra ở địa phương, học sinh đã chỉ ra 2
loại hình thiên tai chính thường xảy ra gồm: Lũ, lụt; bão, áp thấp
nhiệt đới; ngoài ra còn có sạt lở đất, xói lở bờ sông,... Tuy nhiên ở
Bảng 2.6 này, khi đánh giá về mức độ hiểu biết từng loại hình
thiên tai, phần đông các em có sự hiểu biết “Khá”, “Tốt” về lũ,
lụt, bão và áp thấp nhiệt đới, các loại hình thiên tai còn lại được
học sinh đánh giá ở mức “Trung bình” và “Yếu”. Cụ thể: Về loại
hình lũ, lụt có 44,5% học sinh chọn mức độ “Tốt” và 39,8% chọn
mức độ “Khá”; tổng tỉ lệ “Tốt” và “Khá” là 84,3%.Về loại hình
bão, áp thấp nhiệt đới có 23,3% học sinh chọn mức độ “Tốt” và
31% chọn mức độ “Khá”; tổng tỉ lệ “Tốt” và “Khá” là 54,3%.
Trong khi đó, loại hình sạt lở đất có 23,3% học sinh chọn mức độ
“Trung bình” và 33,3% học sinh chọn mức độ “Yếu”; tổng tỉ lệ
“Trung bình” và “Yếu” là 56,6%. Về loại hình xói lở bờ sông có


23,8% học sinh chọn mức độ “Trung bình” và 29,3% chọn mức
độ “Yếu”; tổng tỉ lệ “Trung bình” và “Yếu” là 53,1%.
So sánh giữa đánh giá của CBQL, giáo viên với học sinh ở
Bảng 2.6, tác giả luận văn nhận thấy hai bên có sự tương quan
trong đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh về loại hình thiên tai

Đánh giá của học

(N=100)

sinh (N=400)

Mức độ hiểu biết

Mức độ hiểu biết

(%)

(%)

Các kỹ năng

Tốt

1

2

Kỹ

năng

tìm

kiếm sự hỗ trợ
Kỹ năng hợp tác

3

37, 40,

Tru
ng
bình

Yế
u

13,8 4,5

35

35

17

5

32

24

25

10 38, 33, 18,5 8,0

8

15,5 3,0

nước lũ
Kỹ năng đảm
5

bảo an toàn cho
bản thân khi gặp

14

48

19

9

37, 33,
5

5

19,8 7,3

các đám cháy
6

Kỹ năng sơ cấp
cứu học đường
Kỹ


24

33

22

11

31, 36,
5

3

20,8 9,8

thẳng
Theo số liệu thống kê của Bảng cho thấy, nhìn chung, hầu hết
các em đánh giá mức độ kỹ năng ƯPTT của mình là “Khá”, “Tốt”.
Tổng tỉ lệ “Khá”, “Tốt” của từng kỹ năng như sau: Kỹ năng tìm
kiếm sự hỗ trợ (82,6%), kỹ năng đảm bảo an toàn cho bản thân
khi gặp nước lũ (82,3%), kỹ năng hợp tác và chia sẻ đạt (78,1%), kỹ


năng tự nhận thức và đánh giá bản thân (71%), kỹ năng đảm bảo
an toàn cho bản thân khi gặp các đám cháy (71%), kỹ năng ứng
phó với các tình huống căng thẳng (67,8%), kỹ năng sơ cấp cứu
học đường (60,8%).
Ở mức độ “Tốt” , tỉ lệ không cao, chỉ có kỹ năng đảm bảo an
toàn cho bản thân khi gặp nước lũ đạt 56,0%, còn lại các kỹ năng

vấn đề là cần phải tăng cường giáo dục kỹ năng ƯPTT cho các em
thanh thiếu nhi, nhất là các em lứa tuổi học sinh THCS là một việc
làm cấp thiết hiện nay.
* Nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết của học sinh
về các kỹ năng ƯPTT
Để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, tác giả luận
văn đã tiến hành khảo sát 100 CBQL, giáo viên và 400 học sinh
về nội dung này, kết quả được thể hiện như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status