VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TRỌNG MẠNH
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở CHO
NGƢỜI NƢỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TRỌNG MẠNH
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở CHO
NGƢỜI NƢỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 8380107
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, năm 2019
nƣớc ngoài cho ngƣời nƣớc ngoài ........................................................................10
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài ............10
1.1.2. Nội dung, ý nghĩa quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài ................13
1.1.3. Khái niệm giấy và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người
nước ngoài tại Việt Nam.....................................................................................18
1.2. Lý luận pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho ngƣời
nƣớc ngoài tại Việt Nam .......................................................................................20
1.2.1. Sự cần thiết của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
cho người nước ngoài tại Việt Nam ...................................................................20
1.2.2. Các yêu cầu của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
cho người nước ngoài.........................................................................................22
1.2.3. Cơ cấu về nội dung của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở cho người nước ngoài ..............................................................................24
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu
nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài và về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho
ngƣời nƣớc ngoài ..................................................................................................29
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi Luật Nhà ở năm 2005 chưa có hiệu
lực thi hành .........................................................................................................29
1.3.2. Giai đoạn từ khi Luật Nhà ở năm 2005 có hiệu lực thi hành đến trước khi
Luật Nhà ở năm 2014 ra đời ..............................................................................30
1.3.3. Giai đoạn khi Luật Nhà ở sửa đổi bổ sung năm 2014 đến nay ................32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ..............................................34
2.1. Thực trạng pháp luật về quyền sở hữu nhà ở và cấp giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam ................................................34
2.1.1. Quy định về quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam ....34
2.1.2. Quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nước
3.2.5. Xử lý nghiêm minh những vi phạm trong công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, và tài sản khác gắn liền với đất ........................................76
3.2.6. Các kiến nghị khác ...................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
GCNQSDĐ
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSHNƠ
: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
LNƠ
: Luật Nhà ở
QSH
: Quyền sở hữu
QSHNƠ
Nhà nƣớc ta đã đƣa ra các chính sách thông thoáng hơn cho phép ngƣời nƣớc
ngoài đƣợc phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Thời gian qua, Nhà nƣớc ta đã ban
hành và thay thế những văn bản pháp luật về các chính sách sở hữu nhà ở tại
Việt Nam của ngƣời nƣớc ngoài. Để mở rộng đối tƣợng ngƣời nƣớc ngoài đƣợc
mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, năm 2014, Quốc hội ban hành LNƠ với
nhiều quy định cởi mở, thông thoáng hơn về vấn đề này. Theo đó, đến nay trên
phạm vi cả nƣớc đã có hơn 750 trƣờng hợp ngƣời nƣớc ngoài đƣợc cấp giấy
1
chứng nhận (nhiều gấp gần 6 lần) so với 8 năm thực thi chính sách cũ theo Nghị
quyết số 19/2008/NQ-QH12 [4, tr.98].
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo báo cáo của Công ty CBRE Việt Nam,
quý 2/2018 vừa qua, trong tổng hơn 9.500 căn hộ đƣợc tiêu thụ, chiếm đến 59%
số lƣợng ngƣời nƣớc ngoài giao dịch. Trong số khách mua nhiều nhất là khách
mua từ Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong (Trung Quốc). Sản phẩm
mua chủ yếu là các căn hộ có 2-3 phòng ngủ, mục đích mua để ở. Khi LNƠ năm
2014 có hiệu lực cho đến nay, đã có hàng nghìn giao dịch thành công với khách
hàng là ngƣời nƣớc ngoài, đặc biệt tại các dự án ở quận 2, Thành phố Hồ Chí
Minh, tập trung tại khu vực Thảo Điền và Thủ Thiêm [11].
Đây đƣợc coi là sự thay đổi lớn so với những quy định cũ trƣớc đây về
việc ngƣời nƣớc ngoài muốn sở hữu nhà ở. Những quy định pháp luật hiện hành
nhƣ tạo một luồng gió mới vào thị trƣờng bất động sản, giải quyết đƣợc phần
nào tình trạng đóng băng “thị trƣờng bất động sản, cũng nhƣ thu hút một lƣợng
lớn nguồn tiền từ nƣớc ngoài đổ vào Việt Nam” [11, tr.12]. Ngoài ra, việc tạo
điều kiện cho ngƣời nƣớc ngoài mua nhà và định cƣ cũng bổ sung thêm một
lƣợng đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao về làm việc, tạo
tiền đề cho sự phát triển đất nƣớc. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực do
luật mang lại, một số quy định hiện hành và tình hình thực tiễn thực thi đối với
việc đảm bảo QSHNƠ cho ngƣời nƣớc ngoài vẫn còn nhiều vƣớng mắc, một số
nêu trên, tôi đã chọn chủ đề “Cấp giấy chứng nhận QSHNƠ cho ngƣời nƣớc
ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy đã có một số đề tài nghiên cứu liên quan
đến pháp luật về cấp GCNQSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam, tiêu biểu
nhƣ:
Tác giả Doãn Hồng Nhung (2010), Pháp luật về nhà ở cho ngƣời Việt
Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam, Sách chuyên
3
khảo, Nxb Xây dựng, Hà Nội. Cuốn sách nghiên cứu tổng quát các quy định của
pháp luật liên quan đến nhà ở của ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và
ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam nhƣ các hình thức sở hữu nhà ở, các giao dịch
nhà ở, thực trạng nhu cầu sở hữu nhà ở và đƣa ra các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về nhà ở. Thời gian vừa qua, Nhà nƣớc ta đã chú tâm hơn nữa tình hình sở
hữu nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc lâu dài, việc
ban hành LNƠ mới tạo một sức bật rất lớn cho thị trƣờng bất động sản. So với
luật cũ thì nay đã có sự chuyển biến lớn, chính vì điều này mà những vấn đề tác
giả này nghiên cứu đã cũ, không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay [21].
Tác giả Hoàng Tám Phi (2012), Pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của
ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Ở công trình này tác
giả tập trung làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo
đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc
ngoài có liên quan trực tiếp đến chính sách, pháp luật, so sánh đối chiếu với các
cam kết quốc tế về mở cửa thị trƣờng bất động sản, các cam kết thƣơng mại song
phƣơng giữa Việt Nam và các đối tác thƣơng mại. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên
cứu rộng tác giả chƣa đi sâu nghiên cứu về QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài mà
nƣớc ngoài, không đi vào nghiên cứu sâu các vấn đề về QSHNƠ của nhóm đối
tƣợng là ngƣời nƣớc ngoài. Ngoài ra, thời điểm mà đề tài nghiên cứu thì pháp
luật về nhà ở chỉ dừng lại ở chƣơng trình thí điểm cho ngƣời nƣớc ngoài mua
nhà nên việc nghiên cứu còn bó gọn trong những quy định cũ [18].
Một số bài viết trên các tạp chí uy tín nhƣ tác giả Doãn Hồng Nhung
(2005), “Hành lang pháp lý mới cho ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, tổ
chức cá nhân nƣớc ngoài sử dụng đất ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 01; Chu
Mạnh Hùng (2008), Chính sách mới về nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài tại Việt
Nam, Tạp chí nghề luật, số 03 [28]; Nguyễn Minh Hằng và Nguyễn Thị Thùy
Trang (2011), Một số vƣớng mắc về thẩm quyền cấp GCNQSDĐ, QSHNƠ và
tài sản khác gắn liền với đất cho ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, Tạp chí
5
Nghề luật, số 03 [15]; Nguyễn Văn Lộc (2013), Thực tiễn thi hành án dân sự đối
với cá nhân, tổ chức là ngƣời nƣớc ngoài tại Bình Dƣơng, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, Cơ quan của Bộ Tƣ pháp, số 10 (259) tr. 53 [20].
Các công trình nêu trên đã phân tích vấn đề về sở hữu nhà ở của ngƣời
nƣớc ngoài, pháp luật về cấp giấy chứng nhận QSHNƠ cho ngƣời nƣớc ngoài…
ở nhiều khía cạnh khác nhau, ngoài ra với sự chuyển biến của luật mới khi mở
rộng phạm vi ngƣời nƣớc ngoài đƣợc sở hữu nhà ở với cơ chế thông thoáng hơn,
cần nên có sự nhìn nhận, xem xét khách quan lại với tình hình thực tế để có đƣợc
một cái nhìn mới, gỡ những nút thắt đang tồn tại nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ
thống pháp luật Việt Nam, mà ở đây là những quy định pháp luật về QSHNƠ
của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam. Chính vì vậy, “Cấp GCNQSHNƠ cho
ngƣời nƣớc ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh”có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
Về không gian: Đề tài nghiên cứu các trƣờng hợp thực tiễn tại thành phố
Hồ Chí Minh
Về thời gian: Đề tài sử dụng các dữ liệu về cấp GCNQSHNƠ cho ngƣời
nƣớc ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lập trƣờng và quan điểm tiếp cận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về Nhà nƣớc và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về QSHNƠ
của ngƣời nƣớc ngoài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu nhƣ sau:
7
Tác giả đã sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phƣơng pháp phân tích, tổng
hợp các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu nhƣ tham khảo một
số công trình nghiên cứu trƣớc đó về pháp luật sở hữu nhà ở của ngƣời nƣớc
ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, sử dụng phƣơng pháp giải thích, đối chiếu,
phƣơng pháp tổng hợp để làm rõ các cơ sở lý luận, khái niệm liên quan và các
quy định của pháp luật Việt Nam trƣớc đây và hiện nay về vấn đề QSHNƠ của
ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam. Tác giả sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phƣơng
pháp so sánh các quy định của pháp luật về QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài giữa
các văn bản khác nhau, phân tích số liệu, thống kê kiến thức thực tế, bên cạnh đó
còn đi tìm hiểu tƣ liệu tại các cơ quan nhƣ Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh
về vấn đề cấp GCNQSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hiểu rõ hơn về sự đổi mới
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ
HỮU NHÀ Ở CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề chung về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
cho ngƣời nƣớc ngoài cho ngƣời nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm
Pháp luật Việt Nam cũng nhƣ pháp luật các quốc gia trên thế giới luôn xác
định sở hữu, QSH là vấn đề quan trọng của pháp luật dân sự. QSH có ý nghĩa
lớn trong đời sống kinh tế xã hội. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự
phát triển kinh tế, vì QSH chính là những gì mà pháp luật cho phép một chủ thể
đƣợc thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
QSH đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật từ Hiến pháp cho đến các
văn bản pháp luật khác, mà gần nhất đó là BLDS. Những quy định về QSH trong
các văn bản pháp luật này đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở định hƣớng cho các
quan hệ kinh tế, các quan hệ dân sự.
QSH là một trong những quyền cơ bản của mỗi ngƣời. Khi một ngƣời
đƣợc pháp luật công nhận là chủ sở hữu đối với một tài sản nào đó thì họ sẽ có
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó. Ngƣời nƣớc
ngoài khi mua nhà tại Việt Nam cũng vậy, khi trở thành chủ sở hữu hợp pháp
của căn nhà đó thì họ cũng nắm trong tay những quyền năng nhƣ thế đối với căn
nhà. Để tìm hiểu rõ QSH của ngƣời nƣớc ngoài khi mua nhà tại Việt Nam thì
vấn đề đặt ra trƣớc nhất là nghiên cứu về chế định sở hữu tài sản nói chung và
sau đó là chế định sở hữu nhà ở nói riêng [29, tr.28].
QSH là vấn đề xƣơng sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ
pháp luật dân sự về tài sản. Có thể nhận thấy tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn
trong viêc quy định về QSH [21]. Nhƣ vậy, pháp luật dân sự Việt Nam đã định
nhà ở, có quyền tặng cho, thừa kế, thế chấp, chuyển nhƣợng nhà ở… Cần lƣu ý
là pháp luật về nhà ở hiện nay có sự hạn chế nhất định đối với ngƣời nƣớc ngoài
11
thực hiện các quyền năng này so với ngƣời Việt Nam trong nƣớc và định cƣ ở
nƣớc ngoài. Chẳng hạn nhƣ, ngƣời nƣớc ngoài bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ
chức, cá nhân nƣớc ngoài thuộc diện đƣợc sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì bên
mua, bên nhận tặng cho chỉ đƣợc sở hữu nhà ở trong thời hạn còn lại, hay trƣờng
hợp ngƣời nƣớc ngoài tặng cho, thừa kế nhà ở thì chỉ đƣợc hƣởng phần giá trị
của nhà ở đó… [23]
Nhƣ vậy, QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam là quyền của chủ
sở hữu trong việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản - nhà
ở thuộc sở hữu của mình. Ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam có đầy đủ quyền năng
của chủ sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) nhƣng
phải tuân theo quy định riêng và có những điểm hạn chế hơn so với công dân
Việt Nam hoặc ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài.
1.1.1.2. Đặc điểm
QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài so với QSHNƠ của ngƣời Việt Nam thì có
những đặc điểm riêng và đặc biệt hơn ở một số điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, chủ thể của QSHNƠ này là ngƣời nƣớc ngoài. Tuy nhiên, đối
tƣợng ngƣời nƣớc ngoài phải đáp ứng những điều kiện theo quy định của pháp
luật về nhà ở nhƣ LNƠ năm 2014 và Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày
20/10/2015 của Chính phủ. Không phải ngƣời nƣớc ngoài nào cũng đƣợc mua và
sở hữu nhà ở tại Việt Nam, chỉ có những đối tƣợng đƣợc quy định theo hai văn
bản trên mới đƣợc mua và sở hữu nhà ở [24]. Những đối tƣợng này phải có một
số giấy tờ chứng minh thuộc đối tƣợng đƣợc mua và sở hữu nhà ở và đáp ứng
đầy đủ điều kiện nhƣ: Hộ chiếu, thẻ thƣờng trú, thẻ tạm trú, giấy chứng nhận đầu
tƣ... Ngoài ra, chủ thể này còn phải đáp ứng một số điều kiện khác khi mua nhà
ở [14].
thuận lợi hơn. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng xác định đƣợc ai là ngƣời
chiếm hữu ngôi nhà, có thể do chủ sở hữu ủy quyền hay thực hiện một giao dịch
dân sự hoặc các trƣờng hợp khác. Trong trƣờng hợp chủ sở hữu là ngƣời nƣớc
ngoài ủy quyền quản lý nhà ở cho ngƣời khác thì ngƣời đƣợc ủy quyền phải có
trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn trong phạm vi, cách thức, thời hạn do chủ
sở hữu xác định. Cả hai bên phải thực hiện đúng theo pháp luật quy định để
tránh tình trạng ngƣời đƣợc ủy quyền trục lợi từ việc chiếm hữu nhà ở này hoặc
13
trong trƣờng hợp cả hai bên thực chất đã chuyển QSH nhƣng trên danh nghĩa là
hợp đồng ủy quyền. Bên cạnh trƣờng hợp ủy quyền thì ngƣời chủ sở hữu là
ngƣời nƣớc ngoài đƣợc quyền giao tài sản là nhà ở của mình thông qua giao dịch
dân sự mà nội dung của giao dịch phải đảm bảo không bao gồm việc chuyển
QSH. Khi đó ngƣời đƣợc giao nhà thực hiện quyền chiếm hữu nhà ở phải phù
hợp với mục đích và nội dung của giao dịch dân sự trên. Ngƣời đƣợc giao có
quyền sử dụng nhà ở, đƣợc chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng nhà ở này cho
ngƣời khác, nếu đƣợc chủ sở hữu này đồng ý.
Tóm lại, chủ sở hữu nhà ở là ngƣời nƣớc ngoài có quyền chiếm giữ, quản
lý nhà ở của mình. Ngoài ra, chủ sở hữu này cũng có thể ủy quyền quản lý nhà ở
hoặc giao nhà ở của mình thông qua giao dịch dân sự cho một ngƣời khác theo
đúng quy định của pháp luật.
(2) Quyền sử dụng nhà ở
Theo Điều 189, BLDS năm 2015 thì quyền sử dụng là quyền khai thác
công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản [21]. Chủ sở hữu là ngƣời nƣớc
ngoài hoặc một số cá nhân khác có quyền sử dụng nhà ở thì khi đó ngƣời này có
quyền khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ nhà ở. Trong trƣờng hợp
chủ sở hữu này thực hiện quyền sử dụng nhà ở thuộc sở hữu của mình thì chủ sở
hữu đƣợc khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản là nhà ở theo ý
chí của mình nhƣng không đƣợc gây thiệt hại hoặc làm ảnh hƣởng đến lợi ích
QSHNƠ hoặc từ bỏ QSH đối với nhà ở của mình theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
1.1.2.2. Ý nghĩa quyền sở hữu nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài
Từ khi pháp luật Việt Nam quy định về “QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài
tại Việt Nam” thì trong nhiều lĩnh vực đã có rất nhiều tác động tích cực lẫn tiêu
cực. Tuy nhiên, dù cho QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài mang đến cho Việt Nam
những tác động gì thì những năm qua nó đã mang lại một ý nghĩa lớn cho các
lĩnh vực sau:
(1) Đối với thị trƣờng bất động sản và nền kinh tế của quốc gia
QSHNƠ là hệ quả của một quá trình tạo lập nhà ở, mua bán nhà ở hoặc
nhận thừa kế… và chủ sở hữu đƣợc công nhận quyền này thông qua
GCNQSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất. Nhà ở chính là tài sản lớn
15
mà chủ sở hữu luôn muốn có và đƣợc công nhận bằng QSHNƠ đó. Đặc biệt, đối
với QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài cũng là một quyền khá đặc biệt bởi chủ sở
hữu nhà ở không phải là ngƣời Việt Nam nhƣ trƣớc đây. Từ đây có thể thấy
trong thị trƣờng bất động sản Việt Nam không chỉ có ngƣời Việt Nam mà còn có
sự xuất hiện của ngƣời nƣớc ngoài.
Theo báo cáo tổng kết về hiệu quả Luật Kinh doanh Bất động sản của Bộ
Xây dựng năm 2013 thì hoạt động kinh doanh bất động sản đã có những bƣớc
phát triển mạnh, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tƣ trong nƣớc và ngoài
nƣớc. Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào lĩnh vực bất động sản cũng tăng cao. Từ
báo cáo này đã cho ta thấy đƣợc những năm trƣớc đây thì thị trƣờng bất động
sản đã có sự đầu tƣ từ nƣớc ngoài, mà nhất là nguồn vốn đầu tƣ khá lớn do
những chính sách ƣu đãi khá hấp dẫn từ Luật Kinh doanh Bất động sản 2006
cũng nhƣ LNƠ năm 2005 [11] [18].
Có thể thấy, thị trƣờng bất động sản từ năm 2005 đến nay có nhiều
chuyển biến và đáng chú ý. Chính sách cho ngƣời nƣớc ngoài sở hữu nhà ở tại
nƣớc ta và ngƣợc lại.
Chính từ chính sách trao QSHNƠ cho ngƣời nƣớc ngoài mà quan hệ hợp
tác song phƣơng giữa các nƣớc trở nên sâu sắc hơn và vững mạnh hơn. Có thể
nhìn nhận rằng QSHNƠ của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam là bƣớc khởi đầu
cho mối quan hệ hợp tác giữa các nƣớc.
(3) Đối với môi trƣờng sống và làm việc tại Việt Nam cho ngƣời nƣớc
ngoài
Môi trƣờng sống và làm việc là nơi mà con ngƣời mong muốn có và nơi
đó càng an toàn và lành mạnh thì càng thu hút sự quan tâm của nhiều ngƣời. Việt
Nam là một trong những quốc gia có một môi trƣờng khá tốt, bằng chứng là du
lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng rất phát triển. Khái niệm môi trƣờng sống và làm việc
còn có một ý nghĩa khác đó là sự ảnh hƣởng từ những chính sách pháp luật của
cơ quan nhà nƣớc thoáng hơn cũng thể hiện môi trƣờng này có nhiều thu hút hay
không. Chính sách cho ngƣời nƣớc ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam hiện tại đã
có những điểm ƣu đãi hơn rất nhiều so với những năm trƣớc đây. Điều đó đã tác
động đến tâm lý mua và sở hữu nhà ở của nhiều ngƣời nƣớc ngoài và tạo một
17