Sau đây sẽ là mục lục những nhà Toán Học có trong topic này:
Trang 3
- Nguyễn Cảnh Toàn
- John VON NEUMANN
- Blaise PASCAL
- EUCLIDE
- Alan Mathison TURING
- Pierre FERMAT
- DÉMOCRITE of d'Abdère
- Colin MACLAURIN
- David HILBERT
- Albert EINSTEIN
- Tại sao không có giải NOBEL cho ngành Toán ?
- Lịch sử về phương trình bậc ba
- Karl Theodor Wilhem WEIERSTRASS
- John NAPIER (NEPER)
- Georg Friedrich Bernhard RIEMANN
- Francois VIÈTE
- Augustin-Louis CAUCHY
- Leonhard EULER
- John Charles FIELDS và Giải FIELDS
Trang 4
- Danh mục các nhà Toán học đạt Giải FIELDS (1936 - 1998)
- Ngô Bảo Châu (Giải thưởng Toán học Clay 2004)
- Lê Tự Quốc Thắng
- Julius Wilhelm Richard DEDEKIND
- George BOOLE
- Gaspard MONGE
- Hermann MINKOWSKI
- Arthur CAYLEY
- Winifred Edgeton MERRILL
học của chúng tôi, hay so sánh với con nhà hàng xóm, cứ mỗi lần học là cụ lại
ngồi gần đấy “theo dõi”. Hồi đó, chúng tôi xếp thứ theo từng tháng, hễ tháng
nào tôi kém là phiền với cụ, cụ dầy dà suốt. (Chính vì thế mà sau này, cả bốn anh em nhà ông thì hai
người là GS.TSKH, một người là GS.TS, một người là TS...
Tuy vậy, khi học bậc tiểu học, cậu bé Nguyễn Cảnh Toàn cũng chỉ vào loại khá chứ chưa xuất sắc, chưa
tỏ ra có năng khiếu gì, chỉ một lần duy nhất cậu được tuyên dương môn… văn. Tốt nghiệp tiểu học, cậu
lên học ở Quốc học Vinh bậc thành chung. Thời gian này, năng khiếu về môn toán của cậu bộc lộ rất
rõ, bởi tính cậu hay tò mò, muốn hiểu cặn kẽ mọi vấn đề, nên khi học, cậu là người rất hay hỏi, nhiều
khi không thoả mãn cậu tìm những sách tham khảo để đọc thêm. Dần dần, cậu đã xếp thứ nhất trong
lớp. Hồi đó, Nguyễn Cảnh Toàn trọ học cùng một anh lớp trên, thấy anh này học toán có nhiều điều mà
lớp dưới chưa học đến, cậu thích lắm, lân la mượn sách xem, ấy thế chẳng mấy chốc cậu giải được cả
những bài toán lớp trên. Một lần cậu đi tàu hoả, bỗng nảy ý tò mò muốn tính vận tốc tàu ra sao. Cậu
nhìn ra những cột cây số bên đường, tính toán thời gian đi tiếp sang cột cây số khác là mấy phút, thế
là biết được vận tốc tàu. Nhưng có những đoạn đường không có cột cây số thì làm thế nào mà tính
được? Cậu để ý thấy mỗi khi bánh sắt tàu nghiến trên thanh ray, đến khoảng nối giữa hai thanh thì
phát ra một tiếng “kịch”, cậu đo độ dài một thanh ray rồi đếm tiếng động trong một phút, vậy là biết
vận tốc tàu… đại khái cứ tự mày mò như vậy mà cậu học môn toán rất giỏi. GS, Nguyễn Cảnh Toàn kể,
tôi học giỏi được còn là do thầy giáo Đinh Thành Chương rất quý tôi (thầy Chương dạy cả 4 môn toán,
lý, hoá, sinh) hễ thầy có quyển sách mới nào cũng gọi tôi đến cho mượn (thầy thường đặt mua sách
bên Pháp). Tác động của việc này, theo tôi là lớn lắm, vì thầy cho mượn sách thì buộc mình phải đọc
kỹ, kẻo khi thầy hỏi còn biết đường trả lời. Thầy Chương nhiều lần tuyên dương Toàn trước lớp rằng:
“Toàn không phải thần đồng, nhưng biết cách học, các trò phải theo gương Toàn”.
Tốt nghiệp xuất sắc bậc thành chung, Nguyễn Cảnh Toàn vào Huế học tiếp bậc tú tài ở Quốc học Huế.
Hồi đó, bậc tú tài chia làm hai phần: học xong hai năm đầu, thi đậu gọi là tú tài bán phần, sau đó học
tiếp một năm, thi đậu sẽ là tú tài toàn phần. Năm thứ ba này, chỉ có hai phân ban là triết và toán.
Nghe nói học ở phân ban toán sẽ được học tới bẩy môn toán là Hình học; Số học; Lượng giác; Đại số;
Cơ học; Hình học hoạ hình; Thiên văn, Toàn thấy lạ lắm và háo hức muốn học ngay những môn đó
xem sao. Thế là Toàn nảy ý định “nhảy cóc”. Những ngày nghỉ, cậu tự học chương trình của năm thứ
hai, cuối năm đó, cậu đăng ký dự kỳ thi tú tài bán phần (hồi ấy quy chế dự thi rất thoáng, ai đủ khả
năng cứ việc đăng ký, không cần học tuần tự từng lớp). Nguyễn Cảnh Toàn đã đỗ xuất sắc và vào học
khoáng hậu” ở Việt Nam ta, bởi vì, cả nước chỉ có một mình Nguyễn Cảnh Toàn dự thi. Ba vị giám khảo
là Đặng Phúc Thông, Nguyễn Thúc Hào và Phó Đức Tố chấm cho một thí sinh. Nguyễn Cảnh Toàn đã
vượt qua tất cả các nội dung thi và đỗ. Năm sau, ông được tín nhiệm mời làm giám khảo kỳ thi toán
đại cương. Kỳ thi này cũng chỉ có hai người thi là ông Hoàng Tuỵ và ông Nguyễn Văn Bàng. Cả hai đều
đỗ, riêng ông Tuỵ đỗ loại giỏi.
Năm 1951, ông được điều đi dạy đại học (là giáo viên phổ thông đầu tiên lên dạy đại học). Hồi ấy,
trường đại học của Việt Nam gọi là Dục tài học hiệu đóng nhờ ở Nam Ninh (Trung Quốc). Dục tài học
hiệu chỉ có hai khoa là Sư phạm cao cấp và Khoa học cơ bản. Cả trường chỉ có 9 giáo viên dạy 127 sinh
viên. Đến năm 1954 giải phóng Thủ đô, Dục tài học hiệu chuyển về Hà Nội và tổ chức thành hai
trường: ĐH sư phạm khoa học tự nhiên và ĐH sư phạm khoa học xã hội. Số lượng giáo viên vẫn rất ít,
bởi thế, chủ trương của ta hồi ấy là chỉ đặt mục tiêu dạy học là chính, chứ không nghiên cứu khoa học.
Thầy giáo Nguyễn Cảnh Toàn là người đầu tiên xông vào nghiên cứu khoa học. Ông lặng lẽ làm đề tài,
khi có kết quả kha khá, ông báo cáo lên ông Lê Văn Thiêm là Hiệu phó, Chủ nhiệm khoa Toán, Tiến sỹ
ở Pháp về. Ông Thiêm cho đem công trình ra báo cáo trước khoa, nhưng sau rồi đề tài cũng bỏ đó, bởi
không ai biết đánh giá ra sao. Năm 1957, Bộ Giáo dục cho 9 thầy giáo đi thực tập sinh ở Đại học
Lômônôxôp (Liên Xô) trong đó có thầy Nguyễn Cảnh Toàn. Ông Toàn nảy ý định đem đề tài của mình
sang Liên Xô xem người ta đánh giá thế nào. Vì chưa biết tiếng Nga, ông viết bằng tiếng Pháp. Ông
đưa cho một vị giáo sư toán học của Đại học Lômônôxôp xem, hai tháng sau ông này gặp Nguyễn
Cảnh Toàn bảo: đề tài của anh rất tốt, xứng đáng làm luận án Phó Tiến sỹ. Được sự hướng dẫn của vị
giáo sư đó, ông viết lại luận án bằng tiếng Nga và đi báo cáo ở các trường đại học. Ngày 24/6/1958, tại
Đại học Lômônôxôp đã diễn ra buổi bảo vệ đề tài PTS của một người Việt Nam đầu tiên. Buổi bảo vệ đã
thành công. Về nước, ông làm chủ nhiệm Khoa toán của Đại học Sư phạm. Vừa dạy học, ông lại tiếp
tục nghiên cứu khoa học. Năm 1963, ông đã viết xong luận án tiến sỹ, nhưng cũng như lần trước, ông
không biết liệu công trình của mình có giá trị không . Được ông Tạ Quang Bửu động viên rằng, cứ gửi
sang Liên Xô để người ta thẩm định xem sao. Ông gửi, thế là được mời sang bảo vệ. Từ lúc gửi đến lúc
bảo vệ thành công chỉ có ba tháng.
Câu chuyện của chúng tôi còn dài dài. Sợ ông mệt (ông vừa đi mổ mắt về), tôi xin phép ra về. Ông
dặn: Anh là nhà báo, phải làm sao tuyên truyền quảng bá mạnh cho sự tự học. Lâu nay, chúng ta mất
sự tự học, do việc dạy thêm, học thêm tràn lan, xói mòn nội lực tự mày mò nghiên cứu. Học trò bây
giờ thụ động quá, đi học chỉ nhăm nhăm những nội dung thi cử, cái khác thì bỏ qua. Cứ thế này thì
nhiều đề án khác nhau.
Công việc này đã khiến ông xem xét đến việc sử dụng các thiết bị cơ khí để tính toán. Dů những câu
chuyện về von Neumann thường nói rằng chiếc máy tính đầu tięn ông tiếp xúc là ENIAC nhưng thực sự
đó lŕ chiếc máy tính Mark I của Howard Aiken tại trường Ðại học Harvard. Các hoạt động của ông năm
1944 cũng cho thấy lŕ ông không chỉ quan tâm đến công việc của Aiken mŕ còn quan tâm đến các máy
tính rờ-le điện từ của George Stibitz vŕ công việc của Jan Schilt tại phòng thí nghiệm máy tính tại
trường Ðại học Columbia tại Watson.
Những năm sau của chiến tranh thế giới thứ hai, von Neumann đóng vai trň cố vấn luật pháp, phục vụ
trong một số hội đồng quốc gia, vŕ vận dụng tài năng thiên phú của mình khi ông nhanh ****ng tìm ra
giải pháp của mọi vấn đề phức tạp nảy sinh trong tổ chức.Nhờ vào điều này, ông đã trở thành một mối
nối quan trọng giữa các nhóm khoa học gia thời bấy giờ (hoạt động của các nhóm này được giữ tuyệt
mật). Ông là người đã phối hợp được nhu cầu của phňng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (và đề án
Manhattan) với khả năng của những kỹ sư thế hệ đầu tięn tại khoa Ðiện tử của trường Ðại học Moore.
Chính những kỹ sư này đã xây dựng ENIAC và sau này trợ giúp chính ông xây dựng chiếc máy IAS. Các
"siêu máy tính" được phòng thí nghiệm quốc gia xây dựng sau này là những bản sao của chiếc máy của
ông.
Sau chiến tranh, von Neumann chú tâm đến việc phát triển viện nghięn cứu máy tính IAS và các chi
nhánh trên khắp thế giới. Công việc của ông cùng với nhóm Los Alamos vẫn tiếp tục và ông tiếp tục
nghiên cứu phát triển khả năng của máy tính nhằm đáp ứng các nhu cầu tính toán cho việc giải quyết
nhiều bŕi toán năng lượng hạt nhân lięn quan đến bom hydro.
Quan điểm của ông về kiến trúc máy tính đă dẫn đến kiến trúc hạ tầng máy tính rất nổi tiếng thường
được gọi lŕ "kiến trúc von Neumann". Thông qua bảng báo cáo với đầu đề "First Draft of a Report on
EDVAC" (năm 1945) được viết chủ yếu bởi von Neumann, ông đă giới thiệu với ngành công nghiệp lúc
đó những thành phần cơ bản của khái niệm chương trình máy tính. Máy EDVAC được xem là máy tính
có chương trình đầu tiên. Sau này, tại trường Ðại học Moore vào năm 1946, Maurice Wilkes cùng với
phòng Thí nghiệm Toán học của trường Ðại học Cambridge đã thai nghén một thiết kế riêng của mình
về chiếc máy EDSAC, sau này trở thành một máy tính có chương trình được lưu trữ đầu tięn thực sự
hoạt động hiệu quả.
Vào những năm 1950, von Neumann được IBM mời lŕm tư vấn để xem xét tính khả thi của những đề
án kỹ thuật cao sắp được triển khai. Cứ mỗi tuần một ngŕy, von Neumann tổ chức ra một "tòa án" tại
bài toán rất khó đối với người lớn, không phải dành cho trẻ em 12 tuổi. Pascal đã chứng minh được
rằng tổng số các góc trong một tam giác bằng hai góc vuông, đúng như Euclide đã từng phát biểu.
Cũng vì chưa từng học Hình Học, Pascal đã gọi đường tròn là "cái tròn" (un rond), đường thẳng là "cái
thước kẻ" (une barre). Từ đây, Pascal mới được cha cho phép đọc các cuốn khái luận của Euclide. Do trí
thông minh sẵn có, Pascal đọc tới đâu, hiểu tới đó mà không cần một ai giảng giải. Cậu còn giải được
nhiều bài toán khó. Sự tự tìm hiểu do ý thích đã khiến Pascal chẳng bao lâu trở thành một nhà toán
học có hạng.
Thời bấy giờ, ông Etienne thường gặp gỡ nhiều nhân vật danh tiếng về Khoa Học nên Pascal cũng được
tham dự vào các buổi hội thảo, cậu được làm quen với Cha Mersenne là một nhà bác học thời đó, cũng
như với những nhà khoa học danh tiếng khác, chẳng hạn như Desargues, Fermat, Roberval. Tại các
buổi họp này, Pascal đã góp ý kiến về các tư tưởng, các lý luận, các lời phê phán những tác phẩm của
các nhà bác học đương thời. Cậu cũng trình bày những điều do mình khám phá.
Theo phương pháp Hình Học của Desargues, Pascal đã hoàn thành cuốn "Khảo Sát về Thiết Diện Côníc"
(Traité des sections coniques, 1640) khi chưa tới 16 tuổi. Tác phẩm này bao gồm các công trình của
Apollonius, nhưng đã được Pascal tự tìm ra và lại chứng minh bằng một phương pháp luận lý vừa đơn
giản hơn, vừa tổng quát hơn. Tác phẩm của Pascal đã khiến rất nhiều nhà toán học tài ba đương thời
phải khâm phục, kể cả Cha Mersenne và Descartes, và ai cũng đồng ý rằng cuốn sách đó xứng đáng là
công trình của một bậc thầy chứ không phải là của một thiếu niên chưa đủ 16 tuổi. Nhiều người đã
thúc dục Pascal đưa in tác phẩm nhưng do lòng khiêm tốn, cậu đã từ chối vì vậy ngày ngay người ta
chỉ còn lưu giữ được hai cuốn sách đầu tay của nhà thiên tài toán học Pascal.
Năm 1638, khi chính phủ Pháp ra lệnh giảm bớt lợi tức của Tòa Đô Chính Paris, một nhóm người đã
đứng lên phản đối trong đó có người cha của Pascal. Vì vậy ông Etienne bị Thủ Tướng Richelieu cho
người theo dõi và phải trốn về miền Auvergne. Lúc bấy giờ, Pascal 15 tuổi và cô em gái Jacqueline 13.
Giống như anh trai, Jacqueline cũng nổi tiếng là một thần đồng về thơ văn. Khi lên 11 tuổi, Jacqueline
đã sáng tác được một kịch thơ 5 hồi và tác phẩm thơ này đã được giới văn nghệ Paris ưa chuộng. Rất
nhiều người và ngay cả Thi Hào Corneille đều ưa thích đọc thơ của Jacqueline.
Nhờ tài năng về Thơ Phú, Jacqueline được phép đóng kịch trước Hồng Y Giáo Chủ Richelieu. Vị Thủ
Tướng này đã không tiếc lời khen ngợi cô bé và hỏi thăm về gia cảnh. Nhân lúc này, Jacqueline liền
ngâm một bài thơ xin ân xá cho cha và Thủ Tướng đã nhận lời. Ông Etienne nhờ vậy được phép trở lại
Paris và lại được cử giữ chức vụ Giám Đốc Thuế Vụ miền Rouen. Nhưng trách nhiệm này làm ông
thăm này khiến cho Pascal cảm thấy "ghê tởm cực độ các sự giả dối của đời người". Sự bất toại nguyện
càng tăng thêm cho tới khi "đêm lửa" xẩy đến, làm thay đổi hẳn cuộc sống cũ của Pascal. Chính vào
đêm 23 tháng 11 năm 1654 đó, trong khi đang khảo cứu Toán Học, Pascal cảm thấy như được đối
thoại cùng Thượng Đế trong hai tiếng đồng hồ. Pascal thấy mình đã nhận lãnh một chức vụ thiêng
liêng, rồi vì quá xúc động, ông nguyện hiến cả đời mình cho Thượng Đế và quyết tâm làm tỏ đức tin nơi
Đấng Chí Tôn.
Vào năm 1655, Antoine Arnauld, nhà thần học chính thức của Port Royal bị các nhà thần học Sorbone
kết án, nhất là về lối tu khổ hạnh (Jansenism) đối với Chúa Cứu Thế. Có lẽ do chính Arnauld khuyến
dụ, Pascal đã viết ra các bức thư Provinciales. Lối hành văn cũng như cách tranh luận của Pascal qua
tác phẩm này đã quyến rũ được dân chúng Paris, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng Giêng năm
1656 tới tháng 4 năm 1657. Khi sống tại Port Royal, Pascal được mời viết cho nhà trường các bài giảng
về Hình Học, có lẽ vì lý do này, Pascal đã viết nên cuốn "Phương Pháp chứng minh Hình Học" (On
Geometrial Demonstrations).
Thời còn thơ ấu, thể chất của Pascal rất mỏng manh, nên khi lớn lên, tình trạng sức khỏe của ông cũng
không được khá. Vào năm 1658, Pascal lại bị chứng đau răng hành hạ và vì muốn tìm quên nỗi đau
nhức, Pascal quay ra làm Toán. Ông nghiên cứu hình học Cycloide, là thứ hình học đang được Roberval
và các nhà toán học đương thời khảo sát. Pascal đã tìm ra được nhiều tính chất quan trọng nhưng vì
muốn chứng tỏ các điều khám phá của mình có thể giải đáp được nhiều bài toán hắc búa, Pascal đề
nghị một cuộc thách đố vói các nhà toán học. Nhiều người đã nhận lời trong đó có Wallis và Laouère,
nhưng rồi chỉ có Pascal cho ra các kết quả hoàn toàn.
Càng về cuối đời, Pascal càng sống khổ hạnh. Sau khi đứa cháu của ông được cứu khỏi tại Port Royal
và được mọi người coi là một sự huyền diệu, Pascal chuyên tâm đọc sách và kiếm tài liệu để viết nên
cuốn sách "Biện hộ cho Thiên Chúa Giáo" (Apology for the Christian Religion) mà sau này, tác phẩm đó
được phổ biến sau khi ông qua đời dưới tên là "Tư Tưởng" (Pensées).
Tháng 6 năm 1662, Pascal đem nốt căn nhà ở tặng cho một gia đình nghèo đang mắc bệnh đậu mùa. Ông
dọn tới ở nhờ người chị gái Gilberte. Tại nơi này, Pascal bị ốm nặng và cơn bệnh còn hành hạ ông trong
hai tháng. Pascal qua đời vào ngày 19 tháng 8 năm đó, hưởng thọ 39 tuổi.
Năm 1962, cả nước Pháp đã làm lễ kỷ niệm 300 năm ngày húy kỵ của Blaise Pascal, nhà bác học kiêm
triết gia kiêm văn sĩ. Để ghi nhớ bậc Vĩ Nhân Khoa Học này, người ta đã phát hành tem thư, tổ chức
các buổi thuyết trình về Triết Học, Toán Học và Văn Chương. Nhiều phòng triển lãm đã trưng bày các
rối.
Tuy vậy, ông cũng thi đậu vô trường King's College tại Cambridge. Tại đây ông phát triển tài năng vì
nhờ nơi này không ai chế nhạo sự đồng tính luyến ái và bề ngoài khác biệt của ông. Tại trường, mỗi
người giữ cá tính của riêng mình, ai sao mặc ai. Alan tóc tai quần áo bê bối và thường không cạo râu,
thích đạp xe đạp và đeo cái đồng hồ nơi thắt lưng để coi thời gian đạp xe và với một mặt nạ phòng khí
độc đeo trên mặt để phòng dị ứng phấn hoa (hay fever). Ngoài việc chơi thể thao cấp cao (chạy bộ),
Alan còn thích những công trình về cơ học lượng tử của John Von Neumann.
Cho dù ông lập dị, nhưng khả năng toán học rực rỡ và những việc làm của ông thật đặc sắc. Năm 1924
Turing in một bài báo chứng tỏ rằng toán luôn chứa những trạng thái mà không thể chứng minh hay bị
bắt bẻ. Ngoài lý luận trên, ông dự tính một cái máy có thể tính bất cứ con số nào. Cái máy đó bao gồm
một bộ phận điều khiển (control unit) và một bộ nhớ, có thể hoàn thiện nhiều thao tác cơ bản: đọc,
viết hay xóa những ký hiệu trên băng (tape), và cho băng chạy tới hay chạy lui. "Máy Turing" đơn giản
này dùng làm mẫu cho các máy tính số sau này.
Ông cũng thích môn sinh học, đặc biệt là mạng nối giữa các dây thần kinh. Ông tự hỏi: "Tại sao các
máy quá tài tình trong việc tính toán mà lại hạn chế sự mô phỏng những hành động tự nhiên giản dị
nhất của người như đi, cầm cái ly...)?"
Trước tuổi 30, ông đã tưởng tượng những căn bản cho một máy tính số (digital computer) tân kỳ và
dẫn đầu về lý thuyết cơ bản cho thông minh nhân tạo (artificial intelligence).
Là người phát minh tư tưởng một cái máy vạn năng (universal machine) , tìm ra lý do quan trọng tại
sao một máy tính có thể làm rất nhiều chuyện. Tiếc thay Turing không còn sống để thấy sự tiến triển
khổng lồ của ngành thông tin, máy tính. Nhà toán học người Anh này sống trong hai thế giới khác
nhau.
Máy ColossusTrước công chúng, ông là một nhà toán học tài ba, đã giúp Thế giới đại chiến lần II thắng
nhờ giải được các mã số của phe Đức. Còn bên trong, Turing là một người nhát gan, hay mắc cỡ, lập dị
và bị đối xử tàn bạo do cách sống riêng biệt của ông đã đưa ông đến cái chết đau thương lúc 41 tuổi.
Năm 1935, ông hiệu chính khái niệm một máy vạn năng để hình thức hóa khái niệm toán giải bằng
algorithme. Máy của Turing có khả năng cả một quá trình algorithme. Những máy tính hiện đại là
những thực hiện cụ thể máy của Turing.
John von NeumannNăm 1936, Turing đến Princeton University, nơi này ông lấy bằng PhD Toán học và
làm việc với nhà toán học người Mỹ gốc Hongrie là John von Neumann (1903-1957), nổi tiếng nhờ Cơ
Vì thất vọng, ông đã ăn một trái táo có tẩm cyanur và mất đúng ngày lễ Pentecôte 7 tháng 6 năm
1954 tại Wilmslow, England.
Pierre de Fermat
Pierre de Ferma (1601-1665) nhà toán học Pháp đã thách đố những bộ óc nhân loại trong 358
năm bằng định lý cuối cùng của ông
1/ Tiểu sử:
Pierre Fermat sinh ngày 17 tháng 8, 1601 tại Beaumont-de-Lomagne
thuộc Tarn-et-Garonne. Xuất thân từ một gia đình thương gia khá giả, ông
theo học ở Toulouse và có cử nhân luật dân sự.
Nguyên văn tờ khai sinh của Pierre:
« Pierre, fils de Dominique Fermat, Bourgoys et segont consul de la ville
de Beamont, a esté baptisé le 20 août 1601, parrin Pierre Fermat,
marchant et frère dudit Dominique, marrine Jeanne Cazeneuve, par moy
Dumas vicaire »
Năm 1630 ông làm cố vấn cho vua tại Phòng thỉnh cầu (Chambre des requêtes) tại Pháp viện
(Parlement) Toulouse và kể từ năm 1648 ông được giữ những chức vụ quan trọng hơn tại Phòng hình
sự (Chambre criminelle) và Grand' Chambre. Từ năm 1648 ông trở thành hội viên Phòng Khiếu nại tại
Castres (Chambre de l'Edit de Castres) mà vai trò là giải quyết những tranh chấp giữa những người Hồi
giáo và Thiên chúa giáo.
Andrew Wiles, người đã giải đáp định lý cuối cùng của Fermat, một thách đố đã
làm bối rối biết bao bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại trong suốt 358 năm
Chức vụ chánh án (magistrat) bảo đảm cho ông lương bổng dồi dào cùng với miếng đất 140 mẫu tây
để trồng trọt. Và cũng nhờ chức vụ cao ở Pháp viện mà họ ông được thêm chữ "de" quí tộc và tên ông
từ đó là Pierre de Fermat.
2/ Fermat không phải là nhà toán học chuyên nghiệp
Người ta đã biết nhiều đến Fermat qua việc làm cùng các công trình nghiên cứu của ông và sự giao
dịch giữa ông với những nhà trí thức đồng thời với ông. Vào thế kỷ thứ 17, đã có một sự phát triển
nhanh chóng về khoa học và văn hóa, đưa đến nhiều phát minh trong đó có những khám phá của
Fermat. Tuy nhiên thế giới khoa học lúc đó chưa được tổ chức, và chưa có nghề chuyên về toán học.
Fermat cũng như những nhà thông thái đồng thời với ông khi đó, không phải là một nhà toán học
không có nghiệm số với x, y, z >0 và n>2
Tác phẩm này Fermat viết và con trai ông đã in ra ngay sau khi ông mất.
Tóm lại, Fermat là nhà đại toán học không chuyên nghiệp nhưng đã để lại cho nhân loại rất nhiều:
3/ Những công trình của Fermat
*** Tổng quát
Ông phát minh ra rất nhiều thuyết.
Chúng ta chỉ biết về các công trình và những ý tưởng của ông nhờ những lời dẫn giải trong các tác
phẩm của ông và rất nhiều thư từ ông đã viết cho các nhà bác học đồng thời với ông. May thay,
Samuel-Clément Fermat đã ráng tìm giữ lại được những tài liệu đó. Nên một phần tác phẩm của
Fermat đã được in ra vào cuối thế kỷ thứ 17, rồi tái bản vào thế kỷ thứ 19. Và đang dần dần tái bản trở
lại.
Không có tác phẩm nào được in ra trong lúc Fermat còn sống. Người ta tìm lại được bài viết về hình
học được ra mắt năm 1660, phụ bản của quyển viết về cycloïde và ký những chữ cái đứng đầu của tên
ông, do cha đạo Antoine de Laloubère in tại Toulouse.
Năm 1670, năm năm sau khi cha mất, Samuel Fermat cho ra mắt quyển Diophante của Bachet de
Méziriac chính tay Pierre Fermat chú giải cùng với một số thư từ của ông.
Năm 1675 các kết quả của nghiên cứu của học được Christiaan Huygens (1629 ; 1695) in ra trong tác
phẩm "De ratiociniis in ludo aleae".
Năm 1679, Samuel in ra dưới tựa đề Varia Opera Mathématica, những tác phẩm của cha mà ông đã
gom góp lại.
Đầu thế kỷ thứ 19, người ta chép lại những bài viết của Fermat đã giữ lại được từ thời Marin Mersenne
(1588 ; 1648) đem cất tại tu viện Minimes Paris. Phải đợi cuối thế kỷ 19, hơn 230 năm sau khi ông
mất người ta mới tìm thất tất cả những tác phẩm của Fermat. Mặc dù từ khi được tin ông mất, những
người cùng thời đã có ý quan tâm đến sự lưu trữ những công trình nghiên cứu của ông. Như thư của
Christiaan Huygens (1629 ; 1695) viết cho Pierre de Carcavi (1600-1684): "J'espère cependant qu'on
ne laissera pas perdre ce qu'il reste de ses écrits, et puis que vous avez toujours esté de ses intimes
amis, je ne doute pas que vostre intervention auprès de ses héritiers ne soit de grande efficace pour
tirer de l'obscurité de si excellentes reliques".
Năm 1843, bộ trưởng bộ văn hóa cho ra một dự án in toàn bộ tác phẩm của Fermat bằng ngân quỹ
nhà nước.
e) Định lý nhỏ của Fermat
f) Định lý cuối cùng của Fermat:
Năm 1840, tất cả các giả định đều được chứng minh hay không đúng
Trừ một : giả định gọi là định lý lớn của Fermat đã được Andrew Wiles giải tháng 9 năm 1994
Một hệ thức chỉ diễn tả một cách giản dị là
X
n
+ Y
n
= Z
n
Không có một lời giải nào khi n là số nguyên và n > 2
Công thức chính xác:
Nếu n là một số nguyên lớn hơn 2; đẳng thức X
n
+ Y
n
= Z
n
vô nghiệm, với X, Y, X khác không
g) Trở thành định lý Fermat- Wiles
x
n
+ y
n
= z
n
vô nghiệm khi n>2
h) Số Fermat
F = 2
Thí dụ: Giả sử có hai giả thiết:
1. Socrate là người
2. Tất cả mọi người đều phải chết
Dùng lối phản chứng để chứng minh là "Socrate phải chết."
Muốn vậy, chúng ta giả sử ngược lại: "Socrate bất tử"
Mà bởi vì "Tất cả mọi người đều phải chết", như vậy "Socrate không phải là người". Nhưng điều này trái
ngược với giả thiết đầu là "Socrate là người"
Vậy thì giả sử khởi đầu "Socrate bất tử" là sai, ngược lại sẽ đúng: "Socrate phải chết"
/>5/ Sách dịch tiếng Việt về Định lý cuối cùng của Fermat được Andrew Wiles giải
Định lý cuối cùng của Fermat là câu chuyện về một thách đố đã từng làm bối rối những bộ óc vĩ đại
nhất của nhân loại trong suốt 358 năm. Một đề tài thu hút sự chú ý của người học Toán và mê Toán
nay đã có câu trả lời. Bạn sẽ càng thấy thú vị hơn vì được cùng tác giả quay ngược về lịch sử và đắm
mình theo những dẫn dắt của sự tìm tòi, khám phá bí ẩn của lời giải, cũng như cuộc đời và sự nghiệp
của các nhà toán học vĩ đại trên thế giới từ xưa đến nay.
Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng
Đêmôcrit sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ Tơraxia, ven bờ
phía Bắc của biển Êgiê.
Đêmôcrit là người đầu tiên giải thích cơ cấu của tự nhiên là nguyên tử. Theo ông đó là những hạt nhỏ
mà mắt người không thấy được, không thể phân chia được nữa và sự vận động của các hạt là sự vận
động của tự nhiên. Ông nói rằng mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là kết quả do sức hấp dẫn của các
nguyên tử ảnh hưởng lẫn nhau mà sinh ra. Ông cho rằng mọi biến động trong thế giới vật chất đều là
những hiện tượng tự nhiên và hợp với quy luật.
Đêmôcrit đã áp dụng học thuyết nguyên tử của mình vào toán học. Ông cho rằng mọi đại lượng hình
học đều gồm những đại lượng - ban đầu là những "nguyên tử hình học". Cống hiến của Đêmôcrit trong
lịch sử toán học: ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu vấn đề thể tích và chủ trương sử
dụng một phương pháp nghiên cứu toán học, mà sự phát triển tiếp theo của nó đã đưa đến việc sáng
lập lý thuyết các đại lượng vô cùng bé.
Đêmôcrit đã có nhiều công trình về khoa học tự nhiên. Luận văn "Về bản chất con người của ông" có
những kiến thức giải phẫu sinh lý con người rất có giá trị. Ông đã thu nhập được những tài liệu phong
phú về động vật học và thực vật học. Các Mác đánh giá Đêmôcrit là "trí thuệ vạn năng đầu tiên trong
* Công thức MACLAURIN: là công thức TAYLOR tại điểm 0
[Sơ lược về công thức TAYLOR]:
f(a+h)=k+hk'+(h²/2)k''+ ... trong đó k,k',k''.. chỉ f'(a),f''(a)..
TAYLOR tìm ra công thức này năm 1715 và dùng nó từ 1717 để tìm giá trị gần đúng của phương trình
f(x) = 0 bằng cách chỉ dùng các số hạng có bậc bé hơn hay bằng 2, nhưng ông không quan tâm đến
phần dư cũng như sự hội tụ của nó. Tầm quan trọng của công thức TAYLOR được nhà Toán học nổi
tiếng người Pháp LAGRANGE đánh giá cao năm 1772 và LAGRANGE cho rằng công thức TAYLOR là:
nguyên lý cơ bản của phép tính vi phân
* Định lý MACLAURIN-BEZOUT:
Hai đường cong đại số bậc n cắt nhau, nói chung tại n
2
điểm
PYTHAGORE
1/ Số hoàn hảo (hay còn gọi là số hoàn chỉnh) là số bằng tổng các ước số của nó trừ chính nó.
Có 2 công thức tìm số hoàn hảo :
- Khi tổng: 1 + 2 + 2
2
+ ... + 2
n
= p là một số nguyên tố thì 2
n
.p là một số hoàn hảo (đây là quy tắc
do trường phái PYTHAGORE tìm ra)
- Một số nguyên tố có dạng 2
n-1
.(2
n
- 1) là một số hoàn hảo nếu như 2
n
- 1 là số nguyên tố (EUCLIDE
Konigsberg 1862 - Gottingen 1943
Nhà Toán học Đức David HILBERT đã từng sống qua thời niên thiếu ở
Konigsberg,kết bạn với MINKOWSKI từ lúc còn ngồi ghế nhà trường,và
cũng chính ở thành phố quê hương này ông được bổ nhiệm dạy Đại học
từ năm 22 tuổi rồi nhanh chóng nổi tiếng.Từ năm 1895 ông dạy ở Đại
học Gottingen cho đến 1930 nhưng vẫn giữ đều liên lạc với thế giới toán
học.Nhưng thời bấy giờ chủ nghĩa phát xít Hitler đã là một đám mây đen
phủ lên bầu trời nước Đức.Các nhà Khoa học bạn bè của ông có nguồn
gốc Do Thái,một số bị giết hại,một số bị chết dần ở trại tập trung,một số
lánh nạn sang Hoa Kỳ hoặc một nơi nào đó.
HILBERT quan tâm đến hầu như tất cả các lĩnh vực của Toán học,lý
thuyết cũng như ứng dụng.Nhưng ông chú ý nhieu đến Lý thuyết
Số,Cơ sở Toán học,Lý thuyết Phương trình vi phân,Hình học,ngoài ra
ông còn quan tâm đến Vật lý-Toán,đến bài toán ba vật thể.Nhưng
đặc biệt là ông đã trình bày tại Hội nghị Toán học ở Paris(1900) 23
bài toán nổi tiếng,mà theo ông là những hướng nghiên cứu Toán học
lý thú cho các nhà Toán học thế giới ở thế kỷ XX.Hơn 100 năm trôi
qua đã minh chứng cho ý kiến của HILBERT là đúng và một số
những bài toán còn lại chưa có người giải được vẫn còn là nguồn "cảm hứng" cho các nhà Toán học thế
kỷ XXI! Nhưng HILBERT mở đầu cho sự nghiệp Toán học của đời mình bằng "Lý thuyết các bất biến" và
đó cũng là nội dung Luận án của ông.Trước HILBERT,các nhà Toán học CAYLEY và GORDAN cũng đã
nhận xét rằng:trong mọi trường hợp,các bất biến là những đa thức của một số hữu hạn của
chúng.HILBERT tìm cách hình thức hoá kết quả này và đưa đến một bài toán về sự hữu hạn(problème
de finitude) trong các vành đa thức.HILBERT chứng tỏ rằng người ta có thể tìm được một số p các bất
biến sao cho mọi bất biến là một đa thức của các bất biến nói trên.Tập các đa thức thích hợp tạo thành
một idéal của vành cac đa thức có p bất định.Vấn đề còn lại là chứng tỏ rằng mọi idéal của một vành
đa thức trên một trường là có dạng hữu hạn.Lý thuyết các bất biến không còn nữa và trở nên một
trường hợp riêng của việc khảo sát các vành đa thức.Có lần,HILBERT chứng minh lại những kết quả mà
GORDAN đã làm nhưng đơn giản và hay hơn đến nỗi GORDAN phải thốt lên:"Đây không còn là Toán
học nữa mà là 'Thần học'",có lần GORDAN khoái chí:"Tôi hoàn toàn bị chinh phục rằng 'Thần học' đôi
vai trò cơ bản trong sự nghiệp phát triển Toán học thế giới.
Hai mươi ba bài toán của David HILBERT(Bài toán đã có lời giải được đánh dấu * )
- *Bài toán 1:
Giả thuyết continuum có được nghiệm đúng? Có thể có một thứ tự tốt trên?
- *Bài toán 2:
Có thể chứng minh bằng các phương pháp hữu hạn(procédés finistes)sự bền vững của Số học?
- *Bài toán 3:
Có thể ứng dụng phương pháp phân tích thành đa diện để tính thể tích được không?
- Bài toán 4:
Hãy tìm các Hinh học trong đó đường ngắn nhất đi từ điểm này đến điểm kia là đoạn thẳng?
- *Bài toán 5:
Có những nhóm LIE liên tục không? Nói cách khác,giả thiết tính khả vi có cần trong định nghĩa nhóm
LIE?
- Bài toán 6:
Có thể toán học hoá các Tiên đề trong Vật lý? (Câu hỏi này chưa thật thích hợp với quan niệm hiện đại
về 2 môn Toán và Lý).
- *Bài toán 7:
Ta nói gì về tính siêu việt của a
b
với a là đại số,b là vô tỷ khác 0?
- Bài toán 8:giả thiết RIEMANN
Tất cả các zéros ảo của hàm dzeta có một phần ảo là ½ .
- *Bài toán 9:
Cho A là vành các số nguyên của một trường đại số và J là một idéal nguyên tố của A.Với a thuộc A,ta
ký hiệu L(J/a) là số nghiệm của phương trình x²≡a(mod j) trừ đi 1.Đây là bài toán về tính nghịch đảo
toàn phương,nghĩa là dáng điệu của L(J/a) phụ thuộc vào J.
- *Bài toán 10:
Có thể nào tìm được một thuật toán giúp ta xác định,sau một số hữu hạn bước,rằng một phương trình
DIOPHANTE có nghiệm nguyên? (Bài toán này được nghiên cứu trong khuôn khổ các hàm đệ quy).
- *Bài toán 11:
Tìm các pavages của không gian Rⁿbằng những đa diện congruents(toàn đẳng).
- Bài toán 19:
Hãy nghiên cứu tính chất giải tích của các nghiệm của phương trình vi phân thường hoặc phương trình
đạo hàm riêng.
- *Bài toán 20:
HILBERT đề nghị tổng quát hóa bài toán của DIRICHLET cho những lớp hàm rộng hơn.
- *Bài toán 21:
Hãy mở rộng công trình của FUCHS vào nghiên cứu các phương trình vi phân thoả mãn những điều
kiện cho truớc.
- *Bài toán 22:
Hãy chính xác hóa chứng minh của POINCARÉ về tính đều hóa các hàm giải tích phức.
- Bài toán 23:
Hãy nghiên cứu tính trơn(régularité)của các nghiệm của phương trình đạo hàm riêng xuất phát từ phép
tính biến thiên.
Albert Einstein - Tôi học Toán để học Vật lí cho tốt
Ngày 29/5/1919, nhà vật lí học lỗi lạc của thế kỉ XX Albert Enstein dậy sớm hơn thường lệ.
Ông để đầu trần bước ra khu vườn yên tĩnh phía trước nhà. Ông đi bách bộ khá lâu, chốc chốc
lại đưa mắt nhìn lên trời và lẩm nhẩm điều gì.
Nhà bác học còn trẻ, mới bốn mươi tuổi nhưng tiếng tăm của ông đã vang dội
khắp thế giới. Ông là người đầu tiên xây dựng những cơ sở cho thuyết tương đối -
một lí thuyết mở ra chân trời tươi sáng cho vật lí học hiện đại. Tuy nhiên, những
điều Enstein đã công bố không phải ai cũng tin. Nhiều nhà vật lí nổi tiếng vẫn
thường đặt những dấu hỏi lớn trên các trang báo của Enstein.
Trước đó 6 năm. Enstein viết về một công trình nhan đề "Về ảnh hưởng của trọng
trường đối với ánh sáng". Từ một vài giả thuyết ban đầu, bằng phương pháp tư
duy toán học chặt chẽ, ông đã đi đến kết luận rằng khi ánh sáng đi ngang qua
một thiên thể nào đó thì do sức hút của thiên thể đó, tia sáng sẽ bị cong đi. Đối
với Mặt Trới, Enstein cũng đã tính trước được góc lệch của tia sáng là 1,75 giây. Nhưng tất cả những
cái đó mới chỉ là lí thuyết, còn phải qua khâu kiểm tra bằng thực nghiệm nữa. Việc kiểm tra giả thuyết
này sẽ xác minh tính đúng đắn của những luận điểm cơ bản nhất của Enstein trong thuyết tương đối -
công bạn đâu. Còn nếu như toán học là sở thích, là niềm say mê của bạn thì bạn hãy cùng tham gia với
các nhà vật lí học trẻ tuổi giải quyết các bài toán học búa của ngành đó.
Tại sao không có giải NOBEL cho ngành Toán ?
Ở Thụy Điển nhiều người biết rằng, Alfred NOBEL và MITTAG-LEFFLER Magnus Gosta, có một
thời hai nhà khoa học này cùng yêu say đắm một cô gái. Nhưng không rõ vì lý do gì (vì hai
chàng trai tài ba này đều là những nhà khoa học có tiếng tăm và NOBEL lại giàu nữa) mà
"người đẹp" lại dâng trọn quả tim mình cho nhà Toán học. Khi viết di chúc để lại cho đời sau,
lập Giải NOBEL để tuyên dương những nhà khoa học giỏi có ích cho đời, NOBEL nghĩ rằng nếu
có giải NOBEL về Toán thì chắc chắn MITTAG-LEFFLER sẽ đoạt giải. Vì vậy NOBEL "lờ" đi không
ghi Toán học vào danh mục các ngành Khoa học sẽ được nhận giải (mặc dù Toán học được tôn
vinh là "Nữ hoàng của Khoa học"). Tôn trọng tuyệt đối di chúc, nên ngày nay, không có giải
NOBEL cho Toán học. Để đền bù phần nào cho sự thiệt thòi này, người ta đã lập giải FIELDS
(lấy tên nhà Toán học người Canada là John Charles FIELDS) tương đương với giải NOBEL. Giải
FIELDS được trao bắt đầu từ năm 1936.
Câu chuyện về việc giải phương trình bậc ba
Thời bấy giờ (khoảng thế kỷ XV-XVI), ở châu Âu và có lẽ trên thế giới, phương trình bậc ba đều được
làm một cách mò mẫm, chưa có công thức giải tổng quát. Nhưng có nguồn tin cho rằng một Giáo sư
Toán trường Đại học Bologne (Ý) tên là Scipione del FERRO (1465-1526) đã biết cách giải phương trình
x
3
+ px = q, nhưng ông không hề công bố, người ta nghĩ rằng cách giải của ông chưa hoàn chỉnh. Mãi
đến khi ông sắp qua đời, ông mới truyền lại cách giải (chưa hoàn chỉnh) cho học trò ông là một nhà
Toán học ít tài năng tên là Antonio Maria FIOR.
Dù rằng có nguồn tin như vậy, Niccolo Fontana TARTAGLIA (1499-1557) vẫn tìm ra cách giải một cách
độc lập. Nhưng FIOR không tin, tìm cách giảm uy tín của TARTAGLIA bèn thách thức TARTAGLIA giải
30 phương trình bậc ba có dạng x
3
+ px = q. Ngược lại, FIOR cũng nhận thách thức của TARTAGLIA là
sẽ giải những phương trình bậc ba do TARTAGLIA đề ra.
Trong đêm 12 sáng ngày 13 tháng 2 năm 1535 là hạn cuối cùng của cuộc thi giữa TARTAGLIA và FIOR