VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ CẨM TÚ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
QUẬN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ CẨM TÚ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
QUẬN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM QUANG HUY
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Huỳnh Thị Cẩm Tú
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN QUẬN ......................................................................... 9
1.1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tổ chức Hội đồng nhân dân quận ..... 9
1.1.1. Khái quát về chính quyền địa phương ở quận ...................................... 9
1.1.2. Vị trí pháp lý, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân quận ..... 11
1.1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận............................ 14
1.1.4. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân quận theo Luật Tổ chức chính
quyền địa phương năm 2015......................................................................... 16
1.2. Những vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động của Hội đồng nhân dân quận
.......................................................................................................................... 19
1.2.1. Hoạt động của Hội đồng nhân dân quậnError!
Bookmark
not
defined.
1.2.2. Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân quận ................Error!
Bookmark not defined.2
1.2.3. Hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân quận ............................ 243
1.2.4. Hoạt động của Tổ đại biểu đồng nhân dân và đại biểu đồng nhân dân
quận ............................................................................................................ 254
1.3. Các yếu tố đảm bảo tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân quận và mối
quan hệ trong sự tương quan quyền lực của Hội đồng nhân dân quận ............ 254
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong tổ
chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân quận ......................................... 54
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN QUẬN ....................................................................... 64
3.1. Yêu cầu thực tiễn về hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Hội đồng nhân dân quận ................................................................................... 64
3.2. Phương hướng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân quận ........................................................................................................... 65
3.3. Một số nội dung và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của Hội đồng nhân dân quận ............................................................................. 66
3.3.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ
quốc, đoàn thể và cán bộ, đảng viên đối với Hội đồng nhân dân quận ........ 67
3.3.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội
đồng nhân dân .............................................................................................. 67
3.3.3. Hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân ở quận. .......................................................................................... 68
3.3.4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân quận ....................................................................................................... 70
3.3.5. Tăng cường mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan, tổ
chức khác ...................................................................................................... 71
3.3.6 Nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy giúp việc và các điều kiện đảm
bảo hoạt động của Hội đồng nhân dân quận ................................................ 71
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Thường vụ Quốc hội, hiện nay đã tái lập trở lại tổ chức HĐND các cấp theo Luật tổ
chức chính quyền địa phương năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.
Từ đó, thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND ở quận nói chung đã có nhiều kết
quả tích cực, giải quyết kịp thời những vấn đề “nóng” của cử tri quan tâm, từng bước
nâng cao hiệu hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương cấp huyện
nói chung, cơ bản đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân địa phương, góp phần tích cực
vào thắng lợi chung trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của chính quyền địa
phương ở quận, được lãnh đạo thành phố và cử tri ghi nhận, đánh giá cao. Bên cạnh
đó, vẫn còn những khó khăn, hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong quá trình
tổ chức và hoạt động của HĐND ở quận như: HĐND ở quận chưa phát huy được hết
“thế” và “lực” trong thực hiện chức năng, quyền hạn của mình; những kết quả đạt
được chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của quận
ở đô thị; nội dung hoạt động của HĐND ở quận chưa thoát ly được tính hình thức...
1
Trong giai đoạn hiện hiện nay, trước yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế
quốc tế của đất nước, cùng với việc đổi mới và hoàn thiện Bộ máy Nhà nước, việc
hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nói chung, tổ chức
và hoạt động của Hội đồng nhân dân ở quận nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm
đảm bảo được vai trò của Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương, tăng cường chức năng quyết định các vấn đề xây dựng địa phương và chức
năng giám sát của Hội đồng nhân dân.
Đồng thời, xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu thực tế về tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân quận tại thành phố Hồ Chí Minh, nhằm chỉ ra thực trạng tổ chức
và hoạt động của Hội đồng nhân dân ở quận, qua đó, đưa ra những giải pháp đóng
góp vào việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân quận, đó là lý
do, tác giả chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân quận từ thực
tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu. Việc nghiên cứu đề tài này vừa
có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm giúp các cơ quan hữu quan, cán bộ, đảng
động, tự quản của chính quyền địa phương mà vẫn kiểm soát tốt việc thực hiện quyền
lực nhà nước đối với chính quyền địa phương.
Tác giả Nguyễn Thị Thư (2017), Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Nam Định, do Giáo sư, tiến sĩ Thái Vĩnh Thắng hướng
dẫn. Đề tài phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và Hội đồng nhân dân cấp
huyện; phân tích, đánh giá thực trạng những kết quả đạt được, hạn chế vướng mắc
trong hoạt động của HĐND cấp huyện tại tỉnh Nam Định và đưa ra quan điểm, giải
pháp nâng cao phiệu quả hoạt động của HĐND cấp huyện.
Tác giả Nguyễn Thị Hoàn, Hội đồng nhân dân trong nhà nước pháp quyền,
Luận văn thạc sĩ luật học của Đại học quốc gia Hà Nội, do Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn
Đăng Dung hướng dẫn. Đề tài phân tích yêu cầu của HĐND trong nhà nước pháp
quyền, đánh giá thực trạng của HĐND trong giai đoạn hiện nay và đưa ra một số kiến
nghị đổi mới HĐND trong điều kiện nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.
Sách chuyên khảo của tác giả Bùi Xuân Đức (2017), Đổi mới, hoàn thiện bộ
máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, có bàn về Hội đồng nhân dân trong
điều kiện cải cách bộ máy nhà nước. Bài viết đề cập khái quát về lịch sử HĐND và
3
phân tích tính chất của HĐND, đưa ra những điểm hợp lý và bất cập để từ đó khẳng
định việc đổi mới HĐND phải gắn với đổi mới tổng thể mô hình tổ chức chính quyền
địa phương nói chung.
Cuốn sách của tác giả Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên), Giám sát
và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2003. Đây là công trình nghiên cứu của hơn 40 tác giả với gần
600 trang sách, nội dung nghiên cứu được đề cập khá toàn diện như những vấn đề lý
luận chung về giám sát, việc thực hiện quyền lực nhà nước và cơ chế giám sát, giám
sát của bộ máy nhà nước (giám sát của Quốc hội, HĐND, Chủ tịch Nước; kiểm tra
thanh tra của Chính phủ; kiểm tra, giám sát của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân
quận, đại biểu HĐND quận. Về các mặt hoạt động của HĐND quận tại kỳ họp HĐND
quận và hoạt động giữa hai kỳ họp HĐND quận, bao gồm các hoạt động xem xét báo
cáo, đề án, tờ trình để quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; hoạt động
chất vấn và trả lời chất vấn; hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; hoạt
động xem xét việc giải quyết kiến nghị của cử tri; hoạt động giám sát của HĐND…
trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của Hội đồng nhân quận tại thành phố Hồ Chí Minh.
Việc nghiên cứu đề tài giúp tác giả nâng cao năng lực nghiên cứu; vận dụng
các kỹ năng tích hợp được qua quá trình nghiên cứu vào thực tiễn công việc hiện tại
trong hoạt động của HĐND quận – nơi tác giả đang làm việc; góp phần vào những
nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân Quận tại Thành phố Hồ Chí
Minh.
Khi nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân Quận tại
Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả luận văn nhận thấy có nhiều điểm tương đối giống
nhau từ cơ cấu tổ chức đến nội dung và hình thức hoạt động của các quận, từ đó tác
giả luận văn quyết định nghiên cứu sâu ở 3 quận là quận Bình Tân, quận Thủ Đức
và quận 2.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn xác định ba nhiệm vụ cụ thể, đó
là:
Thứ nhất: Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và pháp luật về cơ cấu tổ chức và
hoạt động của Hội đồng nhân dân quận.
5
Thứ hai: Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
Quận tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu ở 3 quận:
quận Bình Tân, quận Thủ Đức và quận 2.
Thứ ba: Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân quận.
tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn… để làm sáng tỏ những nội
dung cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận
Luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận, giúp người học nghiên cứu, hệ thống hóa
nhận thức về mặt lý luận và áp dụng pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Hội
đồng nhân dân các cấp nói chung và Hội đồng nhân dân quận nói riêng. Từ đó đề ra
giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân ở quận.
- Về mặt thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa thiết thực, là cơ sở khoa học tham khảo để giúp cán bộ,
công chức trong các cơ quan nhà nước ở quận nhìn nhận đúng đắn vai trò của HĐND
quận trong việc kiểm soát việc thực thi quyền lực Nhà nước ở địa phương;
Góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực với cơ
quan hành chính ở quận; Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân quận với cơ quan Nhà
nước cấp trên và cơ quan Nhà nước cấp dưới.
Đặt ra những vấn đề mới, tiếp tục nghiên cứu góp phần hoàn thiện tổ chức và
hoạt động của Hội đồng nhân dân ở quận.
Luận văn cũng có giá trị làm tài liệu tham khảo, vận dụng vào hoạt động thực
tiễn của HĐND các cấp, góp phần nâng cao nhận thức về lý luận và nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND và các cơ quan của Hội đồng nhân
dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được bố trí trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân ở quận.
7
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân quận tại
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của địa phương. Ba là, về vị trí, chính quyền địa
phương được tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, vừa chịu trách nhiệm
trước trung ương, cơ quan nhà nước cấp trên, vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân
địa phương, Ủy ban nhân dân vừa là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân hay
Hội đồng dân cử, vừa là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (vừa chịu trách
9
nhiệm trước cơ quan bầu ra mình, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính
nhà nước cấp trên) [28, tr. 04].
Riêng ở tầm Hiến pháp, khái niệm chính quyền địa phương lần đầu tiên được
sử dụng ở Hiến pháp năm 2013. Trong các bản Hiến pháp 1946, năm 1959, năm 1980
và năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), để chỉ chính quyền địa phương, các nhà
lập hiến đã dùng hai khái niệm Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, hoặc Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân [28, tr. 01].
Theo Hiến pháp năm 2013, và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015 xác định: cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức
ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Như vậy, HĐND và
UBND được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam. Đặc biệt, có một điểm mới tại Điều 111, Hiến pháp năm 2013 là “Cấp chính
quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù
hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do
luật định” [34, tr. 55]. Theo quy định này, cấp chính quyền được tổ chức phù hợp với
đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Nó cũng
bao hàm ý nghĩa là có sự phân biệt pháp lý về Chính quyền địa phương ở đô thị khác
với Chính quyền địa phương ở nông thôn so với các Hiến pháp trước đây không có
sự phân biệt này. Và theo đó, chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền
địa phương ở tỉnh, huyện, xã; chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa
phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành
phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.
nhà nước. Tính quyền lực Nhà nước của Hội động nhân dân Quận thể hiện ở chỗ
HĐND có quyền độc lập trong quyết định và quyết định đó có giá trị bắt buộc cho
mọi cơ quan, tổ chức và công dân. Tất nhiên, các quyết định, Nghị quyết của HĐND
Quận ban hành phải đảm bảo trong phạm vi, thẩm quyền và trên cơ sở quy định của
Hiến pháp và pháp luật. Tính quyền lực của HĐND còn thể hiện ở quyền được giám
sát. HĐND có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và việc thi hành
11
Nghị quyết của HĐND cấp trên, việc thi hành Nghị quyết của HĐND cấp mình ban
hành ở địa phương.
Bên cạnh tính quyền lực Nhà nước, HĐND quận còn có tính đại diện của
Nhân dân địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân
dân ở địa phương. Tính đại diện của HĐND quận thể hiện ở việc trong hoạt động của
HĐND phải tiếp xúc, lắng nghe Nhân dân, đề đạt ý kiến của Nhân dân, phải thể hiện
được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, thay mặt Nhân dân quyết định những vấn đề
quan trọng của địa phương, phải báo cáo với Nhân dân và chịu trách nhiệm trước
Nhân dân Quận.
Ở đây ta thấy, Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
năm 2015 không chỉ khẳng định tư cách pháp lý của Hội đồng nhân dân quận mà còn
đề cập đến chế độ trách nhiệm là HĐND quận chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nhằm tăng
cường trách nhiệm của HĐND đối với Nhân dân địa phương và trách nhiệm đối với
cơ quan Nhà nước cấp trên trong mọi hoạt động của HĐND quận.
Tóm lại, HĐND quận có vị trí pháp lý quan trọng ở địa phương, thuộc hệ thống
cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng lại chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp
trên, trong đó bao gồm cả cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Với vị trí và tính
chất này có ý nghĩa quyết định đến phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
HĐND quận.
và HĐND được Quốc hội khóa XIII ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015, trước đây,
chỉ có Luật giám sát của Quốc hội không có HĐND. Điều này càng khẳng định và
nâng cao vai trò của HĐND trong tổ chức Chính quyền địa phương.
Chức năng giám sát có mối quan hệ và tác động đến chức năng quyết định của
HĐND quận. Việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND quận không chỉ tạo ra
sự thống nhất cao trong xây dựng, áp dụng pháp luật ở địa phương; tăng cường hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền; Giám sát còn giúp HĐND có thông
tin, căn cứ khoa học, thực tiễn để ban hành nghị quyết phù hợp với yêu cầu thực tế.
Bên cạnh đó, chức năng giám sát còn đảm bảo cho HĐND thật sự là cơ quan đại diện
của nhân dân, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Bởi, thông qua công
tác giám sát của HĐND, hoạt động của các cơ quan nhà nước sẽ được đặt dưới sự
13
kiểm tra, giám sát chặt chẽ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khắc phục tính cục bộ địa
phương, ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Đây chính là điều
kiện bảo đảm vững chắc cho quyền lực của nhân dân được thực hiện trong thực tế.
1.1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận
Hội đồng nhân dân quận là một cơ quan của Chính quyền địa phương ở quận,
nên trước hết, Hội đồng nhân dân quận có nhiệm vụ, quyền hạn chung của chính
quyền địa phương ở quận được quy định tại Điều 45, Luật Tổ chức Chính quyền địa
phương. Trong đó, đặc biệt là có thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên ủy quyền. Từ quy định trên đây, chúng ta có thể thể thấy,
cùng với UBND quận hợp thành chính quyền địa phương ở quận, thì HĐND quận
còn mang tính hành pháp [29, tr. 373].
Nhiệm vụ, quyền hạn riêng của Hội đồng nhân dân quận bao gồm mười một
nội dung cụ thể được quy định tại Điều 47 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương
năm 2015, chúng ta có thể khái quát lại nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân
quận trong bốn nhóm lĩnh vực là: công tác nhân sự; việc quyết định các vấn đề của
địa phương ở quận do luật định; việc xây dựng, xử lý văn bản quy phạm pháp luật và
Hội đồng nhân dân quận quyết định giải tán Hội đồng nhân dân
phường trong trường hợp Hội đồng nhân dân phường đó làm thiệt hại nghiêm trọng
đến lợi ích của Nhân dân và trình Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương
phê chuẩn [26, tr.47].
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận trong việc ban hành và xử
lý văn bản quy phạm pháp luật
Hội đồng nhân dân quận ban hành Nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận. Nghị quyết là hình thức văn bản chủ yếu
của HĐND được ban hành tại các kỳ họp của HĐND, trên cơ sở quy định về nhiệm
vụ, quyền hạn và phạm vi thẩm quyền, HĐND ban hành Nghị quyết để các cơ quan,
tổ chức, cá nhân hữu quan tổ chức thực hiện trong đơn vị hành chính quận. Hội đồng
15
nhân dân quận bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân
dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp
luật của Hội đồng nhân dân phường [36, tr.47].
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân quận trong hoạt động giám sát
Hội đồng nhân dân quận giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương, việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân quận; giám sát hoạt động
của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy
phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân
phường [36, tr.47].
1.1.4. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân quận theo Luật Tổ chức chính
quyền địa phương năm 2015
Về hệ thống tổ chức HĐND có một điểm khác biệt so với các quy định trước
đây chỉ quy định chung là hệ thống HĐND được tổ chức theo 3 cấp, gồm: cấp tỉnh,
cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, hiện nay, theo quy định của Luật Tổ chức Chính
quyền địa phương thì HĐND được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, tùy thuộc
lên do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng
nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, nhưng tổng số không quá bốn mươi lăm
đại biểu [36, tr. 45].
1.1.4.2. Thường trực Hội đồng nhân dân quận
Thường trực Hội đồng nhân dân quận là cơ quan Thường trực của Hội đồng
nhân dân quận, do HĐND quận bầu ra. Thường trực Hội đồng nhân dân quận gồm
Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là
Trưởng ban của Hội đồng nhân dân quận. Chủ tịch Hội đồng nhân dân quận có thể là
đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
quận là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách [36, tr.45].
1.1.4.3. Các Ban Hội đồng nhân dân quận
17