(Luận văn thạc sĩ) TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH

TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH

TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS: PHẠM MINH TUYÊN

Hà Nội, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN

ANTT

: An ninh trật tự

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CSĐT

: Cảnh sát điều tra

HSST

: Hình sự sơ thẩm

PBGDPL

: Phổ biến giáo dục pháp luật

TAND

: Tòa án nhân dân

THTP


bản án, các quyết định mang tính chất trừng phạt, giáo dục, cải tạo người
phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy, nâng cao năng lực cơ
quan áp dụng pháp luật đặc biệt trong hoạt động xét xử các vụ án liên quan tới
tội cướp tài sản là trọng trách của Hệ thống Tòa án. Trước yêu cầu đó, Bộ
Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm
vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Tiếp đó, Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 cũng xác định cải cách hoạt động xét xử, đây là chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước. Thực hiện chủ trương này, trong những năm qua hoạt
động xét xử của Hệ thống Tòa án đã đạt được những kết quả tích cực thể hiện
ở việc hoàn thiện quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật hình sự và tố
tụng hình sự theo hướng tạo điều kiện để các chủ thể tố tụng được tham gia và
tiến hành các hoạt động trong một môi trường pháp lý bình đẳng và thuận lợi
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân.
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn tại Việt Nam, đồng thời cũng
là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan
trọng nhất của Việt Nam. Là thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố Hồ
Chí Minh được xếp hạng đô thị đặc biệt. Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh
đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá
1


nhanh trong đó có tội phạm trật tự xã hội đặc biệt là hành vi cướp tài sản có
chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp là vấn đề nhức nhối, gây hoang
mang trong dư luận xã hội.
Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là một điểm nóng về tội phạm trật
tự xã hội đặc biệt là hành vi trộm, cướp tài sản có diễn biến phức tạp và nguy
hiểm, ảnh hưởng tới đời sống yên bình cuả người dân. Mặc dù đã có nhiều cố

1999, sửa đổi năm 2015 và một số giải pháp đấu tranh phòng, chống tội
phạm, Tạp chí Nghề Luật số 1/2016, tr. 56-58;
- Đặng Thúy Quỳnh (2012), Bàn về tội "Cướp giật tài sản" và tội
"Công nhiên chiếm đoạt tài sản" trong Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí
Kiểm sát số 19/2012, tr. 24-25, 31;
- Đặng Thúy Quỳnh (2012), Phạm tội cướp giật tài sản dẫn đến chết
người hay phạm hai tội cướp giật tài sản và tội giết người, Tạp chí Tòa án
nhân dân số 24/2012, tr. 24-26.
- Nguyễn Trung Hòa (2018), Một số đặc điểm nhân thân của người
phạm tội cướp tài sản trên địa bàn các tỉnh, thành phố phía Nam, Tạp chí
Khoa học Kiểm sát số 5, tr. 37-40;
- Đặng Thúy Quỳnh (2012), Một số giải pháp đấu tranh phòng, chống
tội phạm cướp giật tài sản, Tạp chí Kiểm sát số 22/2012, tr. 38-42.
- Trần Đình Hải (2015), Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ
luật hình sự năm 1999 về "Tội cướp tài sản", Tạp chí Kiểm sát số 3/2015, tr.
38-43.
- Nguyễn Văn Khoa Điềm (2018), Một số vấn đề đặt ra trong công tác
phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản hiện nay trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh, Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 4/2018, tr. 34-42.
Các nghiên cứu trên một mặt đã đề cập đến các vấn đề lý luận cơ bản
của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự liên quan tới tội cướp tài sản. Đồng
thời, nghiên cứu cũng đã phần nào đề cập những vấn đề thực tiễn cùng những
3


giải pháp kiến nghị nhưng mới dừng lại ở mức độ khá chung chung và chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về loại tội
này tại một địa bàn cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt trong giai đoạn
BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Do
đó có thể nói, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến tội cướp tài

Minh hiện nay.
- Thời gian: giai đoạn 2015 - 2019.
- Địa bàn: thực tiễn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh, chủ yếu là số liệu
của Tòa án nhân dân thành phố và cấp huyện.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống
tội phạm cướp tài sản.
Luận văn có sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội
được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu khoa học xã hội như
phân tích, phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê, phương pháp lịch sử, tư
duy logic, quy nạp, diễn giải… nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên
cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn đề tài tổng hợp những vấn đề khoa
học, cơ sở lý luận trong pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản; từ đó
đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai
đoạn từ năm 2015 đến năm 2019. Luận văn cũng đưa một số giải pháp nhằm
hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật liên quan tới loại tội phạm này.
Những kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng vào mục đích tham khảo
trong giảng dạy và học tập các học phần pháp luật hình sự; tội phạm học…
5


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội cướp tài sản trong pháp luật
hình sự Việt Nam.
Chương 2: Tội cướp tài sản theo quy định của BLHS 2015 và thực tiễn

Căn cứ Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, định nghĩa về tội
phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp
nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
7


quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.” [12].
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Nghị quyết thi hành Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự xây dựng khái niệm tội phạm đã có sự
thay đổi theo hướng bổ sung thêm quy định đối với pháp nhân thương mại,
đồng thời bổ sung trường hợp xâm phạm quyền con người.
Khái niệm tội phạm theo BLHS 2015 có thể được coi là khái niệm cơ
bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm này một mặt là cơ sở thống
nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ
luật hình sự, mặt khác trực tiếp thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ
bản của luật hình sự Việt Nam.
Khái niệm tội cướp tài sản
Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS năm 2015, sửa đổi
2017. Theo đó, người có hành vi cướp tài sản được hiểu là: Người nào dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người
bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài
sản.
Về biểu hiện hành vi, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tội cướp tài sản
thường xuất hiện với một số hành vi phổ biến [2], đó là:
(1) Hành vi dùng vũ lực làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng

năng phản kháng của người bị tấn công là những trường hợp cụ thể của hành
vi khác nói trong điều luật. Cũng như các hành vi dùng vũ lực và hành vi đe
doạ dùng vũ lực ngay túc khắc, hành vi khác này dù dưới hình thức cụ thể nào
cũng đều phải làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống
10


cự được nhằm... mới thoả mãn dấu hiệu hành vi khách quan của tội cướp tài
sản và tội phạm được coi là hoàn thành. Còn nếu đã có hành vi khác nào đó
mà chưa làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được (ví
dụ: đã bỏ thuốc mê, thuốc độc... nhưng nạn nhân chưa ăn, chưa uống phải
thuốc mê, thuốc độc đó hoặc thuốc độc sử dụng để đầu độc là thuốc giả nên
người bị tấn công tuy đã uống nhưng không bị lâm vào tình trạng không thể
chống cự được và người phạm tội cũng chưa chiếm đoạt được tài sản) thì phải
coi đây là trường hợp phạm tội chưa đạt.
1.1.2. Đặc điểm tội cướp tài sản
Từ định nghĩa kể trên, cũng cho thấy tội cướp tài sản mang những đặc
điểm cơ bản:
Thứ nhất, tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho cộng đồng và xã
hội, đe dọa an ninh, sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân.
Hành vi tội phạm cướp tài sản là hành vi trực tiếp dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực gây ra những thiệt hại thực tế về tài sản, sức khỏe, tinh thần
đáng kể cho bị hại và xã hội. Căn cứ vào nội dung, tính chất của quan hệ xã
hội mà luật hình sự bảo vệ, tính chất và mức độ lỗi, thủ đoạn, động cơ , mục
đích, nhân thân người phạm tội… và đặt những căn cứ này vào mối liên hệ
thống nhất với nhau, tội phạm cướp tài sản xâm phạm trực tiếp tới quyền bất
khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.
Thứ hai, tội cướp tài sản là hành vi có lỗi của người thực hành.
Theo lý luận, lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý bên trong của những
người có hành vi vi phạm pháp luật hoặc tội phạm đối với hành vi trái pháp

phương tiện không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường
của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một
công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự
phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần
12


bồi đắp nên những giá trị mới. Trong tiến trình phát triển của đất nước, việc
nâng cao vai trò của pháp luật là tất yếu. Yêu cầu này hướng tới xây dựng một
xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa có kỷ cương, văn minh, đồng thời đảm
bảo pháp chế và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều chịu sự chi phối của
nhiều quy tắc luật pháp mà mọi người phải tôn trọng nhằm tránh gây phương
hại quyền lợi của người khác và của cộng đồng. Để bảo đảm sự tuân thủ, mỗi
ngành luật phải có các biện pháp chế tài đối với hành vi bất tuân, tức các chế
tài riêng trong từng ngành. Những hành vi nguy hiểm đối với trật tự xã hội
hội đủ các yếu tố được minh định trong luật hình sự chính là tội phạm, và đã
được coi là tội phạm thì những hành vi này phải gây ra những thiệt hại thực tế
ở mức nghiêm trọng cho xã hội và cộng đồng, thậm chí có những hành vi xâm
phạm cần phải được loại bỏ ra khỏi đời sống chung để đảm bảo trị an.
Việc ghi nhận tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự thể hiện sự cần
thiết cho việc duy trì trật tự xã hội, đời sống xã hội chỉ ổn định và phát triển
đảm bảo sự tự do của mỗi người được thực thi trên cơ sở tôn trọng tự do của
người khác. Ngoài ra, việc ghi nhận tội cướp tài sản còn phù hợp với xu thế
pháp điển hóa pháp luật hình sự, ghi nhận các tội phạm mới hình thành để có
cơ sở pháp lý trong áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, góp phần răn
đe và phòng ngừa chung.
1.2. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1945
Trong giai đoạn phong kiến, tội cướp tài sản và tội trộm tài sản không

lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN” trong đó Điều 4 quy định tội
cướp tài sản xã hội chủ nghĩa và “Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm
tài sản công dân” quy định tại Điều 3 tội cướp tài sản riêng của công dân [10].

14


1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Đây là giai đoạn đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam pháp điển hóa luật
hình sự. Trong BLHS năm 1985, tội cướp tài sản được quy định tại hai điều
luật, và nằm trong 2 chương khác nhau, gồm: Điều 129. Tội cướp tài sản
XHCN thuộc Chương IV “Các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghĩa” và
Điều 151 Tội cướp tài sản công dân thuộc Chương VI “Các tội xâm phạm sở
hữu công dân”. Theo đó, tội cướp tài sản của công dân được quy định tại Bộ
luật Hình sự số 17-LCT/HĐNN7 năm 1985: “1- Người nào dùng vũ lực, đe
doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn
công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản,
thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm”. Với hai quy định này, các hành vi
cướp tài sản bước đầu bị xử lý nghiêm. Song, vẫn còn những bất cập của
BLHS năm 1985, mặc dù đã nhiều lần chỉnh sửa bổ sung (4 lần chỉnh sửa bổ
sung), nhưng BLHS năm 1985 vẫn còn rất nhiều hạn chế: vừa phải chịu ảnh
hưởng bởi cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp không phù hợp cho việc bảo vệ
các quan hệ phát sinh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; vừa bị hạn chế về mặt kỹ thuật lập pháp hình sự.
1.2.4. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X thông qua BLHS năm 1999 (tiếp
đó sửa đổi, bổ sung vào năm 2009) dựa trên những kết quả pháp điển hóa của
BLHS năm 1985 (và 04 lần sửa đổi, bổ sung). Sau nhiều năm thi hành, BLHS

tiết định khung hình phạt tại khoản 3. Đồng thời, bỏ tình tiết định khung hình
phạt “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” và bổ sung tình tiết “Gây thương
tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể
của mỗi người từ 31% trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh” làm tình tiết
16


định khung hình phạt tại khoản 4. Đồng thời bỏ hình phạt tử hình tại khoản 4
Điều 168 BLHS.
1.3. Phân biệt tội cướp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác
1.3.1. Phân biệt tội cướp tài sản với tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS có một số đặc điểm
để phân biệt với tội cướp tài sản tại Điều 168 như sau:
Về khách thể: tội cướp tài sản có xâm phạm tới quyền sở hữu, sức khỏe
và tính mạng của nạn nhân còn trộm cắp chỉ xâm phạm tới quyền sở hữu
nhưng không xâm phạm tới sức khỏe, tính mạng của nạn nhân.
Về hành vi khách quan: hành vi cướp tài sản có dấu hiệu đặc trưng là
hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc hoặc dùng các
hành vi khác có khả năng làm cho nạn nhân mất hoàn toàn khả năng phản
kháng sau đó chiếm đoạt tài sản. Còn tội phạm trộm cắp tài sản dấu hiệu đặc
trưng lại là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.
Về giá trị tài sản xâm phạm: nếu như tội cướp tài sản không giới hạn
giá trị tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt thì đối với tội phạm trộm cắp, TNHS chỉ
phát sinh với hành vi trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc hai triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị
kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
1.3.2. Phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản
Dấu hiệu hành vi của tội phạm cưỡng đoạt tài sản là hành vi uy hiếp
tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe doạ sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status