VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THỊ THỦY DUYÊN
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Xuân Nam
Phản biện 1: PGS.TS. Trần Đình Nhã
Phản biện 2: TS. Nguyễn Thanh Dương
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện khoa học xã hội 13 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 10
năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội.
điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội, tránh trường hợp
định nhầm tội danh, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người
phạm tội.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nhất của
cả nước, nơi tập trung một lượng lớn dân nhập cư từ khắp các tỉnh thành
sinh sống, học tập và làm việc nên là địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ
tăng trưởng kinh tế với tổng thu ngân sách cũng như thu nhập bình quân
đầu người ở mức cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và các thành
tựu mà Thành phố đã đạt được thì vấn đề đáng báo động nhất là tình hình
tội phạm không ngừng gia tăng, đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu, trong
đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từ thực tiễn công tác khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh trong những năm qua cho thấy về cơ bản việc định tội danh
được thực hiện tương đối chính xác. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp
giữa Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và Tòa
án nhân dân (TAND) trong quá trình giải quyết vụ án xuất hiện quan điểm
khác nhau về định tội danh dẫn đến có vụ án phải trả hồ sơ nhiều lần, kéo
dài thời gian giải quyết và ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác nhau. Thực
trạng trên đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu, đánh giá một cách toàn
diện cả về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động định tội danh tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp khắc phục hạn chế,
hướng đến việc nâng cao chất lượng định tội danh tội phạm này trong thực
tiễn. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí
Minh" làm Luận văn thạc sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn
đấu tranh chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng và cả nước nói chung trong thời gian tới.
2
3
chiếm đoạt tài sản, Luận văn Thạc sĩ luật học,Trường Đại học Cảnh sát
nhân dân.
Nguyễn Thị Thùy Liên (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
pháp luật Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học,Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Những công trình khoa học, bài viết nói trên đều có giá trị khoa học
và thực tiễn cao. Nhiều công trình đã nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về
vấn đề tội danh hoặc các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động
định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như thực trạng
định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo hoạt động định tội danh tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống loại tội phạm này. Vì vậy, trên phương diện lý luận và thực
tiễn, việc nghiên cứu đề tài: "Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh"
không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích các
quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực
tiễn định tội danh đối với tội phạm này tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong
việc định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần nâng cao
hiệu quả đấu tranh chống tội phạm này trong thực tiễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, trong quá
trình nghiên cứu đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về định tội danh nói chung và
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở
lý luận liên quan đến các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh
và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
5
Về thực tiễn: Bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận, luận văn sẽ
góp phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động định tội danh tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản trên cả nước nói chung và trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng. Bên cạnh đó, luận văn còn có thể trở thành nguồn
tư liệu quý báu, tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho cán bộ tham gia công
tác giảng dạy, học tập cũng như cán bộ công tác thực tiễn về vấn đề định
tội danh nói chung và định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu gồm ba chương. Cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề ý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
Chương 2. Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3. Các giải pháp bảo đảm định tội đúng tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
6
Chương 1
bản thân người phạm tội, đồng thời tạo tiền đề pháp lý quan trọng đảm bảo cho
việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như cá thể hóa hình phạt.
Thứ hai, định tội danh đúng là thể hiện tính nghiêm minh của luật
pháp, góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân vào Nhà nước; định tội
danh đúng thể hiện hoạt động có hiệu quả của các cơ quan này, qua đó góp
phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động tố tụng và đảm bảo pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Thứ ba, định tội danh đúng là cơ sở quan trọng đảm bảo cho việc áp
dụng các quy định của pháp luật TTHS.
Thứ tư, định tội danh đúng góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả
công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm thông qua việc ghi nhận và xác
định chính xác về tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội,…. Mặt
khác, định tội danh đúng cũng góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh
phòng, chống Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng và tội phạm xâm
phạm sở hữu nói chung.
1.2. Lý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1. Đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là dạng
hoạt động của nhận thức, là quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể
có thẩm quyền nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã
hội đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành cụ thể của tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS, xác định chính xác
người thực hiện hành vi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không
để buộc người đó phải gánh chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính
chất, mức độ của hành vi mà mình đã thực hiện. Đây là cơ sở quan trọng để
xác định các đặc điểm cụ thể của hoạt động định tội danh đối với tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản.
nói riêng và các tội xâm phạm sở hữu nói chung và ngược lại.
1.2.2. Nội dung của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
9
Xác định hành vi phạm tội.
Nhận thức các yếu tố của cấu thành tội phạm.
Tìm ra sự tương thích giữa hành vi phạm tội và các yếu tố cấu thành
tội phạm.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động định
tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Sự hoàn thiện của pháp luật; năng lực của chủ thể có thẩm quyền
trong việc định tội danh; hoạt động đảm bảo áp dụng pháp luật và công tác
kiểm tra, giám sát hoạt động định tội danh.
1.3. Các yếu tố tác động đến định tội danh tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
Các yếu tố tác động đến định tội danh nói chung và định tội danh
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng là tổng hợp các quy định của pháp
luật hình sự và pháp luật TTHS nhằm đảm bảo cho việc xác định chính xác
hành vi của người phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại điều,
khoản, điểm nào của BLHS, là cách thức các chủ thể lựa chọn các quy
phạm tương ứng để điều chỉnh hành vi cũng như các quy định của pháp
luật TTHS về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cần áp dụng
để việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được tiến hành
nhanh chóng, chính xác, khách quan.
1.3.1. Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.3.1.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về
tài sản. Đây là điểm khác biệt giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một
1.3.1.3. Chủ thể của tội phạm
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể thực hiện tội phạm
được xác định là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ khả
năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi.
1.3.1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với thể hiện do lỗi
cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản, người phạm tội nhận thức
được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội và biết hậu quả của hành
11
vi là gây thiệt hại về tài sản, làm mất quyền sở hữu của chủ tài sản nhưng
vẫn thực hiện, vì thế họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này,
người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa
dối đã có ý thức chiếm đoạt được tài sản của người khác.
1.3.2. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội
phạm khác
1.3.2.1. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS)
Hai tội này khác nhau cơ bản ở việc sử dụng thủ đoạn gian dối:
Người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin do hành vi
gian dối tạo ra, còn người phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản.
1.3.2.2. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối
khách hàng (Điều 162 BLHS)
Giữa hai điều luật có những điểm khác nhau về khách thể, mặt
khách quan, hậu quả của tội phạm như:
- Về mặt khách thể: Khách thể mà tội phạm này tác động là quan
hệ sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức và đối tượng tác động của tội phạm
thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất
1.3.2.3. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội đánh bạc
(Điều 248 BLHS)
Để phân biệt hai loại tội phạm này cần phải dựa trên các căn cứ
pháp lý sau:
- Về khách thể: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
quan hệ sở hữu về tài sản. Ngoài ra nó còn tác động xấu đến trật tự an toàn
xã hội. Khách thể của tội đánh bạc là trật tự công cộng.
- Về hành vi khách quan: Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
hành vi khách quan là những hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông
tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật và chiếm đoạt
tài sản của người. Thủ đoạn gian dối phải có trước hoặc đi liền với hành vi
chiếm đoạt tài sản. Ở tội đánh bạc không quy định có "thủ đoạn gian dối"
nhưng có thể họ sẽ sử dụng những mưu mẹo, gian dối để giành phần thắng
13
nhưng những mưu mẹo đó phải phát sinh trong quá trình chơi hoặc cũng có
thể có sự chuẩn bị từ trước những sự chuẩn bị đó không có ý nghĩa quyết
định được việc thắng thua mà nó chỉ làm ảnh hưởng phần nào đến kết quả
đánh bạc.
Kết luận Chương 1
Định tội danh đối với các tội phạm xâm phạm quan hệ sở hữu quy
định tại Chương XIV của BLHS rất phức tạp và khó khăn, rất nhiều tội
phạm liên quan đến quan hệ sở hữu là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Do vậy, để xác định được người phạm tội vi phạm quy định nào trong
chương các tội xâm phạm sở hữu, cần phải căn cứ vào hành vi khách quan
của người phạm tội, thời điểm người phạm tội nảy sinh ý định chiếm đoạt
tài sản cũng như thời điểm họ thực hiện hành vi chiếm đoạt. Việc xác định
bàn Thành phố Hồ Chí Minh thường ít, do đó, người phạm tội thường thực
hiện hành vi một cách độc lập. Bên cạnh đó, số lượng vụ án và số lượng bị
cáo bị khởi tố về tội này qua các năm có xu hướng biến động, tăng giảm
không đều qua các năm
2.2. Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo
cấu thành cơ bản
2.2.1. Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu
thành cơ bản
2.2.1.1. Kết quả đạt được
Tổng số lượng các vụ án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được
phát hiện và xử lý chiếm tỉ lệ rất cao; hoạt động kiểm sát được tiến hành
ngay từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố đảm bảo
15
việc xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được tiến hành khẩn
trương, khách quan, toàn diện; tiến độ điều tra, truy tố, xét xử được bảo
đảm và giải quyết dứt điểm, triệt để tội phạm.
Trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2017,
các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp của Thành phố Hồ Chí Minh đã truy
tố 275 vụ/382 bị can và đã xét xử 337 vụ/301 bị cáo về tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản. Qua khảo sát, tìm hiểu khoảng 100 vụ án về tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản do Tòa án hai cấp của Thành phố Hồ Chí Minh xét xử trong 5
năm qua (trong đó có khoảng 60 vụ án có kháng cáo, kháng nghị đã xử
phúc thẩm), tác giả nhận thấy rằng, trong quá trình truy tố và xét xử, đa số
các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều đã được cơ quan tiến hành tố tụng
của Thành phố định tội danh đúng. Trong 60 vụ án có kháng cáo, kháng
nghị đã xử phúc thẩm được khảo sát, có 06 vụ (tỉ lệ 10%) cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm nhưng không sửa phần tội danh mà sửa phần áp dụng
2.2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong việc định tội danh theo
cấu thành tăng nặng
Thứ nhất, về giải thích và áp dụng pháp luật
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình giải quyết các vụ án lừa
đảo chiếm đoạt tài sản cũng gặp phải những khó khăn nhất định khi tiến hành
hoạt động định tội danh theo cấu thành tăng nặng đối với tình tiết “lợi dụng
chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” thuộc khoản 2
Điều 139 BLHS. Tuy nhiên, khi xem xét tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 280 BLHS có quy định
“Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người
khác…” thấy rằng chủ thể thực hiện tội phạm là chủ thể đặc biệt (có chức
vụ, quyền hạn) và đều phải có hành vi gian dối và mục đích chiếm đoạt tài
sản của người khác. Do đó, trong thực tiễn xảy ra trường hợp người phạm
tội thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản mà đều có tình tiết lợi
dụng chức vụ, quyền hạn thì rất khó xác định khi nào xử lý theo tình tiết
định khung quy định tại khoản 2 Điều 139 BLHS và khi nào thuộc về dấu
hiệu định tội quy định tại Điều 280 BLHS.
17
Thứ hai, về công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành điều tra,
truy tố, xét xử
Thực tiễn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự
còn có những lập luận và nhận định nhầm lẫn giữa các hành vi trong nhóm
xâm phạm sở hữu dẫn đến sự không thống nhất về nhận thức của các cơ
quan tiến hành tố tụng về việc áp dụng pháp luật để định tội, phải tổ chức
họp liên ngành, làm thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài.
2.2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong thực
tiễn định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành
nhân và tìm những giải pháp khắc phục được trình bày trong Chương 3 của
luận văn.
19
Chương 3
CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm bảo đảm định tội danh
đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
3.1.1. Hoàn thiện một số quy định của pháp luật hình sự về tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị về hoàn thiện quy định
của BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sau:
Thứ nhất, đề nghị nâng mức khởi điểm của tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” lên mức cùng mức 4.000.000 đồng như tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản để khi xử lý đối với các trường hợp chiếm đoạt tài sản có
giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 4.000.000 đồng tránh xảy ra oan, sai
Thứ hai, hoàn thiện một số quy định của pháp luật hình sự có liên
quan đảm bảo cho việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng
người, đúng tội như Điều 162 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009 (Điều 198
BLHS 2015); Điều 156, 157 và 158 BLHS sửa đổi, bổ sung 2009 (Điều
192, Điều 193, Điều 195 BLHS 2015); Điều 248 BLHS sửa đổi, bổ sung
2009 (Điều 321 BLHS 2015), các tội lạm dụng chức vụ quyền hạn.
Thứ ba, không cần thiết phải quy định tình tiết “dùng thủ đoạn xảo
quyệt” được quy định là tình tiết định khung tăng nặng tại Điểm e Khoản 2
Điều 174 BLHS năm 2015.
Thứ tư, hoàn thiện các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản đối với một số hình thức mới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
Thứ nhất, Bộ công an, VKSND tối cao, TAND tối cao cần tổng kết
kinh nghiệm trong giải quyết án hình sự có tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai, TAND tối cao cần tập trung xây dựng hệ thống án lệ đối
với các vụ án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở tổng kết kinh
nghiệm của TAND các cấp.
3.2.3.Nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận và xử lý thông tin
21
Cơ quan Công an cần nâng cao chất lượng tiếp nhận thông tin từ
đường dây nóng để mọi người dân có thể cung cấp thông tin khi có tội
phạm xảy ra.
Đồng thời phải có nhiều hình thức mới để thu nhận thông tin của
nhân dân.
Nghiên cứu triển khai trung tâm tiếp nhận xử lý tin báo để có thể
kết nối rộng và xử lý nhanh khi có tội phạm xảy ra.
3.2.4. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh, xử lý tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản
Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống với tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một yêu cầu cấp bách.
Kết luận chương 3
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận về định tội danh tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản ở Chương 1 và kết quả đánh giá thực trạng hoạt động
định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí
Minh trong những năm vừa qua, Chương 3 của luận văn đã đề xuất một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm thống nhất về mặt nhận thức
pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng mà trực tiếp là Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán từ đó việc định tội được đúng tội danh ngay từ
khi khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử loại tội phạm này. Mặt khác, trọng
chất lượng của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Nguyên nhân chủ
yếu của thực trạng này là do tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một loại tội
phạm phức tạp, được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác
nhau, trong khi đó một số quy định của BLHS, với tư cách là căn cứ pháp
lý cho việc định tội danh đối với tội phạm này còn có những điểm chưa phù
hợp với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội, nhất là các quan hệ xã hội
trong lĩnh vực sở hữu, đồng thời chưa đáp ứng được lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi quyền sở hữu bị xâm phạm.
3. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã phân tích, làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về định tội danh nói chung và định tội danh
đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng; khảo sát, đánh giá thực tiễn
23