(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ XUÂN THU

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ XUÂN THU

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ
CHÍNH SÁCH CÔNG

THỰC TIỄN XÃ VĨNH LỘC A, HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
KHÓA VII ĐỢT 2 - 2017

Hà Nội -2019

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ XUÂN THU

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ
THỰC TIỄN XÃ VĨNH LỘC A, HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Chính sách công

ngày càng được coi trọng; Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường
đã dần được hoàn thiện và được triển khai áp dụng vào thực tế; Các hoạt động
tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường được chú trọng; Nhận
thức, ý thức, trách nhiệm của các ngành, các đơn vị và người dân đã được
nâng lên; Một số đơn vị cơ sở đã chú trọng đầu tư trang thiết bị xử lý nguồn
thải; Nhà nước chú trọng tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra
3


phát hiện và xử lý những vi phạm về bảo vệ môi trường, tiếp nhận, giải quyết
những đơn thư khiếu nại về môi trường.
Việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của
phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới mới. Bên cạnh những kết quả đã
đạt được công tác bảo vệ môi trường vẫn còn. Tuy nhận thức của người dân
về bảo vệ môi trường đã được nâng lên song vẫn còn hạn chế, nhiều người vì
lợi ích trước mắt mà sẵn sàng hủy hoại môi trường. Vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường vẫn xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt nhiều cơ sở sản
xuất vì để nâng cao mức lợi nhuận, vẫn chưa chấp hành nghiêm việc thực
hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, chất thải không được xử lý mà thải
trực tiếp ra môi trường. Các cơ sở sản xuất này vẫn mọc lên ngày càng nhiều,
chủ yếu ở những vùng ngoại thành đang phát triển, không những gây ô nhiễm
môi trường xung quanh, ảnh hưởng sức khỏe con người, mà còn gây khó khăn
rất nhiều cho việc quản lý của chính quyền địa phương. Việc này đòi hỏi
chính quyền địa phương phải không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời kết hợp chặt chẽ với quản
lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại để sớm phát hiện những cơ sở sản xuất
kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm.
Nhờ hệ thống chính sách, pháp luật từng bước được hoàn thiện và đẩy
mạnh cải cách thủ tục hành chính, mà nhiều vấn đề bức xúc của người dân,
doanh nghiệp được giải quyết kịp thời; tăng cường công khai, minh bạch,

Đà Nẵng”, Luận văn thạc sỹ, ngành Kinh tế học, Trường Đại học kinh tế Quy
Nhơn.
- Vũ Hải Trang “Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà
nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi
trường do tác động của rác thải công nghệ”, luận văn thạc sỹ, Trường đại học
khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
5


- Nguyễn Anh Dũng (2016) “Chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn tỉnh
Bình Phước”, luận văn Thạc sỹ, ngành chính sách công, học viện khoa học xã
hội, Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đầu tiên làm rõ về cơ sở lý luận của thực hiện các chính sách bảo vệ môi
trường.
- Làm rõ thực trạng thực hiện Chính sách Bảo vệ môi trường từ thực tiễn xã
Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện Chính sách Bảo vệ môi
trường từ thực tiễn xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí
Minh
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện Chính sách Bảo vệ môi trường từ thực tiễn
xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện Chính sách Bảo vệ môi trường
từ thực tiễn xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: thực hiện Chính sách Bảo vệ môi trường xã Vĩnh
Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Trên địa bàn xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

cấp các căn cứ thực tiễn và các giải pháp phù hợp với đường lối Chính sách
Bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước nhằm tổ chức thực hiện có hiệu
quả tốt trong Bảo vệ môi trường. Nếu những ai quan tâm đến vấn đề bảo vệ
môi trường thì luận văn này có thể dùng làm tài liệu tham khảo.
7. Kết cấu của luận văn

7


Phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn có
03 Chương, 12 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ Môi trường.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại xã Vĩnh
Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ
Môi trường tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

8


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Một số khái niệm liên quan.
1.1.1. Khái niệm
Quy định tại điều 3 Luật bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày
23/6/2014 của Quốc hội quy định :
“1. Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
2. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.

11. Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi
xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô
nhiễm.
12. Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc hoạt động khác.
13. Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm,
dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.
14. Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ,
thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
15. Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại,
thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.
16. Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản
phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm
nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác.
17. Sức chịu tải của môi trường là giới hạn chịu đựng của môi trường đối với
các nhân tố tác động để môi trường có thể tự phục hồi.

10


18. Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý
ô nhiễm.
19. Hồ sơ môi trường là tập hợp các tài liệu về môi trường, tổ chức và hoạt
động bảo vệ môi trường của cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh và
dịch vụ theo quy định của pháp luật.
20. Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi
trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá
hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi
trường.
21. Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường để bảo tồn,

Quy định tại điều 4 Luật bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày
23/6/2014 của Quốc hội quy định :
“1. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức,
hộ gia đình và cá nhân.
2. Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội,
bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học,
ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong
môi trường trong lành.
3. Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm
thiểu chất thải.
4. Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và
toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh
quốc gia.
5. Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,
lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
6. Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên
phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường.
12


7. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng
lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường.
8. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường
phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của
pháp luật.”
1.3. Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường
Quy định tại điều 5 Luật bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày
23/6/2014 của Quốc hội quy định :
“1. Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt
động bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bảo vệ

dưới các văn bản sau: Luật Tài nguyên nước ban hành ngày 21 tháng 06 năm
2012; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; Nghị
định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy
định về sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoán
sản; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm 2014 của chíng phủ
về thoát nước và sử lý nước thải; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng
08 năm 2014 của chíng phủ về thoát nước và sử lý nước thải; Thông tư số
24/2010/TT-BXd ngày 24 tháng 12 năm 2010 của bộ xây dựng về hướng dẫn
việc tổ chức triển khai đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải rắn vùng liên tỉnh;
Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 05 năm 2014 của bộ TNMT
quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hộ sơ cấp gia hạn, điều
chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước; Thông tư số 40/2014/TT-BTNMT
ngày 11 tháng 07 năm 2014 của Bộ TNMT quy định việc hành nghề khoan
nước dưới đất; Thông tư số 56/2014/TT-BTNMT ngày 24 tháng 09 năm 2014
của Bộ TNMT quy định điều kiện về năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện
điều tra cơ bản tài nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước, lập đề
14


án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước; Thông tư số
04/2015/TT-BXD ngày 03 tháng 04 năm 2015 của bộ xây dựng hướng dẫn thi
hành một số điều nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm 2014
của chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải.
Lập và quản lý bản đồ ngập úng đô thị theo kịch bản biến đổi khí hậu, bản
đồ dự báo các khu vực có nguy cơ ngập lụt, sạt lở, lũ quét…tại các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, khu vực duyên hải và miền núi.
Chính sách giáo dục và truyền thống: nâng cao vai trò của giáo dục và
truyền thống trong công tác phổ biến các kiến thức cơ bản và thoát nước mưa,
thu gom và xử lý nước thải, biến đổi khí hậu nhằm bảo vệ môi trường sống

Công nghệ khoa học về môi trường là một lĩnh vực khoa học mới,
thực sự nó xuất hiện và được phát triển mạnh từ những năm 1960 trở lại
đây, làm cơ sở cho nghiên cứu, đúc kết rút kinh nghiệm, phát hiện những
nguyên lý, quy luật môi trường giúp cho việc thực hiện quản lý môi trường.
Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ
thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới giúp
cho việc Quản lý môi trường hiệu quả hơn.
- Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường
Nền Kinh tế thị trường mọi nguyên lý hoạt động được dựa trên cơ sở
cung và cầu của thị trường, thông qua cạnh tranh, hoạt động phát triển và sản
xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo giá trị.
Những hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh,
ngược lại những hàng hoá kém chất lượng và giá thành cao thì sẽ không có
chỗ đứng. Trên cơ sở những nguyên lý của kinh tế thị trường, người ta đã
đưa ra các chính sách hợp lý và các công cụ kinh tế để điều chỉnh và định
hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường.
- Cơ sở luật pháp cho Quản lý môi trường
16


Cho đến nay đã có hàng ngàn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong
số đó đã có nhiều văn bản được chính phủ Việt Nam ký kết.
* Quản lý Nhà nước về môi trường
- Khái niệm Quản lý Nhà nước về môi trường
Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà
nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện
pháp, luật pháp, chính sách Kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ
chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia.
* Tính tất yếu khách quan của Quản lý Nhà nước về môi trường
+ Vấn đề ngoại ứng và hàng hoá công cộng.

qua cho thấy tính chất biến đổi rất phức tạp, thất thường. Diễn biến nhiệt độ
đang có xu thế tăng lên với đặc điểm là giá trị phân hoá mạnh theo cả không
gian và thời gian. Lượng mưa phân bố không đều, nhiều vùng lượng mưa tập
trung khá lớn dẫn đến lũ lụt. Một số nơi như vùng Tây nguyên, vùng Bắc
trung bộ thiếu mưa nghiêm trọng dẫn đến hạn hán. Nhìn chung, trong 40
năm gần đây lượng mưa ở miền Bắc có xu hướng giảm nhẹ, ngược lại lượng
mưa ở miền Trung và miền Nam có xu hướng tăng. Bão, lũ, lụt diễn biến
phức tạp, thường xuất hiện sớm với cường độ mạnh.
Những đánh giá trên cho thấy xu hướng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
theo chiều hướng xấu.
Môi trường không khí:
Môi trường không khí chịu tác động mạnh mẽ của quá trình công
nghiệp hoá và đô thị hoá, thực tế cho thấy chất lượng không khí ở đô thị và
các khu công nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây có sự thay đổi
không đáng kể. Đáng chú ý nhất đối với môi trường không khí là ô nhiễm
bụi có tính điển hình và phổ biến ở khắp nơi. Nồng độ bụi trung bình ở hầu
hết các đô thị đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần, cá biệt có nơi vượt
18


tiêu chuẩn cho phép tới 5-7 lần. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô
nhiễm bụi là do thi công xây dựng mới và sửa chữa nhà cửa, đường sá, cống
rãnh, hạ tầng kỹ thuật đô thị xảy ra thường xuyên và không quản lý tốt.
Môi trường không khí ở Việt Nam chưa bị ô nhiễm bởi các khí độc hại
như SO2, NO2, CO. Tuy nhiên ở một số nút giao thông lớn, nồng độ chì và
khí CO đã xấp xỉ hoặc vượt trị số tiêu chuẩn cho phép. Chất lượng không khí
ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa nhìn chung còn rất tốt, nhiều
nơi môi trường trong lành, phù hợp với mục đích an dưỡng, du lịch và nghỉ
ngơi.
Môi trường đất:

Môi trường nông thôn
Xem xét về mức độ ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn có
những vấn đề nổi lên như ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng
kỹ thuật yếu kém. Việc sử dụng không hợp lý các loại hoá chất trong nông
nghiệp (phân hoá học và thuốc trừ sâu) đã và đang làm cho môi trường nông
thôn ô nhiễm và suy thoái. Hiện nay ở nước ta có khoảng trên 1000 làng
nghề. Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề và các cơ sở chế
biến ở một số vùng nông thôn, do công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản
xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong dân và hầu như không có thiết bị thu gom,
xử lý chất thải, đã gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt nghiêm
trọng là ở các làng nghề tái chế kim loại (tái chế chì, thép, đúc đồng), tái
chế ni lông, sản xuất giấy, nhuộm, vàng mã, nung gạch, ngói, sành sứ v.v….
Đối với phần lớn các khu vực nông thôn, nước sinh hoạt và vệ sinh là vấn
đề cấp bách, điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn chưa được cải thiện
đáng kể, tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30% và số hộ ở nông
thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30-40%.
Môi trường đô thị và khu công nghiệp
20


Ô nhiễm môi trường đô thị ở nước ta nổi lên những vấn đề cơ bản sau
đây: ô nhiễm do chất thải rắn, tỷ lệ thu gom rác thải tính trung bình ở các đô
thị mới đạt khoảng 60-70%, đặc biệt là chất thải nguy hại chưa được thu gom
và xử lý theo đúng quy định. Bụi, khí thải, tiếng ồn do hoạt động giao thông
vận tải nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ, cùng với hạ tầng kỹ
thuật đô thị yếu kém là nguyên nhân làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở
nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng đáng báo động. Mức ô nhiễm về
bụi ở nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đặc biệt tại một số thành
phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị khác nồng độ
bụi vượt tiêu chuẩn cho phép 5-7 lần. Do phát triển xây dựng đô thị không

dân cư tập trung, đặc biệt là tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, gặp phải
nhiều vấn đề bức xúc như thiếu nhà ở, thiếu điều kiện vệ sinh môi trường,
các hiện tượng ma tuý, bạo lực có chiều hướng gia tăng, nhiều tệ nạn xã hội
phát sinh nếu không có một sự quản lý chặt chẽ và chính sách phù hợp cho
các khu vực đó.
Những sự cố môi trường
Những năm gần đây sự cố môi trường xảy ra liên tục đã gây ra những
thiệt hại hết sức nặng nề. Tai biến thiên nhiên có xu hướng gia tăng , hiện
tượng lũ quét, lụt, bão, lốc, mưa đá, hạn hán, nứt dất, xói lở bờ sông, bờ
biển trong thập niên vừa qua đã gây ra những thiệt hại to lớn về người, nhà
cửa, tài sản, mùa màng ở nhiều nơi.
Xem xét các vụ cháy rừng từ những năm 1999 trở lại đây cho thấy
những năm 1999, 2000, và 2001 sự cố cháy rừng có chiều hướng giảm,
nhưng năm 2002 lại có xu hướng tăng lên do ảnh hưởng của khí hậu khô
nóng và hoạt động thiếu ý thức của con người.
Những sự cố do con người gây ra mà điển hình là các sự cố tràn dầu
vẫn tiếp tục xảy ra chưa có sự ngăn chặn triệt để. Năm 1998 đã xác định
22


được 6 vụ với tổng lượng dầu tràn là gần 13.000 tấn, năm 1999 xảy ra 10 vụ
với tổng lượng dầu tràn là gần 8.000 tấn dầu, trong năm 2000, 2001 và 2002
mỗi năm xảy ra 1-3 vụ, với tổng lượng dầu tràn từ 24-800 tấn.
Những hậu quả của chất độc hoá học do chiến tranh để lại còn hết sức
nặng nề, hàng vạn trẻ em bị dị tật bẩm sinh, hàng triệu ha rừng bị suy thoái
đến nay vẫn chưa phục hồi được.
Những vụ ngộ độc thực phẩm có chiều hướng ngày càng gia tăng và
gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hàng vạn người. Tác động không
nhỏ tới sức khoẻ và lao động của người dân.
+ Những thách thức đối với môi trường của Việt Nam trong thời gian tới.

Phân công rõ rang cụ thể, có sự phối kết hợp từ trên xuống, từ dưới lên.
1.4.4. Duy trì chính sách
Thường xuyên duy trì chính sách, vì nó là công cụ quản lý của Nhà
nước.
1.4.5. Điều chỉnh chính sách
Điều chỉnh chính sách bảo vệ môi trường kịp thời nếu chính sách đưa
ra mà không phù hợp với thực tế.
1.4.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, chấn chỉnh kịp thời để chính sách
được áp dụng một cách có hiệu quả nhất.
1.4.7. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách
Định kỳ 6 tháng, năm tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm. Phát triển nhân
rộng những chính sách phù hợp, có hiệu quả. Đồng thời bãi bỏ những chính
sách không phù hợp. Kịp thời khen thưởng những gương điển hình trong công
tác bảo vệ môi trường, bên cạnh đó xử phạt nghiêm những trường hợp đe dọa,
ảnh hưởng xấu đến môi trường.
24


1.5. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường.
1.5.1. Yêu cầu về bảo vệ môi trường
Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước quan
tâm, có những quan điểm cần phải thực hiện trong quá trình phát triển kinh tế,
xã hội của đất nước những yêu cầu đó được thể hiện như sau:
Môi trường sống rất quan trọng đối với con người, sinh vật, cần tích cực
bảo vệ môi trường sống. Như bảo vệ sinh mạng của con người vậy.
1.5.2. Yếu tố chủ quan
Nhóm yếu tố giữ vai trò chính đối với việc thực thi chính sách là những
yếu tố nòng cốt để xây dựng nền móng cho chính sách bảo vệ môi trường
đảm bảo tính khách quan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status