Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh bình phước - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG XUÂN LƯU

THU THẬP, ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ
ÁN GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ THỊ KIM OANH

Hà Nội - 2019


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính mạng con người là vô giá, bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ. Điều
19 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được
pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Cụ thể hóa quy định của
Hiến pháp, BLHS nước ta quy định tội phạm giết người là loại tội đặc biệt nghiêm
trọng, có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Hành vi giết người không chỉ tước đi mạng
sống con người một cách trái pháp luật mà còn gây ra những hậu quả khác cho gia
đình, người thân của họ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình, hoang mang trong
dư luận quần chúng nhân dân. Chính vì vậy mọi hành vi phạm tội giết người đều phải
được điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh. Để đấu tranh với tội phạm giết người cơ
quan tiến hành tố tụng phải tiến hành nhiều các biện pháp khác nhau trong đó hoạt
động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra đóng vai trò vô cùng
to lớn trong việc chứng minh sự thật của vụ án.


đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có một số một số công trình khoa học và đề tài công
bố liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như:
* Những công trình lý luận chung của Luật tố tụng hình sự
- Trần Quang Tiệp, Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự năm 2017, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Anh – Phan Trung Hoài, Bình luận khoa học bộ luật tố tụng
năm 2015, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
* Những công trình liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu:
- Nguyễn Văn Đương, Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều
tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2000, Học
viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
- Hoàng Trung Thực, Hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong
điều tra các vụ án hình sự theo chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân công an

2


tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2015,
Học viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
- Võ Minh Cảnh, Hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ của lực lượng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Dương trong điều tra vụ

án giết người, Luận văn Thạc sỹ luật học năm 2017, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội.


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, tác giả cần đạt được các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận chung và lý luận cụ thể có liên quan đến tội
phạm giết người; hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội
phạm giết người; tình hình, đặc điểm hình sự tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh
- Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ

trong điều tra vụ án giết người từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bình
Phước từ đó rút ra nhận xét, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.
- Dự báo tình hình tội phạm giết người nói chung và đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
nói riêng trong những năm tới .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn chính là thực trạng hoạt động thu
thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sâu về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng
chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ
thực tiễn tỉnh Bình Phước.
- Không gian: Trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
- Thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

4


6.2. Ý nghĩa thực tiễn

5


Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao nhận thức và quy trình,
biện pháp công tác đối với các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền trong quá
trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam từ địa bàn tỉnh Bình phước và có thể dùng làm tài liệu
tham khảo cho các đơn vị, địa phương khác trong phạm vi cả nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luận văn được cấu trúc thành 03 chương
Chương 1: Nhận thức chung về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng
cứ trong vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật về thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn
áp dụng tại Bình Phước
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng
chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

6


Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ,
SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI
1.1. Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều

tra vụ án hình sự

chứng cứ vào quá trình chứng minh tội phạm mà tất cả những người tham gia tố
tụng đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của mình, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan. Đối với quy định quyền và
nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; nguyên đơn dân sự; bị
đơn dân sự; người bào chữa đều có quyền: “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu,
đồ vật liên quan và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng kiểm tra, đánh giá những chứng cứ ấy”. Đồng thời cũng bổ sung thêm
các quyền và nghĩa vụ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bị hại, đương sự cũng có quyền “thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ”.
Chứng cứ có vai trò rất quan trọng đối với việc chứng minh của cả cơ quan
tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra VAHS. Chứng cứ có
những thuộc tính sau đây:
Thứ nhất: Tính khách quan: Tính khách quan của chứng cứ là tính có thật, tức là
những thông tin chứa đựng trong các dấu vết, đồ vật, tài liệu, lời khai phản ánh về VAHS
phải tồn tại một cách khách quan đúng như thực tế vụ án đã xảy ra, không phụ thuộc vào
ý thức chủ quan của con người và con người có thể nhận thức được. Những gì không có
thật, không tồn tại khách quan thì không được coi là chứng cứ. Con người phát hiện, thu

thập và tìm ra chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó.
Thứ hai: Tính liên quan: Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ
khách quan với những vấn đề phải chứng minh trong VAHS, giúp xác định một hay
nhiều tình tiết của vụ án góp phần làm rõ một phần hay toàn bộ những vấn đề phải
chứng minh trong VAHS.
Thứ ba: Tính hợp pháp: Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ, chứng
cứ phải được thu thập, xác định từ những nguồn và bằng biện pháp theo đúng trình
tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

8

tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, trong nhiều vụ án, việc chỉ

9


đánh giá lời khai mà đưa ra quyết định có hay không hành vi phạm tội trong nhiều
trường hợp sẽ mang tính chủ quan và rất dễ dẫn đến oan sai. Lời khai ban đầu do cơ
quan điều tra thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà có được, sau đó trong quá trình
xét xử toà án tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp của nguồn chứng cứ này. Lời nhận tội
của bị can, bị cáo trong quá trình tiến hành tố tụng chỉ có thể được coi là chứng cứ
nếu phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án. Không được dùng
lợi nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất trong vụ án để kết tội họ. Mọi
lời khai của bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, so sánh, đối chiếu với các chứng
cứ khác
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay, tháo gỡ những
vướng mắc do thực tiễn đặt ra, BLTTHS 2015 đã bổ sung 03 loại nguồn chứng cứ mới:

Về dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng
tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
Loại chứng cứ này thường xuất hiện trong các vụ án liên quan đến công nghệ thông
tin, mạng viễn thông như đánh bạc qua mạng, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, những phương tiện điện tử thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
Việc thu thập loại chứng cứ này cũng đòi hỏi phải sử dụng nhiều biện pháp nghiệp
vụ và giám định chuyên ngành mới xác lập được chứng cứ điện tử. Thực tiễn đấu
tranh chống tội phạm cho thấy: các đối tượng đã lợi dụng triệt để sự phát triển
nhanh chóng, mạnh mẽ của khoa học, công nghệ để ứng dụng vào việc thực hiện và
che dấu hành vi phạm tội, nên để giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự, việc thu
thập các chứng cứ điện tử là rất quan trọng. Giá trị chứng minh của chứng cứ là dữ
liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi,
phát tán dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện

chống tội phạm hiện nay.
1.1.2. Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều
tra vụ án hình sự
Quá trình giải quyết VAHS thực chất là quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng
chứng cứ để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không? chứng minh sự có tội hoặc vô
tội của một con người cụ thể. Tất cả các sự việc và tình tiết của vụ án phải phù hợp với
hiện thực khách quan. Việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các sự kiện, tình tiết của vụ
án xảy ra được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các
chứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh trong VAHS.

11


Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng
hình sự, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành
tố tụng, chủ thể tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu, xem xét đầy đủ và toàn diện
các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra
chân lý sự thật khách quan. Như vậy, quá trình chứng minh trong VAHS thực chất là
quá trình giải quyết chứng cứ, mọi giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự đều xuất
phát từ chứng cứ. Vì vậy, chứng cứ có vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luận cũng
như trong thực tiễn của hoạt động tố tụng hình sự. Việc nhận thức đúng vấn đề
chứng cứ sẽ là cơ sở lý luận vững chắc, định hướng đúng đắn cho quá trình thu
thập, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ.
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự là
một chuỗi các hoạt động được thực hiện nhằm đạt được mục đích là làm sáng tỏ sự thật
của vụ án và các hoạt động đó được tiến hành trên cơ sở khoa học, cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về quy luật của các hiện tượng, sự việc trong thế giới
khách quan và con đường nhận thức các sự vật, hiện tượng ấy. Cụ thể:
- Thu thập chứng cứ: Thu thập chứng cứ là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi



trong mối quan hệ biện chứng với nhau để xác định nó đã giúp làm sáng tỏ vấn đề
gì trong vụ án trên cơ sở đó có kết luận về sự thật vụ án đã xảy ra, kết luận về tội
phạm và người phạm tội trong VAHS.
Mỗi chứng cứ phải được đánh giá toàn diện để xác định tính hợp pháp, xác
thực và liên quan đến vụ án, bảo đảm đủ để giải quyết các vấn đề trong VAHS.
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm là những chủ thể có
thẩm quyền xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm,
sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình
tiết của vụ án.
Chứng cứ trong VAHS nằm trong mối quan hệ biện chứng có liên quan mật thiết
với nhau. Xác định được mối quan hệ đó là điều kiện cần thiết đối với việc xác định sự
thật khách quan trong vụ án hình sự. Việc đánh giá chứng cứ phải dựa vào các cơ sở
như: Phải dựa trên các quy định của LHS như những quy định về tội phạm, cấu thành
tội phạm, quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… để làm
cơ sở đánh giá những chứng cứ đã thu thập trong vụ án, phải dựa trên các quy định của
LTTHS để xác định tính hợp pháp của các chứng cứ cũng như giá

13


trị chứng minh của các chứng cứ. Ngoài ra phải dựa vào niềm tin nội tâm, trình độ,
năng lực, kinh nghiệm, sự hiểu biết về xã hội cũng như trách nhiệm và lương tri của
người tiến hành tố tụng.
- Sử dụng chứng cứ: là hoạt động của người tiến hành tố tụng nhằm sử dụng
những tài liệu đủ tính pháp lý thu được trong quá điều tra VAHS để chứng minh có
hay không có hành vi phạm tội, làm rõ sự thật vụ án.
Đây là hoạt động mang tính quyết định của điều tra viên trong quá trình điều
tra VAHS. Việc lựa chọn, cân nhắc sử dụng chứng cứ, trong từng thời điểm và
trường hợp cụ thể như: lấy lời khai của đối tượng, hỏi cung bị can, đối chất, nhận

đối đơn giản. Ví dụ: Hành vi giết người được Pháp lệnh quy định như sau: “Kẻ nào
giết người thì bị phạt tù…”.
Đến năm 1985 khi BLHS đầu tiên của nước ta được ban hành lúc này hành
vi giết người được quy định tại Điều 101 như sau: “Người nào giết người thuộc một
trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù
chung thân hoặc tử hình …”. Đến BLHS 1999 tội giết người được kế thừa theo quy
định của BLHS 1985 tại Điều 93.
BLHS 2015 (sửa đổi 2017) Chương XIV quy định về các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm của con người cụ thể Điều 123 quy định Tội
giết người như sau:
Khoản 1 quy định: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau
đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết 02 người
trở lên; b) Giết người dưới 16 tuổi; c) Giết phụ nữ mà biết là có thai; d) Giết người
đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ,
người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc
ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn
nhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l)
Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giết
người thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.
Khoản 2 quy định như sau: Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

15


Khoản 3 quy định: Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến
5 năm.



thì vẫn coi là người sống. Vì vậy, khi người phụ nữ mang thai (cái thai còn đang
trong bụng người mẹ) thì hành vi phá thai không phạm vào tội giết người, nhưng
khi cái thai đó ra khỏi bụng người mẹ, đứa trẻ chào đời và vì một lí do nào đó mà
một người đã thực hiện hành vi giết đứa trẻ thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội giết người; ngược lại, sau khi sự sống đã chấm dứt đối với một người thì các
hành vi xâm hại đến thi thể nạn nhân cũng không bị xem là xâm phạm quyền được
sống và không phạm vào tội giết người.
Khách thể của tội phạm giết người trực tiếp xâm phạm quyền sống của con
người. Đối tượng tác động của tội phạm giết người chính là thân thể của con người
đang sống.
Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm giết người
Mặt khách quan của tội phạm là những yếu tố được thể hiện ra bên ngoài tội
phạm. Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, thời
gian, địa điểm, phương thức phạm tội, phương tiện và công cụ tiến hành tội phạm,
hậu quả do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Các Mác đã từng nói: “Ngoài những hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không
tồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó” [Các Mác và
Ăngghen toàn tập, tập 1 NXB Sự thật, Hà Nội năm 1978]. Nếu một người có ý định
giết người nhưng chưa thể hiện ý định đó ra thế giới khách quan bằng hành vi cụ thể thì
họ không phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ khi nào họ bắt tay vào việc thực hiện

ý định giết người, nghĩa là ý định của họ đã được thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi
khách quan thì họ mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong mặt khách quan của tội phạm giết người phải có các dấu hiệu: Hành
vi, hậu quả, mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả. Hành vi trong mặt khách quan của
tội giết người là hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác trái pháp luật, trong
hành vi phạm tội, người phạm tội đã biểu hiện được ý chí phạm tội ra thế giới khách
quan. Hành vi này là hoạt động có ý thức và ý chí, có tính nguy hiểm cao cho xã hội

quả xảy ra phải có mối liên hệ nhân quả, hành vi đó phải chứa đựng khả năng thực tế
làm phát sinh hậu quả chết người đối với chính nạn nhân. Hành vi phải có mối quan hệ
nội tại, tất nhiên đối với hậu quả; hậu quả đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả
năng thực tế làm phát sinh hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra.
Thực tế xét xử đã chứng minh không phải bất cứ một hành vi

18


phạm tội nào (dù chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người)
cũng đều gây ra hậu quả chết người, trong nhiều vụ án hậu quả chết người xảy ra do
nhiều nguyên nhân khác nhau. Thực tiễn, có vụ án do các cơ quan tiến hành tố tụng
đã không xác định đúng mối liên hệ nhân quả dẫn đến làm oan sai người vô tội. Vì
thế, khi cân nhắc, đối chiếu một cách toàn diện và biện chứng mọi tình tiết khách
quan của vụ án cần phải đặc biệt chú ý đến mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và
hậu quả để xét xử cho chính xác.
Các dấu hiệu khác trong mặt khách quan như: thời gian, địa điểm và hoàn
cảnh phạm tội không có tính chất bắt buộc trong cấu thành tội giết người. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp các dấu hiệu này có ý nghĩa bắt buộc trong định
khung hoặc quyết định hình phạt.
Thứ ba, về mặt chủ quan của tội giết người
Thực tiễn cho thấy có những hành vi khách quan giống nhau gây hậu quả
chết người cũng xảy ra nhưng có trường hợp người phạm tội đã phạm tội giết người
và có trường hợp lại không phạm phải tội này vì diễn biến bên trong của tội phạm
khác nhau. Vì vậy, việc xác định mặt chủ quan trong tội giết người rất quan trọng.
Mặt chủ quan bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội.
Lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của mọi tội phạm. Tội giết người
luôn luôn được thực hiện bằng lỗi cố ý. Chủ thể của tội giết người có thể thực hiện
tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp hoặc với lỗi cố ý gián tiếp. Điều 10 BLHS 2015 quy
định: “cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp sau đây: Người phạm tội nhận

các văn bản hướng dẫn về phân công, tổ chức hoạt động điều tra quy định Cơ quan
Cảnh sát điều tra gồm lực lượng Cảnh sát hình sự, Cảnh sát phòng, chống tội phạm
về ma túy, Cảnh sát kinh tế được xác định là Cơ quan điều tra chuyên trách có trách
nhiệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ nhằm giải quyết vụ án một cách nhanh
chóng, kịp thời, hiệu quả. Ngoài cơ quan Cảnh sát điều tra thì Kiểm sát viên, Thẩm
phán, Hội thẩm và những người tham gia tố tụng khác cũng có thể tiến hành thu
thập chứng cứ.
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người được tiến
hành ngay từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố về tội
phạm giết người và kết thúc sau khi có bản kết luận điều tra đề nghị truy tố người phạm
tội hoặc đình chỉ vụ án, nếu xét thấy sự việc xảy ra chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm
giết người. Trong khoảng thời gian đó, lực lượng Cảnh sát điều tra được áp

20


dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật TTHS để thu thập thông tin, tài liệu
phục vụ cho việc chứng minh làm rõ sự thật vụ án, như: Khám nghiệm hiện trường,
khám nghiệm tử thi, khám xét, trưng cầu giám định, lấy lời khai người bị hại còn
sống, lấy lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can…
Nếu thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người có thể được tiến hành
bởi các chủ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thì hoạt
động đánh giá và sử dụng chứng cứ là hoạt động chỉ được tiến hành bởi các cơ quan
tiến hành tố tụng trong việc xem xét, cân nhắc và áp dụng để giải quyết vụ án.
Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có
liên quan đến vụ án giết người.
Về bản chất, thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết
người là hoạt động có mục đích nhằm chứng minh làm rõ sự thật về vụ án giết người đã
xảy ra trên thực tế. Từ sự phân tích trên có thể hiểu hoạt động thu thập, đánh giá, sử

Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo tính đúng đắn và hiệu quả cho hoạt
động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người.
Khoản 1 Điều 2 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về cơ sở
của trách nhiệm hình sự như sau: “Chỉ người nào phạm một tội được Bộ luật hình
sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [Bộ luật hình sự, tr 1]. Điều này có
nghĩa chỉ người nào thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái
pháp luật được quy định tại một điều luật cụ thể trong Bộ luật hình sự mới phải chịu
trách nhiệm hình sự, còn những hành vi mặc dù trong thực tế đã gây hậu quả
nghiêm trọng cho xã hội nhưng hành vi ấy chưa được quy định trong Bộ luật

22


hình sự thì không được phép tiến hành các biện pháp ngăn chặn, khởi tố, điều tra...
với những hành vi này. Tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS năm 2015
(sửa đổi 2017). Do đó, khi một người có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của
người khác một cách trái pháp luật xảy ra trên thực tế thì trong chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình các cơ quan tố tụng phải tiến hành các hoạt động theo quy
định pháp luật TTHS nhằm thu thập chứng cứ làm rõ vụ án.
Trách nhiệm xác định sự thật của vụ án giết người trên thực tế được xác định
tại Điều 15 BLTTHS như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa
vụ buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp
khác nhau để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ,
làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và
tình tiết giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội” [BLTTHS, tr.5]. Đây là một trong
những cơ sở quan trọng để Cơ quan điều tra mà cụ thể là Điều tra viên trong quá
trình điều tra làm rõ sự thật của vụ án giết người được tiến hành các hoạt động, biện
pháp điều tra theo quy định của Luật TTHS, như: Khám nghiệm hiện trường, khám

vấn đề có liên quan đến vụ án”. [25, tr. 37]. Cơ sở của quá trình kiểm tra, đánh giá
chứng cứ được quy định tại Điều 108 BLTTHS cụ thể như sau: “1. Mỗi chứng cứ
phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến
vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết
vụ án hình sự.
2. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ
đã thu thập được về vụ án”.
Bên cạnh đó những quy định trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm
2015 quy định về thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Công an nhân dân; Thông tư
28/2014/TT-BCA ngày 7/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác điều
tra hình sự trong Công an nhân dân; Quyết định 1319/QĐ-BCA ngày 20/3/2015 của Bộ
trưởng Bộ Công an ban hành Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân;… Tất cả các quy phạm pháp luật
trong các văn bản nói trên chính là cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động thu thập,
đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người. Ngoài việc quy

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status