Áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THÀNH LONG

ÁP DỤNG ÁN TREO ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THÀNH LONG

ÁP DỤNG ÁN TREO ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS VÕ KHÁNH VINH

thành niên phạm tội ...............................................................................................49
2.2. Kết quả áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn
tỉnh Bình Phước.....................................................................................................51
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ÁN TREO
ĐÚNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN ...............................................64
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng án treo đúng đối với người chưa thành niên
phạm tội .................................................................................................................64
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng án treo đúng đối với người chưa thành niên
phạm tội .................................................................................................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................80


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

NCTN

: Người chưa thành niên

NCTNPT

: Người chưa thành niên phạm tội

chức thực hiện nhiều chính sách tầm chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng và
đã đào tạo được những lớp người giàu lòng yêu nước, có sức khỏe, có văn hóa, hết
lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn đất nước đổi mới, cùng với nhiều chính sách kinh tế, xã hội
được ban hành, Nhà nước ta đã phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (ngày
20-2-1990), là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công
ước này. Điều đó đã làm thay đổi khá nhanh nhận thức và hành động đối với trẻ em
về thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam. Chúng ta đã ban hành luật, chính sách, văn
bản hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn, chương trình hành động, chương trình
mục tiêu, các dự án, xây dựng tổ chức bộ máy, bố trí và đào tạo cán bộ quản lý, xây
dựng và phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ
em. Nhờ đó công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có những chuyển biến
tích cực. Sự nghiệp này được kết tinh bởi tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
công tác giáo dục “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Chính sách chăm sóc,
bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được
sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ,
tinh thần và đạo đức; …”
Tuy nhiên, vấn đề người chưa thành niên phạm tội hiện nay vẫn đang thu hút
sự quan tâm của xã hội và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Trong những năm gần đây,
tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật, người chưa thành niên phạm tội
gia tăng, sự trẻ hóa của tội phạm chưa thành niên đòi hỏi phải có những biện pháp
thích hợp, không chỉ nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội mà còn nhằm để bảo vệ
sự phát triển bền vững của cộng đồng trong tương lai. Trong khi đó BLHS năm
1


1999 là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu nhằm đấu tranh phòng ngừa tội
phạm. Các tội phạm rất phong phú và đa dạng, khác nhau về tính chất và mức độ

trong thời gian thử thách.

2


Từ những phân tích trên đây thì việc nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn
diện về chế định án treo đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như thực tiễn
áp dụng tại ở tỉnh Bình Phước là cần thiết góp phần hoàn thiện hơn các quy định về
án treo và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng án treo trên thực tế. Với ý nghĩa
đó, tác giả chọn và nghiên cứu "Áp dụng án treo đối với người chưa thành niên
phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước" để làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Án treo là một chế định đặc biệt của pháp luật hình sự và việc áp dụng chế
định này có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước
đối với người phạm tội. Vì vậy, đề tài cũng đã được rất nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau.
Ở cấp độ giáo trình, có: Giáo trình Luật hình sự của Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội... Trong các giáo trình Luật hình sự này chế định án treo mới chỉ cập nhật ở
mức độ cơ bản.
Ở cấp độ bình luận khoa học, phân tích chuyên sâu, có: "Tội phạm học, luật
hình sự và tố tụng hình sự’’, của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, "Hình
phạt trong luật hình sự Việt Nam" (sách chuyên khảo của tập thể nghiên cứu khoa
học của Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1995, "Chế
định án tích và mô hình lý luận của nó" của GS.TSKH Lê Cảm; luận văn thạc sĩ của
tác giả Nguyễn Hữu Nhuận với đề tài: "Án treo trong luật hình sự Việt Nam" và một
số cuốn sách chuyên khảo như "Án treo trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả
Phạm Thị Học, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1996, "Chế định án treo
trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Lê Văn Luật do Nhà xuất bản Tư pháp ấn

NCTNPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Đồng thời thông qua việc nghiên cứu đề tài tác giả mong muốn đưa ra các
yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng án treo đúng đối với NCTNPT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng án treo
đối với NCTNPT từ thực tiễn tỉnh Bình Phước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật hình
sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội; Thực tiễn áp dụng án treo đối với
người chưa thành niên phạm tội;
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu việc áp dụng quy định pháp luật hình sự
Việt Nam về áp dụng án treo đối với NCTNPT từ năm 2011 đến 2015;
- Về không gian, đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng án treo đối với
NCTNPT tại địa bàn tỉnh Bình Phước.

4


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu triển khai trên cơ sở hệ thống các quan điểm của
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hình phạt và giáo dục, cải tạo
con người; Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp luật hình sự nói chung,
chính sách hình sự nói riêng. Đặc biệt là các quan điểm về giáo dục, phòng ngừa tội
phạm do người chưa thành niên thực hiện.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp của triết học
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp
thống kê hình sự; Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp dựa trên các số liệu,

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng án treo đối với người
chưa thành niên phạm tội

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ÁN
TREO ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. Những vấn đề lý luận về áp dụng án treo đối với người chưa thành
niên phạm tội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội
1.1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Theo quy định của BLHS thì người chưa thành niên là những người chưa đủ 18
tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi
thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng
chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 của Bộ luật hình sự).
Vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật hình sự lại quy định người chưa đủ 14 tuổi
không phải chịu trách nhiệm hình sự và người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chỉ
phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm nhất định? Quy định này của BLHS
về mặt lý luận có thể hiểu, người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự
về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra vì người chưa đủ 14 tuổi trí tuệ chưa
phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của
mình, chưa đủ khả năng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành vi
nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện. Một hành vi được coi là không có lỗi cũng tức
là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự
(loại trừ trách nhiệm hình sự). Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được

- Dễ bị môi trường tác động
Đối với những NCTN có điều kiện, mức sống bình thường thì hoạt động xã
hội của họ ở giai đoạn này chủ yếu là môi trường học tập tại nhà trường. Tính cách
của các em thường phát triển theo khuynh hướng thích chứng tỏ đã là người lớn và
mong muốn người xung quanh thừa nhận; do vậy, thường gặp sai lầm trong khi
muốn xử lý gấp mọi vấn đề khó khăn gặp phải, nhằm chứng tỏ sự trưởng thành của
mình. Khác với người thành niên khi vi phạm pháp luật luôn có động cơ, mục đích
cụ thể, những NCTN thường vi phạm pháp luật với suy nghĩ rất đơn giản, thậm chí
chỉ do nguyên nhân hiếu thắng, không tự chủ, họ thường có xu hướng sử dụng bạo
lực thể chất, như gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích...
Như vậy, đặc điểm trước hết trong vi phạm pháp luật của NCTN hầu hết là
do tác động của môi trường, điều này cũng giải thích vì sao động cơ, mục đích vi
phạm pháp luật của NCTN thường là bộc phát, nhất thời và không rõ ràng. Cũng do
hành động a dua, hùa theo bạn bè làm trái pháp luật, nên vi phạm pháp luật của
NCTN còn có yếu tố vi phạm tập thể, tuy chưa đến mức vi phạm pháp luật có tổ

8


chức (vì thiếu dấu hiệu thống nhất ý chí, phân công thực hiện…), nhưng là cách
thức nhiều người cùng thực hiện một loại hành vi trái pháp luật, điều này thể hiện rõ
nhất trong các vụ gây rối trật tự công cộng, đua xe trái phép…
Ý nghĩa của đặc điểm này giúp ta khái quát được nguyên nhân cơ bản dẫn
đến vi phạm pháp luật của NCTN, từ đó có biện pháp chủ động trong ngăn chặn,
phòng ngừa vi phạm, tội phạm ở các lứa tuổi chưa thành niên.
- Nhận thức pháp luật hạn chế
Đây là đối tượng còn rất non nớt về kiến thức xã hội và ý thức pháp luật,
thường có trình độ văn hóa thấp, có quan niệm sai lệch về nghĩa vụ và trách nhiệm,
họ không ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nhiều trường hợp khi
bị bắt các em vẫn chưa biết mình phạm tội, nhưng sau khi được giải thích thì các

định được pháp luật bảo vệ. Ví dụ: Điều 116, BLHS quy định Tội dâm ô đối với trẻ
em: “Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ
sáu tháng đến ba năm”. Quy định này từ đầu đã loại ngay chủ thể là NCTN ra khỏi
cấu thành tội phạm. Nếu NCTNPT mà có hành vi dâm ô với trẻ em thì không chịu
trách nhiệm hình sự mà có thể bị xử lý bằng các quy phạm pháp luật khác.
Hoặc có những quan hệ xã hội mà dù có cố ý, NCTN cũng không thể tham
gia, không thể có điều kiện thực hiện hành vi trái pháp luật, như trong các quan hệ
pháp luật về chức vụ, về các hoạt động tư pháp hoặc quản lý kinh tế... Như vậy,
hành vi phạm tội của NCTN còn có đặc điểm là chỉ có thể xảy ra trong những môi
trường, hay nói cách khác là trong một số quan hệ xã hội nhất định.
1.1.2. khái niệm, bản chất pháp lý, những đặc điểm cơ bản của án treo và
việc áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội
1.1.2.1. khái niệm án treo
Án treo là một chế định pháp lý ra đời rất sớm trong quá trình xây dựng và
phát triển pháp luật hình sự Việt Nam. Tại Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/12/1946, án
treo được xác định là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Trước
khi BLHS năm 1985 ra đời, án treo luôn được quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật về hình sự. Các Pháp lệnh về trừng trị các tội phản cách mạng, Pháp lệnh
trừng trì các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, Pháp lệnh trừng trị các tội
xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; Sắc luật 003/SL của Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam v.v… đều có quy định về chế định án treo.
Quan niệm án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được
coi là một quan niệm thống nhất trong các văn bản pháp luật và trong nhận thức
chung của mọi người. Quy định về án treo tại Điều 44 Bộ luật hình sự 1985 là quy

10


định được pháp điển hóa đầu tiên của Pháp luật hình sự Việt Nam. Mặc dù BLHS
có những thay đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng chế định án treo vẫn được quy định

11


Công an), Bộ Tư pháp; Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20/12/1991 của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung, trong đó có một số hướng dẫn về án treo.
Như vậy, vấn đề áp dụng án treo luôn là vấn đề được quan tâm tương đối đặc
biệt trong suốt quá trình ra đời, phát triển. Một nét nổi lên là ở mỗi giai đoạn khác
nhau thì các hướng dẫn về án treo có những điểm không thật đồng nhất với nhau,
tạo ra sự nhận thức khác nhau trong áp dụng pháp luật về án treo. Đây cũng là vấn
đề bình thường của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự, hoàn thiện
từ những quy định riêng, nhóm quy định hoặc toàn thể các quy định để tạo ra một
bộ luật tương đối hoàn chỉnh.
BLHS 1999, tại điều 60 quy định "Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ
vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần
phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian
thử thách từ một năm đến năm năm" [15]. Như vậy, án treo là một biện pháp không
buộc người bị phạt tù phải chấp hành hình phạt tại trại giam, không buộc họ phải
cách ly khỏi xã hội, họ được tự cải tạo, giáo dục trong môi trường xã hội trong một
thời gian thử thách nhất định với sự giám sát, giáo dục và giúp đỡ của các cơ quan
hoặc chính quyền địa phương cùng gia đình người bị kết án. Hiện nay đã có nhiều ý
kiến khác nhau về án treo.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Án treo là án tù không phải thi hành ngay,
nhưng sẽ thi hành nếu trong thời gian quy định người bị kết án lại phạm tội và bị xử
án lần nữa". Quan điểm này chưa nêu rõ được bản chất pháp lý của án treo.
Từ điển Bách khoa toàn thư Mở (Wikipedia) định nghĩa: Án treo là chế định
pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt. Án treo được hiểu là việc
tạm thời miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, hình phạt đối với người vi phạm
luật ở mức độ ít nghiêm trọng, khi bị xử phạt tù không quá ba năm, có nhân thân
tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ (từ 2 tình tiết trở lên), và xét thấy không cần phải

tự do của mình so với những người bình thường khác, đó là phải chịu sự quản lý,
giám sát, giáo dục của gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc
chính quyền địa phương nơi người đó thường trú và họ luôn bị răn đe là nếu phạm
tội mới thì họ sẽ không được hưởng án treo nữa mà phải chấp hành hình phạt tù của
bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Án treo vẫn đảm bảo tính răn
đe nhưng lại có tác dụng khuyến khích người phạm tội vì nếu họ cải tạo tốt, không
vi phạm điều kiện thử thách thì sẽ không phải chấp hành hình phạt tù.

13


Vì người được hưởng án treo được tự giáo dục, cải tạo ngay trong môi
trường xã hội nơi họ vẫn sinh sống và lao động nên nó thu hút đông đảo thành viên
trong xã hội tham gia theo dõi, giúp đỡ, giáo dục và cải tạo người phạm tội, góp
phần xã hội hóa quá trình cải tạo người phạm tội. Điều này có hiệu quả rất cao, giúp
người bị kết án thêm tin yêu vào cuộc sống, khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp vốn
có của chính mình. Việc xã hội hóa quá trình cải tạo người phạm tội cũng chính là
góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm của quần chúng nhân dân.
Trong luật hình sự, hình phạt tù có tính nghiêm khắc, răn đe cao và mang
tính giáo dục, cải biến quan niệm, lối sống của phạm nhân một cách sâu sắc. Tuy
nhiên, việc áp dụng nó không phải là tối ưu trong mọi trường hợp, nhất là trong
điều kiện cơ sở vật chất trại giam còn hạn chế, chật hẹp và điều kiện cải tạo, giáo
dục người phạm tội trong trại giam nhiều nơi chưa được thực hiện tốt. Qua thực tiễn
cho thấy thì tỷ lệ người bị phạt tù chiếm một tỷ lệ rất lớn trong số các loại hình phạt
mà Tòa án đã tuyên đối với các bị cáo, bởi lẽ đây cũng là một trong những loại hình
phạt rất nghiêm khắc mà Tòa án vận dụng. Nếu tất cả các bị án phạt tù này đều
được đưa đi thi hành tại các trại cải tạo thì sẽ là một gánh nặng rất lớn đối với nhà
nước về vấn đề con người quản lý giáo dục, về cơ sở vật chất là rất tốn kém. Hơn
nữa, theo kết quả điều tra xã hội học và tội phạm học thì trong một số trường hợp
người phạm tội vào chấp hành hình phạt tù trong trại giam đã chịu ảnh hưởng xấu

mình ngay trong môi trường xã hội bình thường. Hình phạt tù đã tuyên sẽ được thi
hành nếu người phạm tội vi phạm điều kiện đã được ấn định trong thời gian thử
thách. Người phạm tội không vi phạm điều kiện của án treo trong thời gian thử
thách thì chứng tỏ họ đã trở thành người lương thiện, vì vậy không phải chấp hành
hình phạt tù đã tuyên trong bản án. Do đó cần khẳng định bản chất pháp lý của án
treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
1.1.2.3. Những đặc điểm cơ bản của án treo
Án treo có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, án treo là biện pháp giáo dục trong trường hợp không cần cách ly
người phạm tội khỏi cộng đồng khi bị xử phạt tù tương đối nhẹ đồng thời là một chế
định pháp lý độc lập thể hiện nguyên tắc nhân đạo và phương châm xử lý trong
chính sách hình sự của Nhà nước ta "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị
kết hợp với giáo dục, thuyết phục".
Thứ hai, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Theo
quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống hình phạt bao gồm bảy hình phạt
chính và chín hình phạt bổ sung (được quy định từ Điều 28 đến Điều 40 Bộ luật
hình sự năm 1999), trong đó có hình phạt tù có thời hạn. Người chịu hình phạt tù có

15


thời hạn có thể được hưởng án treo. Trong các loại hình phạt được quy định tại
Điều 28 Bộ luật hình sự không có quy định án treo, như vậy không thể coi án treo là
hình phạt. Vì mối quan hệ giữa án treo và tù có thời hạn nên nhiều người coi án treo
là hình phạt. Tuy nhiên án treo không phải là hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn
chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều đó có nghĩa là người được hưởng án treo
là người phạm tội phải chịu hình phạt tù có thời hạn nhưng được miễn việc chấp
hành hình phạt tù tại trại giam. Việc cho người phạm tội hưởng án treo là cho phép
họ tự cải tạo mà không phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội dưới sự kiểm tra, giám
sát của các cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương để họ tích cực cải tạo và

và kỷ cương xã hội.
1.1.3. Các nguyên tắc của việc áp dụng án treo đối với người chưa thành
niên phạm tội
1.1.3.1. Các nguyên tắc chung
Khi áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội, trước hết cần
phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
a. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh
và triệt để từ các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân. Để xây dựng một nhà
nước pháp quyền thì trước tiên và quan trọng hơn hết các cơ quan nhà nước khi
tham gia các quan hệ pháp luật phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và
trong việc áp dụng án treo cũng không ngoại lệ.
Áp dụng án treo là khâu cuối cùng của quyết định hình phạt. Do đó khi quyết
định hình phạt và cho người phạm tội được hưởng án treo, Tòa án phải tuân thủ
nghiêm chỉnh và triệt để các quy định của pháp luật hình sự. Đây là nguyên tắc cực
kỳ quan trọng, vì chỉ có thể áp dụng các nguyên tắc khác vào thực tiễn quyết định
hình phạt khi tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc này.
- Trước tiên, nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của BLHS cụ
thể là: Tại Điều 2 BLHS 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”; Điều 26 BLHS quy định:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong
BLHS và do Tòa án quyết định”; Điều 45 BLHS quy định “Khi quyết định hình
phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự…”. Ở phần các tội phạm cụ
thể, nguyên tắc pháp chế thể hiện qua các quy định cụ thể, rõ ràng từng khung hình
phạt cũng như loại hình phạt áp dụng cho từng tội phạm cụ thể.

17



phép Tòa án tuyên một mức hình phạt “dự trữ” quá mức cần thiết đối với bị cáo.

18


- Trong quyết định hình phạt, Tòa án cân nhắc đến một số tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự như: “…Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn
khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [12] Nguyên tắc này còn được thể hiện
thông qua các quy định về quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt
như: “…Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội,
đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội
hoặc khi xét xử” [12].
- Về mục đích của hình phạt, Điều 27 BLHS quy định: “Hình phạt không chỉ
nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã
hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa,
ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Mục đích của hình phạt là
nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm chứ không nhằm
mục đích đày đọa hay trả thù người phạm tội. Con người dù là người phạm tội thì
họ vẫn có đầy đủ quyền con người, một hình phạt tuyên với họ nhằm mục đích làm
cho họ từ bỏ con đường phạm tội và hướng thiện chứ không nhằm triệt tiêu học
khỏi xã hội.
- Mặc dù hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
nhưng hệ thống hình phạt nước ta có tính nhân đạo sâu sắc. Điều này thể hiện trong
hệ thống hình phạt có nhiều loại hình phạt không tước quyền tự do của người phạm
tội, trong đó có chế định án treo. Bên cạnh đó, hệ thống hình phạt không quy định
những loại hình phạt mà nội dung của nó khi áp dụng có thể gây đau đớn về thể xác
hoặc hạ thấp phẩm giá con người. Mặt khác, hình phạt tù chung thân và tử hình chỉ
được áp dụng trong các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và áp dụng cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status