Áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (tt) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THÀNH LONG
ÁP DỤNG ÁN TREO ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC

Chuyên ngành: Luật Hình Sự và Tố Tụng Hình Sự
Mã số: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: GS.T Võ Khánh Vinh

Phản biện 1: PG.TS Trần Đình Nhã
Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội

Phản biện 2: TS Phan Anh Tuấn
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 11
tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Khoa học xã hội

cực là chủ yếu, còn làm bộc lộ những hạn chế nhất định trong cả
1


pháp luật thực định và trong quá trình áp dụng các quy định đó. Từ
những phân tích trên đây tác giả chọn và nghiên cứu "Áp dụng án
treo đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước" để làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Án treo là một chế định đặc biệt của pháp luật hình sự và
việc áp dụng chế định này có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện
chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Vì vậy đề
tài cũng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ
và mức độ khác nhau.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận và thực tiễn về án treo trong luật hình sự Việt Nam.
Tuy nhiên ở góc độ nghiên cứu những lý luận cao của án treo đối với
người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam và thực
tiễn áp dụng ở tỉnh Bình Phước thì chưa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là làm sáng tỏ hơn về mặt
lý luận của án treo và áp dụng án treo đối với người chưa thành niên
phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam; xây dựng, đề xuất một số
kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả án treo đối với người chưa
thành niên phạm tội trong thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bình
Phước.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

riêng. Đặc biệt là các quan điểm về giáo dục, phòng ngừa tội phạm
do người chưa thành niên thực hiện.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương
pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó
3


chú trọng sử dụng các phương pháp thống kê hình sự; Phương pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp dựa trên các số liệu, bản án, báo cáo,
thống kê từ khảo sát thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước và
nghiên cứu dưới góc độ của ngành, liên ngành, đa ngành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa luận của luận văn
Đây là một công trình khoa học dưới hình thức là một luận
văn thạc sĩ luật học về áp dụng án treo đối với người chưa thành niên
phạm tội trong luật hình sự Việt Nam. Đề tài được nghiên cứu một
cách sâu sắc và toàn diện nội dung chế định án treo trong luật hình
sự Việt Nam cùng những vấn đề liên quan, từ đó nâng cao nhận thức
về án treo, tạo tiền đề cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn bảo vệ thành công sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn, có thể làm tư liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng
pháp luật hình sự, góp phần khắc phục những khiếm khuyết trong
thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo đối với
người chưa thành niên phạm tội nhằm nâng cao hiệu quả của chế
định này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Do là chủ thể đặc biệt nên NCTNPT có một số đặc điểm
khác biệt so với người đã thành niên, như sau:
-Sự biến đổi nhanh về thể chất và tinh thần
-Dễ bị môi trường tác động
-Nhận thức pháp luật hạn chế
-Luôn có nhu cầu khám phá cái mới
5


-Cách thức thực hiện tội phạm đơn giản
-Phạm vi thực hiện tội phạm hạn chế
1.1.2. khái niệm, bản chất pháp lý, những đặc điểm cơ
bản của án treo và việc áp dụng án treo đối với người chưa thành
niên phạm tội
1.1.2.1. khái niệm án treo
BLHS 1999, tại điều 60 quy định "Khi xử phạt tù không quá
ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết
giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì
Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm
đến năm năm" .
Như vậy, có thể hiểu : Án treo là biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện được áp dụng đối với người bị phạt tù
không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ
xét thấy không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù.
1.1.2.2. Bản chất pháp lý của án treo
Theo quy định của các văn bản pháp luật trên thì có thể thấy
một người bị phạt tù được hưởng án treo thực hiện theo trình tự: Khi
xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm
tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp
hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian

được, tức là có tác dụng giáo dục và cải tạo người phạm tội, ngăn
ngừa tội phạm mới và giáo dục người khác.
1.1.3. Các nguyên tắc của việc áp dụng án treo đối với
người chưa thành niên phạm tội
1.1.3.1. Các nguyên tắc chung

7


Khi áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội,
trước hết cần phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
a. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là việc tuân thủ pháp luật một
cách nghiêm chỉnh và triệt để từ các cơ quan nhà nước, tổ chức và
công dân. Để xây dựng một nhà nước pháp quyền thì trước tiên và
quan trọng hơn hết các cơ quan nhà nước khi tham gia các quan hệ
pháp luật phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và trong
việc áp dụng án treo cũng không ngoại lệ.
b. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Khi quyết định hình phạt, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi Tòa
án phải cân nhắc lợi ích của xã hội, của nhà nước và của người phạm
tội trong một tổng thể hài hòa, thống nhất và hợp lý. Nhân đạo xã hội
chủ nghĩa đòi hỏi phải có thái độ đúng đắn về lợi ích của toàn xã hội
và Nhà nước lẫn lợi ích của người phạm tội. Vì không thể nói đến
nhân đạo khi quyết định hình phạt quá đề cao lợi ích của Nhà nước,
của xã hội mà xem thường lợi ích của người phạm tội và ngược lại.
c. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Cá thể hóa hình phạt là việc từng cá nhân phạm tội cụ thể
phải chịu mức hình phạt tương xứng với đặc điểm nhân thân và hành
vi phạm tội của mình. Ngay cả trong một vụ án có nhiều bị cáo thì

người chưa thành niên phạm tội phải nhẹ hơn so với người đã thành
niên.
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về áp dụng
án treo đối với người chưa thành niên phạm tội
1.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về án treo
a. quy định chung về án treo
9


Tại Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:
1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân
của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần
phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn
định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
2. Trong thời gian thử thách Tòa án giao người được hưởng
án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền
địa phương nơi người đó thường trú để giám sát giáo dục. Gia đình
người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức chính
quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.
3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ
sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định được quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ
luật này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần
hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ
quan tổ chức có trách nhiệm giám sát giáo dục, Tòa án có thể rút
ngắn thời gian thử thách.
5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong
thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình
phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo

1.2.3.1. Các căn cứ chung
a. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự và Nghị quyết
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều kiện cho người bị kết án được hưởng chế định án treo
được quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự hiện hành: "1.
Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người
11


phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt
chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời
gian thử thách từ một năm đến năm năm" .
- Quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
(Điều 46), quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt (Điều
47)…
- Các quy định đối với người chưa thành niên được quy định
tại Chương X, BLHS năm 1999.
-Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06.11.2013 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
b. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đã được nhà làm
luật sử dụng làm căn cứ chủ yếu khi quy định tội phạm, loại hình
phạt và khung chế tài đối với từng loại tội phạm cụ thể. Vì vậy, khi
quyết định hình phạt, Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi để quyết định hình phạt tương xứng
với hành vi tội phạm.
c. Căn cứ về nhân thân người phạm tội
Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Bộ luật hình sự thì
việc áp dụng chế định án treo phải xem xét khi xử phạt tù không quá

nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
đ. Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành
hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng .
1.2.3.2. Các căn cứ đặc thù

13


Điều 69 BLHS hiện hành quy định những nguyên tắc chung
trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội. Đây là những
nguyên tắc quan trọng có tính định hướng cho việc xây dựng các
điều luật khác tại Chương X- Các quy định đối với người chưa thành
niên phạm tội, đồng thời đóng vai trò kim chỉ nam cho cơ quan và
người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật
hình sự để xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Kết luận chương 1
Khi đề cập đến các đặc điểm tâm sinh lý của người chưa
thành niên phạm tội trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố độ
tuổi, môi trường gia đình, nhà trường và xã hội có thể thấy, nguyên
nhân và điều kiện thúc đẩy người chưa thành niên thực hiện hành vi
phạm tội chủ yếu xuất phát từ việc do người chưa thành niên đang
trong quá trình hoàn thiện nhận thức nên dễ chịu tác động và ảnh
hưởng của môi trường xã hội, cả yếu tố tích cực lẫn yếu tố tiêu cực.
Những vướng mắc, bất cập trong việc nuôi dưỡng, giáo dục, tổ chức
quan hệ xã hội của người lớn như: Hoàn cảnh gia đình khó khăn,
thiếu thốn, gia đình không hạnh phúc, bỏ học sớm, bạn bè là những
thành phần không tốt; Thêm vào đó người chưa thành niên không
được chăm sóc, giáo dục chu đáo nên họ dễ dàng đi đến phạm tội.
Điều này đặt ra một đòi hỏi hết sức chính đáng là người chưa thành

hình sự trong cả nước, nhưng với những diễn biến ngày càng phức
tạp, tinh vi, cơ cấu các loại tội phạm có sự thay đổi theo hướng
chuyển dịch sang các loại tội phạm có tính chất nghiêm trọng như
cướp tài sản, cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích… Tuy nhiên,
trong năm 2011 đến năm 2015 tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội
tương đối cao. Các hành vi phạm pháp hình sự của người chưa thành
niên cũng rất đa dạng chiếm hầu hết ở các tội danh hình sự nói
chung. Trong đó, chủ yếu tập trung vào các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người; Các tội cướp tài sản, cướp
giật tài sản, trộm cắp tài sản; Các tội về ma túy.
-Về độ tuổi của bị cáo là người chưa thành niên đã bị xét xử
chủ yếu tập trung trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
2.2 Kết quả áp dụng án treo đối với người chưa thành
niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.2.1. Những kết quả đạt được trong việc áp dụng án treo
Việc xây dựng và hoàn thiện về chế định án treo trong luật
hình sự Nhà nước ta là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn và chính
xác, nó phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân, phù hợp
16


với các thông lệ quốc tế trên con đường phát triển, hội nhập. Thực
tiễn áp dụng án treo trong thời gian vừa qua cho thấy đã thu được
những kết quả tốt mang một ý nghĩa hết sức to lớn, chúng ta đã thể
hiện được tính nghiêm khắc trong pháp luật hình sự Nhà nước ta là
kiên quyết trừng trị kẻ phạm tội song cũng phần nào thể hiện tính
nhân đạo của pháp luật Nhà nước trong việc khoan hồng đối với
những người lần đầu lầm lỡ, biết ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả
do tội phạm mà mình đã gây ra. Như vậy về ý nghĩa, mục đích của
hình phạt đã đạt được là chúng ta lấy giáo dục làm chính mà hoàn

Về tình tiết "phạm tội mà chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt
hại không lớn", luật không quy định giới hạn nào để Tòa án xác định
là phạm tội gây thiệt hại không lớn. Do vậy, có trường hợp áp dụng
tình tiết này chưa đúng và không thống nhất giữa các Tòa.
Về tình tiết "phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng".
Về tình tiết "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải"
2.2.3. Các nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong
việc áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội
Những tồn tại nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong
đó có nguyên nhân từ áp dụng luật pháp và hướng dẫn áp dụng pháp
luật và nguyên nhân từ phía người làm công tác pháp luật.
Thứ nhất, nguyên nhân từ góc độ hướng dẫn áp dụng pháp
luật: Hệ thống văn bản hướng dẫn chưa cụ thể dẫn đến việc áp dụng
không thống nhất giữa các Tòa.
Thứ hai, nguyên nhân từ phía cơ quan áp dụng pháp luật, cụ
thể nhất ở đây phải nói tới đội ngũ các Điều tra viên, Kiểm sát viên
18


và Thẩm phán trực tiếp làm công tác điều tra, truy tố, xét xử người
phạm tội có hạn chế về năng lực trình độ, tinh thần trách nhiệm.
Thứ ba, nguyên nhân từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hội và các cá nhân có liên quan. Chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan được giao theo dõi, quản lý, giám sát giáo dục
người bị kết án, chưa có sự phân công phân định rõ ràng gắn với
trách nhiệm trong công tác quản lý, giáo dục người được hưởng án
treo tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc chính quyền địa
phương.

* Xuất phát từ yêu cầu cải cách tư pháp
* Xuất phát từ những bất cập của thực trạng áp dụng án treo
*Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng án treo đúng đối với
người chưa thành niên phạm tội
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về án
treo
3.2.2. Hướng dẫn thi hành pháp luật
Thực tiễn việc áp dụng án treo ở tỉnh Bình Phước cho thấy rõ
những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế,
vướng mắc. Để nâng cao hiệu quả áp dụng án treo ở tỉnh Bình Phước
cần phải khắc phục những hạn chế, vướng mắc này. Bên cạnh những
giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và văn bản hướng dẫn áp

20


dụng pháp luật về án treo trên phạm vi cả nước thì cụ thể ở tỉnh Bình
Phước cần thực hiện tốt những biện pháp sau đây.
3.2.2.1. Tăng cường công tác hướng dẫn và giải thích pháp
luật; công tác kiểm tra giám sát của cấp trên và của Hội đồng nhân
dân các cấp
Đối với các cơ quan trung ương cần kết phối hợp ban hành
những thông tư liên ngành để áp dụng pháp luật một cách đầy đủ, rõ
ràng hơn về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sao cho đến kết quả
cuối cùng là việc thực hiện chế định án treo được dễ hiểu, rõ ràng
nhất, đồng thời cần hướng dẫn và giải thích pháp luật cho các cơ
quan tiến hành tố tụng cấp dưới thực hiện một cách thống nhất.
3.2.2.2 Tập huấn nghiệp vụ và nâng cao năng lực của người

được hưởng án treo cũng cần đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của họ
trong thời gian thử thách.
3.2.2.4 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân về
án treo
Các cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Sở Tư pháp
cần phối hợp thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục
pháp luật cho quần chúng nhân dân trong đó có việc tuyên truyền,
phổ biến Luật thi hành án hình sự năm 2010 của Chính phủ quy định
về việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, phải coi đây là một
mặt quan trọng trong phòng chống tội phạm.
3.2.2.5. Cần hoàn thiện tổ chức Tòa gia đình và người chưa
thành niên
Mô hình Tòa gia đình và NCTN có thể coi là một mô hình tư
pháp lý tưởng xét trên nhiều phương diện. Nó giúp cho chúng ta
nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về sự phát triển của trẻ em và
22


NCTN. Để từ đó, đảm bảo những nhu cầu của trẻ em để các em đạt
được tối đa tiềm năng phát triển của mình, đảm bảo an toàn và cuộc
sống tốt đẹp cho trẻ em- “Trẻ em, tương lai ngày mai”. Đó chính là
thiết chế hữu hiệu bảo vệ cho NCTN tại Việt Nam.
Kết luận chương 3
Khi áp dụng án treo đối với người chưa thành niên phạm tội,
Tòa án phải áp dụng pháp luật thật chính xác, phải dựa trên các căn
cứ quyết định hình phạt, tuân thủ nghiêm chỉnh các nguyên tắc, đặc
biệt là nguyên tắc “Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa
thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai làm, phát
triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”. Có như thế
mới đảm bảo quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status