Sự chuyển đổi thể loại từ thần thoại sang truyền thuyết được bắt nguồn từ sự thay
đổi của hình thái xã hội. Truyền thuyết ( legend) là một thể loại VHDG tiếp chân
thần thoại, được nhân dân sáng tạo từ khi con người bắt đầu có ý thức về lịch sử.
Truyền thuyết dần dần trở thành nhận thức và cách lý giải những sự kiện trọng đại
của một quốc gia, dân tộc thuộc quan điểm của nhân dân về hệ tâm lý xã hội trong
ý thức dân gian. Theo quan niệm của các nhà khoa học thuộc giới folklore học thế
giới, truyền thuyết kết hợp những sự kiện lịch sử với các yếu tố huyền thoại và
truyện cổ tích theo nhiều cách khác nhau, thích ứng với môi trường văn hóa nhất
định. Truyền thuyết dân gian trên thế giới có chung các yếu tố truyền thống với
truyền thuyết tôn giáo và anh hùng, được các nhà văn hóa dân gian học xác định là
một thể loại văn hóa dân gian.
Các nước châu Âu cho rằng truyền thuyết là truyện kể về cuộc đời của các vị thánh
theo lịch Thiên chúa giáo, sau này dùng để chỉ những câu chuyện không chắc là có
thực hay không.
Đối với truyền thuyết Việt Nam nói riêng, có rất nhiều các quan niệm và định
nghĩa của các nghiên cứu được đưa ra. Từng có quan niệm đồng nhất truyền thuyết
với lịch sử, và ở một góc độ khác, truyền thuyết được gọi là cổ tích lịch sử. Tuy
nhiên sau quá trình nghiên cứu, người ta đưa ra các quan niệm và định nghĩa
truyền thuyết từ góc nhìn truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian:
“Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự
kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hoặc nhân vật tôn giáo thông qua sự hư
cấu nghệ thuật thần kì” (Lê Chí Quế).
Kiều Thu Hoạch định nghĩa truyền thuyết như sau: “truyền thuyết là thể loại truyện
kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội udng cốt truyện của nó kể
lại tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương
theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa
trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích
và thần thoại..”
Ở Việt Nam, khi phân loại truyền thuyết có sự khác nhau nhất định ở các nhà
nghiên cứu. Với cách chia của Đỗ Bình Trị thì truyền thuyết gồm: những truyền
thuyết về thời vua Hùng và những truyền thuyết sau đời vua Hùng. Ở bộ phận sau
kể ấy lưu hành trong xã hội, tam sao thất bản qua thời gian và chứa đựng
trong mình những ý nghĩa đã thúc đẩy cộng đồng bảo tồn và truyền bá nó.
Đều thuộc nhóm thể loại truyền thuyết về nhân vật.
Quá trình phát triển: hai thể loại trên đều phát triển trên tinh thần lí giải
những hiện tượng từ xã hội, có thật hoặc không có thật, được người đời có
thể tin hay có thể không tin về sự thật của nó. Lưu hành trong xã hội và được
truyền từ giai đoạn này sang giai đoạn khác.
Ví dụ: đối với truyền thuyết lịch sử Việt Nam, để lý giải về cội nguồn dân
tộc, người ta hình thành nên truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu cơ. Lạc
Long Quân hóa làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu,
vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai
đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh
lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú
nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân...
Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái
bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một
người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp
khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời”, rồi 50 người con theo cha xuống biển,
50 người con còn lại theo mẹ lên núi. Đó là niềm tin cả dân tộc Việt Nam
đều là đồng bào, đều là anh em, con rồng cháu tiên và vì vậy Việt Nam cũng
là một đất nước tiên rồng.
Còn đối với truyền thuyết đương đại nước ngoài, những truyện kể nayfy
mang tính chất kinh dị. Mọi người thường tuyên bố rằng những truyện này
đã xảy ra với "bạn của bạn họ". Một số truyền thuyết đương đại đã lưu
truyền nhiều năm mà chỉ thay đổi chút ít cho hợp với từng vùng. Những
truyền thuyết gần đây có xu hướng lấy bối cảnh hiện đại như câu chuyện kể
về những người bị bắt cóc, chuốc thuốc mê và khi tỉnh dậy thì phát hiện
mình đã bị cướp đi một quả thận.
từ những điều bình thường trong sinh hoạt mà nhân cách hóa chúng lên
thành các yếu tố bí ẩn, kinh dị, đáng sợ hay hài hước. Một vài truyền
thuyết là những truyện kể đạo đức lấy hình tượng ai đó (thường là đứa
trẻ) ngỗ ngược, cuối cùng kết thúc trong rắc rối, đau đớn hay chết chóc.
Tuy rằng được sinh thành, được sáng tạo theo yêu cầu của nhu cầu được nhận thức,
những câu chuyện trong truyền truyền thuyết được tin với niềm tin rất thật, tuy
nhiên tùy vào đặc điểm, hoàn cảnh, phong tục hay đời sống khác nhau của mỗi
quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ mà các thể loại truyền thuyết có những nét khác biệt
nhất định. Truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết đương đại nước ngoài khác nhau
ở một số điểm như sau:
Truyền thuyết đương đại nước ngoài:
- Thời gian: truyền thuyết đương đại là một loại hình văn hóa dân gian thời
hiện đại, xuât hiện từ thời kỳ công nghiệp hóa trở về sau.
- Cấu trúc: Nhiều truyền thuyết thành thị thực ra là những trò đùa được
thêm thắt và được kể như thể chúng có thật. Truyền thuyết thường có một
hoặc nhiều đặc điểm như: được kể lại nhân danh một nhân chứng khác,
thường được kể là "bạn tôi kể tôi nghe" mặc dù không bao giờ biết rõ
danh tính đầy đủ của "người bạn" đó; nó thiếu vắng thông tin cụ thể liên
quan đến vụ việc, chẳng hạn thiếu tên, ngày tháng, địa điểm và các thông
tin tương tự.
- Nhân vật: đều là con người với cuộc sống sinh hoạt trong đời thường,
nhưng sau khi trải qua một biến động lớn trong cuộc đời thì có những
thay đổi nhất định về mặt cấu tạo trên cơ thể, tính cách hay bị biến chất
theo chiều hướng đáng sợ kinh hãi.
- Truyền bá niềm tin: Người kể chuyện có thể tuyên bố rằng chuyện ấy đã
xảy ra với một người bạn, mục đích là nhằm cá nhân hóa và làm tăng tính
thuyết phục của câu chuyện. Nhiều truyền thuyết miêu tả những tội ác
kinh hoàng hoặc những tình huống có khả năng gây ảnh hưởng đến nhiều
quan hệ bí ẩn, bất thường với một hiện tượng, một sự vật nào đó. Môtip
về tướng lạ có từ khi lọt lòng như gan bàn chân có ba sợi lông trắng, có
nốt ruồi đỏ trong vành tai, trên trán có ba đường chỉ ngang, tay dài quá
gối,…Môtip về sự biểu hiện khác thường, hơn người khi còn trẻ như:
nâng cối đá lên cao, tay không giét cọp dữ, nhảy cao và xa khác thường,
có phép lạ, không nói không cười, có chí lớn…Môtip về hoàn cảnh xã
hội: loạn lạc liên miên, giặc ngoại xâm sắp xâm lược hoặc đang thống trị
hà khắc, triều đình mục nát, dân chúng lầm than…Môtip xuất thân của
nhân vật chính hoặc là con nhà nghèo đã qua thử thách cuộc đời hoặc là
con nhà nòi có truyền thống thượng võ, yêu nước thương nòi, gia đình
mang mối thù với giặc ngoại xâm…
+ Đoạn đời thứ hai là quá trình hoạt động của nhân vật chính. Phần này
kể lại hành động, chiến công, kì tích của nhân vật chính với nhiều tình
huống thăng trầm, gian nguy, thất bại rồi thành công.
+ Đoạn đời thứ ba là sự kết thúc của nhân vật chính. Có nhiều môtip về
giai đoạn này như môtip về sự hoá thân, thăng hoa của nhân vật (Dóng
bay lên trời, người anh hùng bị chém đầu nhưng tay vẫn giữ đầu rồi phi
đến chỗ đất thiêng mới hoá, hai Bà có hai đám mây ngũ sắc cuộn lên
trơi); môtip về sự hiển linh, hiển thánh giúp con cháu làm ăn và đánh
giặc; môtip về sự vinh phong, gia phong tên hiệu của các triều đại sau
cho người anh hùng; môtip về nghi lễ thờ cúng liên quan đến tôn vinh,
nhớ ơn người anh hùng.
Kết cấu truyền thuyết có hai loại: loại cốt truyện đơn và loại cốt truyện
xâu chuỗi. Những chuỗi truyện về Lê Lợi tập trung nói về người anh
hùng Lê Lợi. Các chuỗi truyện về Hùng Vương, về An Dương Vương
cũng có kết cấu như vậy. Với kiểu kết cấu này thì nhân vật lịch sử là nhân
vật trung tâm, còn các nhân vật khác là nhân vật phụ. Đối với chuỗi
truyền thuyết về Hùng Vương thì vai trò xuất hiện của nhân vật Hùng
Lang Liêu, Mỵ Châu Trọng Thủy là nhân vật chính. Bên cạnh nhân vật
thần, bán thần và nhân vật là con người thì còn có các loại vật thần như
Ngựa sắt phun lửa, Gươm thần, Nỏ thần…Tất cả nhân vật thần và vật
thần đều được dựng lên để giúp đỡ nhân vật chính. Khác với thần thoại
đa số mỗi truyện là một nhân vật duy nhất thì truyền thuyết ngoài nhân
vật chính còn có các nhân vật phụ.
- Biện pháp xây dựng nhân vật:
Hai biện pháp song hành trong việc xây dựng nhân vật truyền thuyết là
thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên và thần thánh hóa các hoạt động
của con người. Thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên trong việc xây
dựng nhân vật phụ như thần Kim Quy trong truyền thuyết An Dương
Vương (Sự tích Loa Thành), vật thần như Ngựa sắt trong truyền thuyết
“Thánh Gióng”…Nhưng biện pháp chủ yếu, phổ biến trong truyền thuyết
vẫn là thần thánh hóa các hoạt động con người. Có hai cách xây dựng
nhân vật chính: Thần thánh hóa bản thân nhân vật như Lạc Long Quân,
Âu Cơ, Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng. Thánh Gióng là nhân vật đặc
biệt, nhân vật trung gian quá độ của kiểu nhân vật bán thần và nhân vật
người. Việc sinh nở, ăn uống, hoạt động là con người nhưng sự lớn nhanh
như thổi, sức mạnh phi thường của Gióng là biểu hiện của thần thánh. Ở
đây có sử dụng biện pháp tổng hợp và khái quát sức mạnh của cộng đồng
theo kiểu nhân vật sử thi anh hùng.
Cách thứ hai là thần thánh hóa nhân vật bằng cách bao quanh nhân vật
chính những yếu tố hoang đường, kỳ diệu. An Dương Vương, Lê Lợi
không có yếu tố của thần thánh nhưng được các lực lượng thần thánh
giúp đỡ như thần Kim quy, Long Quân…Đây là xu hướng chủ đạo trong
truyền thuyết. Nhân vật xây dựng theo cách này có nhân tính, nhân cách
rõ hơn loại nhân vật được xây dựng theo cách thứ nhất. Phần lớn, nhân
vật truyền thuyết được xây dựng theo một chu trình, kết cấu theo công