SỰ KIỆN DI cư năm 1954 1955 TRONG LỊCH sử VIỆT NAM và THẾ GIỚI (PGS TS NGUYỄN ĐÌNH lê) - Pdf 19

Từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 7 năm 1955 là thời kỳ
chuyển quân tập kết của 2 bên tham chiến ở theo qui định
của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam. Trong khoảng 300
ngày đó, có sự kiện nổi bật diễn ra trong phạm vi cả nước là
cuộc di dân, chuyển quân tập kết diễn ra sôi động, lôi kéo
trên 1 triệu người lưu chuyển theo các hướng khác nhau.
Cuộc di dân chưa đầy một năm kể nổ ra trong bối cảnh quốc
tế và Ở Việt Nam có nhiều yếu tố mới và dưới tác động của
các nhân tố đó tạo nên sự bùng nổ của cuộc di dân có một
không hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cũng là một sự
kiện hiếm có trong lịch sử thế giới hiện đại.
Bài viết này muốn trao đổi về những lý do dẫn đến sự dịch
chuyển dân cư ồ ạt kể trên và xem xét vị trí, ý nghĩa, vị thế
của sự kiện này trong mối tương quan của lịch sử Việt Nam
quốc tế.
Cuộc di dân lịch sử
Trong vòng 300 ngày chuyển quân tập kết, có khoảng
1.200.000 người di dân từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc.
Trong đó luồng thứ nhất có khoảng trên 1 triệu người, bao
gồm lực lượng thuộc các bộ phận trong bộ máy cai trị và
chiến tranh, các nhà thầu kinh doanh… của Pháp ở miền
Bắc và một số đồng bào theo đạo thiên chúa…Nói chung, trừ
bộ phận quần chúng nhân dân, còn lại là các thế lực chủ
chốt trong bộ máy thực dân và lực lượng quân đội Pháp đồn
trú ở miền Bắc. Lực lượng rút vào nam từ các vị trí đóng trú
ở vùng đô thị hoặc vùng nông thôn trù phú của các tỉnh
thuộc miền Bắc. Lực lượng này vào Nam di cư theo mô hình
gia đình và trong số họ có những người thuộc diện có máu
mặt có chức sắc nhất định trong xã hội thuộc địa của Pháp.
Ngược dòng di cư kể trên, có khoảng 150.000 người chuyển
cư từ vùng phái Nam ra miền Bắc. Họ thuộc diện Quân-Dân-

gọi Nam Bộ. Họ gồm bộ phận khác nhau, trước hết là lớp
hào lí, quan lại mộ dân từ các tỉnh phia bắc- nhất là vùng
Thuận Quảng, đi chiêu mộ dân đinh đến khai thác vùng đất
mới theo chỉ dụ của nhà Nguyễn. Bộ phận thứ hai gồm dân
xiêu tán kiếm sống. Đó là các nông dân ở các vùng từ Quảng
Bình trở vào rời quê hương bản quán vào vùng cực Nam
kiếm sống. Họ đi tự phát và thường nương tựa vào nhau
theo kiểu họ hàng lối xóm. Bộ phận thứ 3 thuộc tội phạm bị
lưu đày, họ bị câu thúc đến vùng đất hoang sơ, bị cưỡng chế
khai khẩn đất đai như một hình phạt của triều đình. Một bộ
phạn cư dân khác cùng đồng hành đến vùng đất này là lực
lượng lính tập. Họ đi theo quân ngũ vào đồn trú vùng biên
thuỳ mà lúc đó gọi Trấn Biên- Phiên Trấn. Lực lượng này
được tổ chức chặt chẽ và di chuyển có kế hoạch. Bộ phận
cuối cùng là người Hoa ở Trung Quốc tiếp tục vượt biển vào
vùng đất lập nghiệp ở đây.
Di dân suốt gần chục thế kỉ- mà điển hình là cuộc di dân vào
vùng đất cực Nam trong vòng 3 thế kỉ vừa kể trên, đã là
một nội dung của lịch sử đất nước và mặt khác cũng là đặc
điểm di dân Nam tiến trong ngót ngàn năm qua của lịch sử
Việt Nam.
Có nhiều lí do cụ thể để dòng người di cư từ Bắc vào Nam
diễn ra suốt gần 1.000 năm trong lịch sử Đại Việt trước đó
và Việt Nam sau này. Tuy nhiên, trừ nhóm người Hoa sang
lánh trú, còn lại hầu hết người Việt khi di cư vào phía Nam
đều có lí do chủ yếu từ nhu cầu kinh tế. Nhu cầu mở mang
kinh tế có thể vì gia đình, có thể vì quyền lợi của cộng đồng,
dân tộc.
Dưới thời cai trị của thực dân Pháp, xu hướng di dân Bắc
Nam càng được đẩy nhanh hơn và nó tỷ lệ thuận với 2 lần

lực lượng của Pháp dồn vào Nam.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực
dân Pháp từng tồn tại gần một trăm năm ở Việt Nam. Chiến
thắng đó tạo cho lực lượng kháng chiến trên phạm vi cả
nước có ưu thế vượt trội so với lực lượng Pháp.
Tuy nhiên, theo các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne- vơ,
hầu hết các lực lượng vũ trang và cán bộ chủ chốt lực lượng
kháng chiến ở miền Nam tập kết ra Bắc. Họ là lực lượng
tiên phong, đi đầu, quyết định trong cuộc chiến tranh nhân
dân thần thánh của mọi vùng đất phương Nam. Dù cuộc
kháng chiến ở đâu cũng do nhân dân quyết định, nhưng họ
là linh hồn của cuộc đấu tranh sinh tử vói kẻ thù. Đặc biệt ở
vùng đất phía Nam, xa Trung ương, thì vai trò của các cán
bộ Quân-Dân-Chính-Đảng vô cùng quan trọng.
Cùng với việc rút quân ra Bắc, lực lượng kháng chiến cũng
bàn giao toàn bộ vùng giải phóng ở miền Nam cho đối
phương kiểm soát. Vùng giải phóng ở miền Nam từng trải
qua thời kỳ thăng trầm khác nhau, nhưng vào Đông Xuân
1953-1954 đã phát triển vượt bậc. Tại miền Trung, vùng
giải phóng, tự do rộng lớn mênh mong. Người Pháp chỉ
kiểm soát được vùng ven biển nhỏ hẹp từ bến phà Ròn đến
Đà Nẵng. Tại vùng Nam Bộ, vùng giải phóng đã bao trùm
khắp nơi và vùng đối phương kiểm soát bị thu hẹp tối đa.
Chuyển quân tập kết, lực lượng việt Minh đã bàn giao toàn
bộ vùng giải phóng cho đối phương kiểm soát. Đối kháng về
địa chính trị từng có ở miền Nam không còn sau thời kỳ
chuyển quân tập kết.
Mặt khác, chính quyền kháng chiến các cấp ở miền Nam
cũng giải thể sau tháng 7-1954. Chính quyền kháng chiến,
chính quyền cách mạng của nhân dân ở miền Nam được xây

bằng, trung châu đô thị; Tây vùng rừng núi thưa dân, hoang
vu…).
Vùng địa chính trị Nam – Bắc (Miền Bắc và miền Nam) hình
thành sau tháng7 -1954 đã đặt ra tiền đề để chia cắt đất
nước mà phía bên chiến tuyến không muốn thực hiện Hiệp
thương tổng tuyển cử. Vùng địa chính trị với tầm vóc qui mô
một quốc gia đã có liên đới đến cuộc di cư năm 1954-1955.
Một đất nước thống nhất lại bị phân chia thành 2 cực sau
1954.
Trong lịch sử Việt Nam, việc phân chia, cát cứ, đặc biệt phân
chia Trịnh Nguyễn đã từng tồn tại trăm năm, tồn tại trong
thế kỉ XVII và XVIII. Tuy nhiên sự chia cắt này không phải vì
ý thức hệ xã hội như thời kỳ sau 1954, mà ở đây thực chất là
chuyện vương triều, kiểu “vua Lê, phủ Chúa” hay là đất
nước có một lúc 2 thế lực phong kiến đối kháng, phân
quyền[iv].
Tính chất sự phân chia đất nước ở Việt Nam từ sau 1954
khác các sự kiện phân ly từng tồn tại ở mấy thế kỉ trước. Sự
phân chia này phản ánh kết quả cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc của thời kỳ trước và từ đó nó khoảng cách chính trị
(Political Gap) giữa 2 vùng càng sâu sắc. Sự phân chia đó
mang tính thời đại: đấu tranh giữa hệ thống xã hội chủ
nghĩa và thế giới phương Tây.
Di dân mở ra cuộc đụng đầu mới quyết liệt
Việc chuyển quân tập kết nhằm giải quyết vấn đề xung đột
vũ trang của 2 bên sau Điện Biên Phủ. Tình thế chiến trận
cài răng lược giữa lực lượng Việt Minh và quân đội Pháp
trong 9 năm kháng chiến từng tồn tại khắp 3 miền Trung –
Nam – Bắc đã được giải quyết bằng việc chuyển quân tập
kết kể trên.

trang cách mạng nói riêng và toàn thể cán bộ đảng viên chủ
chốt từng hoạt động ở miền Nam trong thời kỳ tập kết đã để
lại khoảng trống nhất định trong lực lượng đấu tranh của
nhân dân miền Nam. Đồng bào, đồng chí ở lại miền Nam sau
tháng 7-1954 đã không còn có đủ những ưu thế của mình
vốn có khi đối mặt với kẻ thù như trong thời kỳ kháng chiến
9 năm. Nhìn trong phạm vi cục bộ, sức mạnh và lực lượng
đấu tranh của nhân dân miền Nam sau sự kiện đó đã giảm
rất nhiều.
Mặt khác, cùng với việc giải thể chính quyền kháng chiến
các cấp và bàn giao vùng giải phóng rộng lớn cho đối
phương kiểm soát, vô tình đã tạo nên một thực tế là hình
như cách mạng miền Nam đã đi từ có về không, từ mạnh
sang yếu. Thực sự tương quan đấu tranh sau thời kỳ tập kết
đã bất lợi cho nhân dân miền Nam.
Trong khi đó, với việc qui tụ đạo quân từ miền Bắc về miền
Nam, gom nhóm tất cả các thế lực thù địch với Việt Minh ở
miền Bắc vào Nam, đối phương đã tạo một cục diện mới, có
phần giống miền Bắc: là qui nhóm những bộ phận, lực
lượng từng thân Pháp hay tham gia vào bộ máy của thực
dân Pháp trong thời kỳ Pháp cai trị nước ta.
Chính vì thế, cuộc đi dân nói chung và sự kiện tập kết nói
riêng đã tạo nên một diện mạo chính trị mới ở Việt Nam:
Hai thế lực đối lập có xu hướng tập hợp theo 2 cực qua
đường giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17. Với
những đặc điểm qui tu lực lượng như vậy, cuộc đối đầu,
đụng độ giữa 2 bên trong cuộc chiến đấu mới sẽ diễn ra vô
vùng quyết liệt. Và thực tế cuộc xung đột khốc liệt đó kéo dài
hơn 2 thập kỉ, ác liệt gấp bội phần cuộc kháng chiến lần thứ
nhất.

niên 1950-1970 của thế kỉ trước.
[i] Có khoảng hơn 1 triệu người miền Bắc vào Nam, bao
gồm lực lượng trong hệ thống chính quyền và quân sự của
Pháp ở miền Bắc, hàng chục vạn giáo dân, một số nhà kinh
doanh, một số công chức, kỹ sư bác sỹ… và ở miền Nam có
khoảng 150.000 cán bộ, chiến sỹ và học sinh miền Nam ra
Bắc. (Xem: Lịch sử Việt Nam 1954-1975, Nxb. Giáo dục, HN,
2010, tr. 6-7.)
[ii] Đây là con số chúng tôi ước tính. Vì chưa có số liệu cụ
thể dân số Việt Nam năm 1954. Chúng tôi tính theo số liệu
dân số Việt Nam năm 1943 có khoảng 22.600.000 người
(Theo Số liệu thống kê Việt Nam thế kỉ XX. Tập 1, Nxb.
TCTK, HN, 2004, tr.37). Và số liệu dân số Việt Nam năm
1976 có khoảng 49.000.000người (Số liệu thống kê Việt
Nam thế kỉ XX. Tập 2, Nxb. TCTK, HN, 2004, tr.42.)
[iii] Còn hướng người di dân từ Tây sang Đông, và ngược
lại từ Đông về Tây (từ vùng rừng núi về đồng bằng và từ
miền xuôi về miền ngược) có xảy ra nhưng không đáng kể.

iv] Tiến trình Lịch Sử Việt Nam – Nxb. Giáo dục, HN, 2012,
tr.137.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status