BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành
: Công nghệ kỹ thuật xây dựng đường ô tô
Mã số
: 6580205
Tên đề tài
: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tái chế nguội tại chỗ sử dụng
nhũ tương nhựa đường và xi măng trong sửa chữa và nâng
cấp kết cấu áo đường.
Học viên thực hiện
: Tạ Văn Thắng
Cán bộ hướng dẫn khoa học
: TS. Đào Phúc Lâm
Hà Nội - 2018
0
: Bộ môn Kết cấu – Vật liệu, Đại học Công nghệ
GTVT
Hà Nội – 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đáng tin cậy và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Tạ Văn Thắng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sỹ, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập
thể.
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Đào Phúc
Lâm đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài. Tôi
xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Khoa đào tạo sau đại học, Bộ môn Đường
Trường ĐH Công nghệ giao thông vận tải đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến
thức, tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian theo học và thực hiện luận
văn.
5. Bố cục của luận văn ........................................................................................ 10
Chương 1. Nghiên cứu tổng quan công nghệ tái chế trong bảo trì và nâng
cấp mặt đường mềm ............................................................................................ 10
Chương 2. Công nghệ tái chế nguội tại chỗ sử dụng nhũ tương nhựa đường
và xi măng (AEFDR) .......................................................................................... 10
Chương 3. Nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng công nghệ tái chế nguội tại
chỗ sử dụng nhũ tương nhựa đường và xi măng trong sửa chữa và nâng cấp
kết cấu áo đường trên địa bàn thành phố Hà Nội................................................ 10
CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ TÁI CHẾ
TRONG BẢO TRÌ VÀ NÂNG CẤP MẶT ĐƯỜNG MỀM.................................. 12
1.1 Quá trình hình thành và phát triển công nghệ tái chế mặt đường ............ 12
1.2.
Phân loại các phương pháp tái chế mặt đường...................................... 18
1.2.1.
Phương pháp tái chế nóng tại trạm trộn .............................................. 18
1.2.2 Phương pháp tái chế nóng tại chỗ (HIR) ................................................ 20
1.2.3
Phương pháp tái chế nguội tại trạm trộn (Cold Central Plant
Recycling-CCPR) ................................................................................................ 22
1.2.4
Phương pháp cào bóc tái chế nguội tại chỗ lớp mỏng (CIR) .............. 23
1.2.5
Phương pháp cào bóc tái chế nguội tại chỗ toàn chiều sâu (FDR) ..... 23
1.3. Phân loại công nghệ cào bóc tái chế nguội tại chỗ .................................... 25
1.3.1. Phương pháp cào bóc tái chế nguội tại chỗ lớp mỏng (Cold-in
Place Recycling).................................................................................................. 26
4. Kết luận ...................................................................................................... 37
CHƯƠNG 2. CÔNG NGHỆ TÁI CHẾ NGUỘI TẠI CHỖ TOÀN CHIỀU
SÂU SỬ DỤNG NHŨ TƯƠNG NHỰA ĐƯỜNG VÀ XI MĂNG (AEFDR) ...... 27
2.1. Hỗn hợp vật liệu cào bóc tái chế nguội tại chỗ ............................................ 27
2.4.1.5. Thiết bị san: Loại máy san tự hành, có chiều rộng lưỡi san lớn hơn
3 m, có gắn dụng cụ đo được độ dốc ngang........................................................ 43
2.4.1.6. Máy lu: Là loại máy lu tự hành, tổ máy lu bao gồm các loại sau: ......... 44
2.4.6.1.Trường hợp thi công lớp tái sinh với chiều dầy không quá 20cm: ......... 44
2.4.6.2 Trường hợp thi công lớp tái sinh có chiều dầy lớn hơn 20cm cho
đến 30cm ............................................................................................................. 44
2.4.2. Quy trình thi công [4]................................................................................ 44
2.5. Thiết bị khảo sát, kiểm tra, đánh giá chất lượng mặt đường sử dụng cho
công nghệ tái chế nguội tại chỗ toàn chiều sâu .................................................. 49
2.5.1. Đo mô đun đàn hồi kết cấu áo đường bằng thiết bị FWD (Falling
Weight Deflectometer) ........................................................................................ 50
2.5.1.1Thiết bị thí nghiệm [1] ............................................................................. 50
2.5.2.2. Bố trí điểm đo......................................................................................... 57
2.5.2.3. Trình tự đo võng..................................................................................... 57
2.5.2.4. Cơ sở tính toán ....................................................................................... 57
2.6 Kết luận ......................................................................................................... 57
CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÔNG NGHỆ TÁI CHẾ
NGUỘI TẠI CHỖ TOÀN CHIỀU SÂU SỬ DỤNG NHŨ TƯƠNG NHỰA
ĐƯỜNG (AEFDR) TRONG CÔNG TÁC BẢO TRÌ, SỬA CHỮA, NÂNG
CẤP MẶT ĐƯỜNG MỀM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................. 59
3.1. Giới thiệu đoạn đường thực nghiệm [7] .................................................. 59
3.1.1. Vị trí công trình ......................................................................................... 59
3.1.2. Điều kiện tự nhiên khu vực khảo sát ......................................................... 59
3.1.3. Hiện trạng mặt đường trước khi thi công thí điểm ................................... 60
5
3.2. Công tác khảo sát, thiết kế đoạn tiến trước khi thi công thử nghiệm [8] .... 60
3.2.1. Nội dung khảo sát...................................................................................... 60
3.2.2. Kết quả khảo sát ........................................................................................ 63
Abstract:
Full Depth Reclamation (FDR) is an in-place recycling method for
reconstruction of existing flexible pavements using the existing pavement section
material as the base for the new roadway-wearing surface. This process can include
adding chemicals to the base layer in order to increase its strength capacity. The
treatment of the base layer and recycled asphalt provides a homogeneous and
stronger foundation. This process effectively produces a cost-effective solution that
maximizes limited budgets.
In favor of modernizing the pavement maintenance actually taken place in
VietNam, the dissertation introduces the FDR technology using asphalt emulsion
and cement, which includes: FDR materials; mix design; physical and mecanical
properties for evalutating the FDRmixture, construction and acceptance procedure;
equipments and specially, the exprimental field trial in Ba Vi- HaNoi road. The
datas collected from laboratory and this field trial road section primarily show that
this technology is technical efficient and apporiate to the Vietnam road network
Science instructor
(Sign, write full name, study function, title)
Author
(Sign, write full name)
7
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Tên đề tài: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tái chế nguội tại chỗ sử dụng nhũ
tương nhựa đường và xi măng trong sửa chữa và nâng cấp kết cấu áo đường.
Học viên: Tạ Văn Thắng
Khóa: 2(2016-2018)
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cào bóc tái chế mặt đường cũ có cấu tạo từ bê tông nhựa hoặc mặt đường
nhựa nói chung là công nghệ mới và hiện đại, dựa trên nguyên tắc cào xới một phần
chiều sâu của kết cấu mặt đường cũ, vốn đã bị hư hỏng và nứt nẻ, để rồi dùng máy
chuyên dụng phay cắt và nghiền ra rồi gia cố với một số chất kết dính như nhự bọt
hoặc nhũ tương nhựa đường, xi măng, vôi, … sau đó san rải và đầm chặt lại, tạo
thành một lớp vật liệu mới đồng nhất, tạo nên một lớp móng mới hay mặt đường
mới, được áp dụng chủ yếu trong công tác sửa chữa, bảo trì mặt đường Ô-tô đang
khai thác. Hiệu quả của việc sử dụng lại vật liệu phế thải công nghiệp như vật liệu
cào bóc tái chế mặt đường sẽ có thể giảm bớt được đáng kể khối lượng vật liệu mới
mà lẽ ra phải bổ sung, đồng thời giảm được giá thành sửa chữa mặt đường và tiết
kiệm được nguồn vật liệu xây dựng tự nhiên.
Hà Nội là địa phương có tỉ trọng mặt đường nhựa lớn và nhu cầu sửa chữa,
bảo trì, nâng cấp các tuyến đường trong và ngoài đô thị không ngừng tăng cao trong
những năm gần đây đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải tìm kiếm các công nghệ mới,
vật liệu mới, hiện đại, hiệu quả, năng suất cao và bảo vệ môi trường trong việc duy
tu, sửa chữa mạng lưới đường của Hà Nội. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng
công nghệ tái chế nguội tại chỗ sử dụng nhũ tương nhựa đường và xi măng
trong sửa chữa và nâng cấp kết cấu áo đường” là cấp thiết, có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tái chế nguội tại chỗ toàn chiều sâu sử dụng
nhũ tương nhựa đường và xi măng (Asphalt Emulsion Full Depth ReclamationAEFDR) vào thực tế ở Hà Nội.
Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học và tạo tiền đề cho việc áp dụng rộng
rãi công nghệ nêu trên trong công công tác bảo trì, sửa chữa và nâng cấp mặt đường
mềm phù hợp với các điều kiện của Hà Nội
9
cấu áo đường trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1. Giới thiệu đoạn đường thực nghiệm
2. Công tác khảo sát, thiết kế đoạn tiến trước khi thi công thử nghiệm
10
3. Thi công thực nghiệm tại hiện trường
4. Đánh giá chất lượng mặt đường sau khi thi công thử nghiệm
5. Kết luận và kiến nghị.
11
CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ TÁI CHẾ
TRONG BẢO TRÌ VÀ NÂNG CẤP MẶT ĐƯỜNG MỀM
1.1 Quá trình hình thành và phát triển công nghệ tái chế mặt đường
Tham khảo báo cáo của Hội tái chế mặt đường Asphalt của Mỹ (ARRA) [1],
khởi nguồn công nghệ tái chế mặt đường nhựa có nguồn gốc từ nước Pháp xuất
hiện từ những năm 1915 – 1916 của thế kỷ trước (Hình 1.1). Tuy nhiên, cho đến
năm 1936 công nghệ tái chế mặt đường vẫn chỉ ở mức thô sơ và chưa được chú
trọng phát triển.
Hình 1. 1. Thiết bị thi công tái chế mặt đường từ năm 1916 và 1936 [1]
Đến những năm 1970 - 1973, do giá dầu thế giới trở nên đắt đỏ, dẫn đến giá
nhựa đường dùng trong xây dựng các công trình đường bộ cũng rất cao, cho nên
công nghệ tái chế mặt đường đã có cơ hội được quan tâm để phát triển.
Đến năm 2000, về cơ bản, công nghệ tái chế mặt đường đã hình thành đầy đủ
các phương pháp tái chế mặt đường theo 2 hướng chính, đó là phương pháp tái chế
nóng và phương pháp tái chế nguội. Trong đó, theo từng phương pháp tái chế nóng
và nguội này lại phân ra làm 02 hình thức tái chế nữa, đó là tái chế tại trạm trộn và
thành xây dựng mặt đường trên toàn bộ hệ thống đường bộ. Theo thống kê chưa đầy
13
đủ, ngành công nghiệp chuyên về tái chế vật liệu mặt đường trên toàn thế giới mỗi
năm sử dụng lại khoảng 73 triệu tấn, gấp hơn 2 lần so với ngành công nghiệp tái chế
tổng hợp từ giấy, thủy tinh, đồ nhựa và kim loại nhôm. Công nghệ tái chế mặt
đường, ví dụ như: hỗn hợp tái chế nóng tại trạm trộn, hỗn hợp tái chế nóng tại chỗ,
hỗn hợp tái chế nguội tại hiện trường, hỗn hợp tái chế nguội tại chỗ và cào bóc tái
chế toàn chiều sâu (FDR),… đã được đưa vào phục vụ xây dựng và cải tạo, sửa
chữa mặt đường từ hơn 35 năm nay. Trong đó, công nghệ tái chế mặt đường cũ tại
chỗ không những làm giảm được đáng kể nhu cầu đòi hỏi sử dụng vật liệu mới từ
nguồn thiên nhiên, mà còn làm giảm thiểu được nguy cơ hủy hoại môi trường, cũng
như giảm được nhu cầu về dịch vụ và năng lượng liên quan đến việc vận chuyển và
chế tạo các loại vật liệu này.
Theo số liệu thống kê đến năm 2010, hiện có 34/45 Bang của nước Mỹ đã có
kinh nghiệm trong sử dụng công nghệ cào bóc tái chế mặt đường tại chỗ. Tại Mỹ
cũng đã thành lập Hiệp hội tái chế mặt đường Asphalt (ARRA - Asphalt Recycling
and Reclaiming Association) với hơn 50 thành viên chính thức bao gồm các nhà
thầu có uy tín và kinh nghiệm lâu năm trong ứng dụng công nghệ cào bóc tái chế
mặt đường ở Mỹ.
Từ trước đến nay, để sửa chữa và nâng cấp mặt đường bê tông nhựa, chúng ta
vẫn thường sử dụng công nghệ truyền thống, đó là trên cơ sở tận dụng mặt đường
đã bị hư hỏng và nứt vỡ, tiến hành trám khe nứt bằng nhũ tương hoặc mastit nhựa
đường, sau đó rải bù phụ lên mặt đường cũ một vài lớp cấp phối đá dăm hoặc đá
dăm đen, sau đó phủ lên trên 1 hoặc 2 lớp bê tông nhựa mới, có chiều dày tổng cộng
từ 4 - 14 cm (tùy theo tính toán) là xong. Cách làm này tuy đơn giản và dễ thực
hiện, được nhiều nhà thầu tại Việt Nam ưa chuộng vì dễ làm và rẻ, song hiệu quả
kinh tế - kỹ thuật lại thấp, bởi vì chỉ cần sau 3-5 năm khai thác, các vết nứt từ mặt
đường cũ sẽ phát triển từ dưới lên, tạo thành các vết nứt phản ảnh xuất hiện trên bề
yếu tố môi trường do tận dụng tối đa vật liệu phế thải từ mặt đường cũ. Chính vì
vậy, công nghệ tái chế đã và đang được phổ biến áp dụng tại các nước trên thế giới.
Hình 1. 5. Sơ đồ mô phỏng 2 công nghệ sửa chữa, nâng cấp mặt đường
bê tông nhựa
a)Kết cấu mặt đường cũ bị hư hỏng, nứt;
b)Kết cấu mặt đường sau khi được sửa chữa bằng công nghệ truyền thống;
c) Kết cấu mặt đường sau khi được sửa chữa bằng công nghệ tái chế.
Công nghệ cào bóc tái chế được sử dụng rộng rãi trong sửa chữa, cải tạo, khôi
phục hoặc nâng cấp mặt đường cũ có lớp phủ bề mặt từ vật liệu BTN hoặc láng
nhựa bị nứt nẻ trầm trọng hoặc bị trồi lún, hư hỏng nặng nề. Tất cả các loại mặt
đường BTN hoặc láng nhựa đều có thể áp dụng công nghệ cào bóc tái chế, cho dù là
mặt đường cấp cao hay cấp thấp, kể cả đường lăn sân bay, đường hạ cất cánh và cả
sân đỗ. Đối với loại mặt đường BTN sử dụng lớp móng CPĐD, việc áp dụng công
nghệ cào bóc tái chế cho thấy rất thích hợp, bởi vì lớp tái chế sẽ tạo nên một lớp
móng gia cố bitum liền khối mới, có tác dụng tăng cường khả năng chịu lực và độ
ổn định chống biến dạng cho kết cấu áo đường mềm sau khi tái chế. Vì vậy, để phát
huy tác dụng như một lớp ATB (Asphalt Treated Base) này, trong thiết kế tái chế xu
hướng hiện nay thường áp dụng chiều dày lớp tái chế tối thiểu là 20 cm và tối đa là
30 cm.
Ưu điểm chính của công nghệ cào bóc tái chế nguội tại chỗ về môi trường,
đó là:
- Sử dụng vật liệu phế thải tại chỗ, tiết kiệm được nguồn vật liệu tự nhiên
- Tích chứa vật liệu phế thải ở dạng vật liệu làm mặt đường
16
- Tiết kiệm năng lượng do tận dụng được vật liệu tại chỗ, giảm được chuyên
Phân loại các phương pháp tái chế mặt đường
Như sơ đồ nêu trên Hình 2 đã cho thấy, công nghệ cào bóc tái chế được phân
ra 2 loại chính, đó là công nghệ tái chế nguội và công nghệ tái chế nóng. Trong đó,
tái chế nóng lại được chia ra làm 2 phương pháp, đó là tái chế nóng tại trạm trộn và
tái chế nóng tại chỗ. Còn tái chế nguội cũng được chia ra làm 2 phương pháp, đó là
tái chế nguội tại trạm trộn và tái chế nguội tại chỗ. Dưới đây trình bày tóm tắt về 4
công nghệ này như sau
1.2.1. Phương pháp tái chế nóng tại trạm trộn
Là phương pháp thông dụng nhất để tái chế mặt đường nhựa nói chung và mặt
đường Bê tông nhựa nói riêng. Theo phương pháp này, người ta thường phải cào
bóc mặt đường cũ lên, sau đó vận chuyển về trạm trộn và tại đó trộn thêm một
lượng mới cốt liệu đá dăm, nhựa đường và chất phụ gia để tạo thành một hỗn hợp
mới ở dạng tái chế. Tùy theo khối lượng vật liệu cào bóc được phép nằm trong hỗn
hợp tái chế và tùy theo chỉ dẫn mà từng nơi có thể sử dụng chất kết dính và phụ gia
khác nhau. Tại một số nơi, người ta chỉ cho phép đưa vào hỗn hợp tái chế chỉ bằng
hoặc dưới 15% vật liệu cào bóc từ mặt đường cũ. Cũng có nơi, tỷ lệ này có thể được
phép cao hơn. Trong trường hợp sử dụng tỷ lệ vật liệu cào bóc cao, khi đó người ta
phải tính đến việc lựa chọn ra loại chất kết dính cho phù hợp. Theo tổng kết, có thể
tham khảo các loại chất kết dính được dùng cho hỗn hợp tái chế mặt đường nhựa
như sau :
Chất kết dính là một sản phẩm dầu mỏ được dùng ở dạng các hạt nhựa đường
xốp nằm phân tán trong hỗn hợp tái chế. Đối với hỗn hợp tái chế mà có chứa tỷ lệ
18
vật liệu cào bóc cao, khi đó việc đánh giá tính chất vật liệu, thiết kế hỗn hợp, thi
công và kiểm tra chất lượng đòi hởi phải rất tập trung.
Hình 1. 7. Công nghệ cào bóc mặt đường thuần túy
Hình 1. 8. Sơ đồ tái chế vật liệu cào bóc trộn với cốt liệu bổ sung
và nhựa đường tại trạm
Theo kinh nghiệm của những người thợ rải, cần lưu ý rằng, hỗn hợp tái chế
nên được rải ở nhiệt độ thấp hơn một chút so với hỗn hợp BTN sử vật liệu gốc tự
nhiên để tránh hiện tượng cháy nhựa cũ dính bám vào đá do quá lửa khi chế tạo
trong trạm trộn. Vì vậy, thời gian cho phép để đầm lèn hỗn hợp tái chế, cũng chính
vì thế, mà cũng cần phải được giảm đi một chút.
1.2.2
Phương pháp tái chế nóng tại chỗ (HIR)
Tái chế nóng tại chỗ (Hot in-Place Recycling – HIR) là phương pháp tiến hành
đồng thời tất cả các công đoạn chính như: sấy nóng, cào bóc, phay trộn, san rải và
đầm lèn lại chặt chẽ lớp bề mặt của mặt đường Asphalt cũ nhờ một hệ thống thiết bị
đăc chủng tự hành thực hiện tại chỗ, ngay tại hiện trường, hay còn gọi là “toa tàu”
vì dàn thiết bị khá dài khi di chuyển làm nhiệm vụ cào bóc tái chế nóng tại chỗ.
Trong quá trình cào bóc tái chế nóng trên mặt đường BTN cũ, người ta có thể
bổ sung cốt liệu đá dăm mới, nhựa đường và cả chất phụ gia vào hỗn hợp cào bóc
trên mặt đường cũ để cải thiện tính chất cơ – lý và khả năng làm việc của hỗn hợp
20
sau tái chế nếu thấy cần thiết. Trong đa số các trường hợp, khối lượng vật liệu cào
bóc tái chế từ vật liệu cũ tại chỗ chiếm từ 70-100% của hỗn hợp tái chế. Sơ đồ thiết
bị đặc chủng tái chế nóng được nêu ở Hình 1.9
Hình 1. 9. Thiết bị và sơ đồ cào bóc tái chế nóng tại chỗ
diễn ra trên “toa tàu” tự hành
Phương pháp này đòi hỏi công nghệ cao với một dàn thiết bị đầy đủ bao gồm
Hình 1. 10. Cào bóc tại chỗ sau đó vận chuyển đổ vào trạm trộn để trộn, sau đó đưa
đi rải
Sau khi kết thúc thi công lớp tái chế, bao giờ người ta cũng sẽ rải lên trên bề
mặt lớp tái chế một lớp phủ bằng bê tông nhựa nóng hoặc láng nhựa tùy thuộc vào
biện pháp bảo vệ lớp tái chế sau khi cho phép thông xe. Đôi khi, thời gian bảo
dưỡng lớp tái chế nguội cũng có thể bị kéo dài hơn bình thường do một số nguyên
nhân, chủ yếu là các nguyên nhân về điều kiện thời tiết, gây ẩm kéo dài hoặc do
22
mức độ đầm chặt chưa đạt và độ rỗng quá cao, hoặc do mặt đường bị ứ đọng nước.
Chính vì vậy, để chủ động khắc phục tình trạng này, người ta có thể cho thêm chất
phụ gia Vôi hoặc Xi măng vào để có thể giúp điều chỉnh quá trình hình thành cường
độ này.
1.2.4
Phương pháp cào bóc tái chế nguội tại chỗ lớp mỏng (CIR)
Phương pháp cào bóc tái chế nguội tại chỗ lớp mỏng (Cold in-Place Recycling
- CIR) là phương pháp cào bóc tái chế nguội được thực hiện tại chỗ tại hiện trường,
về cơ bản, sử dụng tới 100% vật liệu cào bóc tại chỗ của mặt đường cũ. Chiều sâu
xử lý thông thường từ 2-4 inches (tương đương từ 5-10 cm) khi sử dụng loại nhũ
tương nhựa đường có phụ gia hợp lý. Tuy nhiên, trong thực tế, chiều sâu xử lý vẫn
có thể đạt được tới 5-6 inches (tương đương 12-15 cm) nếu sử dụng một cách hợp
lý chất phụ gia, có thể là Vôi, xi măng, xỉ lò cao hoặc tro bay để tăng cường nhanh
cường độ và giảm thiểu độ ẩm của hỗn hợp tái chế. Để cào bóc tái chế nguội tại chỗ
người ta có thể sử dụng loại thiết bị đặc chủng có đầy đủ chức năng thi công các
công đoạn, bao gồm cào bóc, phay cắt, trộn đều, san rải và đầm lèn. Toàn bộ các
khâu này được thực hiện tại chỗ khi máy đi qua. Ngoài ra, đi theo máy cào bóc tái
chế chuyên dụng còn có Ô-tô cấp nước, cấp nhũ tương và các loại lu rung bánh
hoặc tro bay, cũng đã được phun vào và trộn đều với vật liệu cào bóc để trở thành
hỗn hợp tái chế.
Hình 1. 11. Thiết bị và sơ đồ vận hành cào bóc tái chế tự động của máy tái chế
chuyên dụng
Thời gian yêu cầu để hình thành cường độ của hỗn hợp được gia cố với nhũ
tương tùy thuộc vào loại chất phụ gia được sử dụng. Sau khi kết thúc thời gian yêu
cầu tối thiểu để hình thành cường độ, trước khi cho thông xe, nhất thiết phải rải lên
trên bề mặt của lớp tái chế lớp phủ bằng Bê tông nhựa nóng hoặc láng nhựa nóng.
Tổng kết các kết quả nghiên cứu đã công bố cho thấy, phương pháp tái chế
nóng tuy cho chất lượng tốt hơn tái chế nguội nhưng giá thành đắt, chỉ thích hợp với
chiều dày rải 5cm và chất lượng cũng không thể bằng hỗn hợp BTN chế tạo mới
trộn nóng tại trạm trộn. Còn phương pháp tái chế nguội tại chỗ, nói chung, có ý
nghĩa lớn trong bảo trì, sửa chữa và nâng cấp mặt đường cũ, nhất là sử dụng công
24