Cải cách hành chính của UBND cấp xã từ thực tiễn thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG NGỌC HẢI

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA UBND CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG NGỌC HẢI

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA UBND CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG

2.3. Đánh giá chung về cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn
thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam .........................................................................50
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH
CHÍNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM ............................................................................57
3.1. Quan điểm đẩy mạnh cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực
tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .................................................................57
3.2. Giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa
bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .................................................................61
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCHC:

Cải cách hành chính

CNH-HĐH:

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CNQSD

Chứng nhận quyền sử dụng

HĐND:

Hội đồng nhân dân


Thủ tục hành chính

UBND:

Ủy ban nhân dân

VHXH:

Văn hóa xã hội

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Số lượng, chất lượng cán bộ từ năm 2013 đến năm

29

bảng
2.1


và thu được kết quả đáng khích lệ trong CCHC. Đó là: Sự rà soát, sửa đổi – bổ
sung, hoàn thiện nên các văn bản về tổ chức bộ máy nhà nước và công vụ, cán
bộ, công chức đã quy định khá cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước, của CB,CC, nên bước đầu hướng vào chuyên biệt hóa các đối
tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Quy trình xây
dựng và thông qua VBQPPL trên địa bàn tỉnh đã có nhiều đổi mới. Bộ máy hành

1


chính từng bước tinh gọn, giảm dần đáng kể về đầu mối quản lý và số lượng các
cơ quan QLNN nhưng hoạt động có hiệu quả hơn, hướng vào phục vụ nhân dân
tốt hơn. Các TTHC được công khai, mẫu hóa hệ thống các giấy tờ văn bản; TTHC
từng bước được cải cách theo mô hình một cửa và cơ chế một cửa liên thông,
từng bước cải thiện mối quan hệ giữa các cơ quan HCNN với doanh nghiệp,
công dân và cung cấp dịch vụ tốt hơn. Công tác quản lý CB,CC và xây dựng
cũng cố, kiện toàn CB,CC được thực hiện thống nhất, dần đi vào nền nếp. Sự
ứng dụng IT được chú trọng trong hoạt động cơ quan nhà nước. Cơ sở vật chất
làm việc ngày càng được đầu tư hiện đại, bước đầu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
quản lý và phục vụ nhân dân trên địa bàn.
Tuy vậy, so với yêu cầu thực tiễn phát triển của địa phương thì vẫn còn
những bất cập đặt ra. Đó là: Việc ban hành một số VBQPPL có chất lượng chưa
cao, thiếu tính thống nhất và chưa sát thực tế. Cơ chế một cửa tuy đã được triển
khai hoạt động ở phần lớn các địa phương, đơn vị nhưng việc thực hiện còn tính
hình thức, chất lượng thấp. Cơ chế “xin - cho” còn khá nặng nề. So với yêu cầu,
trình độ, kỹ năng tác nghiệp và giao tiếp cũng như năng lực công tác của một bộ
phận đáng kể CB,CC ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn chưa đáp ứng. Chủ
trương phân cấp thực hiện chưa đồng bộ và đang còn chậm...
Ở địa phương, chính quyền cấp xã vốn có vị trí, ý nghĩa vai trò hết sức
quan trọng để tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của

Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002. Cuốn sách này nghiên cứu khá
công phu về thủ tục hành chính đi từ khái niệm, phân loại, ý nghĩa, đặc điểm đến
thực tiễn việc cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có đi phân tích cải cách
thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực. Đây là cuốn sách cung cấp nhiều tài liệu,
luận cứ rất tốt để là cơ sở nghiên cứu đối với Luận văn.
Học viện Hành chính Quốc gia, Kỷ yếu hội thảo khoa học (2011), “Cải
cách hành chính nhà nước ở Việt Nam từ góc nhìn của các nhà khoa học” NXB
Lao động; Sách “Cải cách hành chính: Vấn đề cấp thiết để đổi mới bộ máy Nhà
nước” Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2004. Hai công trình nghiên cứu này đã tập hợp

3


các ý kiến, bài tham luận của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo về hiện trạng và
giải pháp CCHC nhà nước, cải cách thể chế pháp luật liên quan đến CCHC.
Dương Quang Tung (chủ nhiệm đề tài), Cải cách hành chính để thúc đẩy sự
phát triển đất nước trong thời kỳ mở cửa, hội nhập hiện nay, Viện khoa học Tổ
chức nhà nước, năm 2007.
Acuna-Alfaro, Jairo, (chủ biên), Cải cách nền hành chính Việt Nam:
Thực trạng và giải pháp, do UNDP, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hỗ trợ cộng đồng đồng chủ trì, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009. Công trình này đưa ra những bình luận chi
tiết về sự phát triển nền hành chính ở Việt Nam trong hơn một thập kỷ đổi mới
và đề xuất những giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CCHC.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu được đề cập trên chủ yếu nghiên
cứu lý luận và thực tiễn CCHC ở bình diện rộng, hoặc mới chỉ mới tập trung
nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của CCHC trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu CCHC gắn liền với địa
phương, điển hình như:
Nguyễn Thị Hồng Hiếu (2010), “Các giải pháp tăng cường cải cách hành

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm khoa học về CCHC và CCHC ở cấp cơ sở.
- Nội dung đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về
CCHC trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay.
- CCHC của UBND cấp xã tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về CCHC nói
chung và CCHC của UBND cấp xã nói riêng.
- Phạm vi không gian: Tại UBND cấp xã ( gồm 09 phường và 04 xã) trên
địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi thời gian: Trong khoảng 5 năm từ năm 2013 – 2017.

5


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở nhận thức luận
của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Luận văn xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN, phát huy vai trò của pháp luật, tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt
động của bộ máy nhà nước và đẩy mạnh CCHCNN ở nước ta hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu hiện đại, đã được áp
dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học pháp lý để làm sáng tỏ các nội dung
nghiên cứu.
Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp thu thập tư liệu, phương
pháp phân tích định tính, định lượng nguồn số liệu, phương pháp tổng hợp,

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1. Những vấn đề chung về cải cách hành chính ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm cải cách hành chính nhà nước
Hành chính (theo nghĩa chung nhất) là hoạt động quản lý. Các hoạt động
này được thực hiện bởi các cơ quan HCNN. C.Mác xem hoạt động quản lý là
một chức năng căn bản được nảy sinh từ bản chất xã hội trong quá trình lao
động.
CCHC vốn có nhiều quan niệm không giống nhau. Quan niệm có tính phổ
biến, xem CCHC là sự cải cách/ điều chỉnh cơ cấu tổ chức để làm thay đổi về
chức năng, phương thức quản lý và cơ cấu nhân viên. Nhưng ở quan điểm về ý
thức hệ và thực tiễn tình hình của các quốc gia, nên nội dung và mục tiêu CCHC
cũng không giống nhau. Tuy vậy, CCHC đều xuất phát từ thực tiễn và phát sinh
chủ yếu do nguyên nhân sau: yêu cầu tất yếu của phát triển kinh tế - xã hội, yêu
cầu của việc xây dựng niềm tin của nhân dân vào chế độ, vào sự lãnh đạo của
Đảng, vào đội ngũ CB,CC, đảng viên, yêu cầu của việc cải tạo, điều chỉnh của cơ
cấu hành chính, kết quả tất yếu của sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào quản lý HC. Nhu cầu và yêu cầu của CCHC liên quan hữu cơ chặt chẽ tới
nội dung và tính chất của CCHC.
Ở phạm vi rộng, nền HCNN có vai trò hệ trọng trong toàn bộ quá trình
hoạt động quản lý của nhà nước. Ngày nay, CCHC đã trở thành một thuật ngữ
thường được nhắc đến của đời sống chính trị - xã hội.
CCHC (ở nghĩa rộng) là quá trình thay đổi cơ bản, liên tục và lâu dài, bao
gồm: cơ cấu quyền lực hành pháp và mọi hoạt động có ý thức của bộ máy công
quyền để đạt được sự hợp tác giữa các cá nhân, các bộ phận vì mục đích, lợi ích
chung của cộng đồng.

8





trung ương đến cơ sở, có đủ hiệu lực về quyền lực và năng lực thực thi. Có thể
thấy, từ chỗ trước đây CCHC chủ yếu là biện pháp tình thế, nay Đảng ta đã xác
định cải cách hệ thống HC là nhiệm vụ trọng tâm và đặt trong tổng thể đổi mới
hệ thống chính trị. Đại hội cũng đề ra nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải cách
về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi hoàn thiện cơ cấu tổ chức và
phương thức hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 nêu: Sửa đổi hệ
thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy HC, kiện toàn các cơ quan lập pháp để
thực hiện có hiệu quả chức năng QLNN, đã xác định quyền hành pháp trong
quyền lực nhà nước thống nhất. Năm 1996, Đại hội VIII nhấn mạnh yêu cầu
CCHC phải thực hiện đồng bộ dựa trên cơ sở PL. Các nhiệm vụ được nêu ra là:
xây dựng hệ thống PL phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình hoạch định
VBPL của Chính phủ, đồng thời đẩy mạnh CCTTHC, tái sắp xếp bộ máy HC từ
cấp Trung ương đến các cấp địa phương, hợp nhất nhập lại một số cơ quan quản
lý về kinh tế trên cơ sở phân định rõ và thực hiện đúng chức năng quản lý của
các bộ, ngành. Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) xác định một trong
các chủ trương, giải pháp lớn về CCHC - đó là bảo đảm tiến hành dân chủ hoá
lĩnh vực chính trị - xã hội, giữ vững và phát huy bản chất XHCN của Nhà nước,
ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,
sách nhiễu người dân đang còn diễn ra rất nghiêm trọng trong bộ máy nhà nước.
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và 7 (khoá VIII) đã đặt CCHC với nhiệm vụ
trọng tâm trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị. Có thể thấy, đây là giai đoạn
Đảng và Nhà nước tập trung sự chỉ đạo CCHCNN trên diện rộng, trong một tổng
thể và chú ý tập trung chỉ đạo theo phương châm cải cách nền HCNN là trọng
tâm của việc xây dựng hoàn thiện Nhà nước.
1.1.2.2. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc năm 2001, Chính phủ xây dựng và
thực hiện Chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn 2001-2010.

đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn 2011 - 2020 theo
Nghị quyết số 30c/NQ-CP, nhằm hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu cải cách

11


HCNN giai đoạn II (2016 - 2020). Tập trung thực hiện các trọng tâm cải cách
HC giai đoạn 2016 - 2020 là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ CB,CC,VC, chú trọng cải cách chính sách tiền lương; nâng cao chất
lượng dịch vụ HC và chất lượng dịch vụ công… Gắn kết công tác CCHC của các
bộ, ngành và địa phương; tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, đơn
vị và người đứng đầu cơ quan HCNN các cấp trong việc triển khai nhiệm vụ
CCHC. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của CCHC để phục vụ cho mục tiêu phát
triển KT-XH của đất nước đến năm 2020.
Theo đó, nội dung cơ bản của cải cách HCNN giai đoạn 2016-2020 gồm:
- Cải cách thể chế:
Đẩy mạnh và thực hiện đồng bộ cải cách: HC, lập pháp và tư pháp. Thể
chế hóa làm rõ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà
nước; gia tăng hiệu quả quản trị nhà nước và tính công khai, minh bạch, trách
nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong tổ chức và hoạt động. Đẩy mạnh
hoàn thiện hệ thống thể chế, PL của nền HC và thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp 2013. Đẩy mạnh việc hoàn
thiện PL về bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
theo Hiến pháp 2013 và các chuẩn mực quốc tế; hoàn thiện quy định PL về mối
quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát trong quá trình tham mưu, ban hành VBQPPL. Đến năm 2020, hoàn thành
căn bản công tác xây dựng HTPL Việt Nam đồng bộ, thống nhất, khả thi, ổn
định, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận dựa trên hệ thống các chính sách đã
hoạch định ở từng lĩnh vực nhằm phù hợp với mục tiêu thúc đẩy phát triển KTXH. Chú trọng thực hiện trọng tâm việc hoàn thiện và tổ chức thực thi PL, bảo
đảm PL nghiêm minh, liên thông và gắn kết mật thiết giữa công tác hoạch định

>80% các cá nhân hài lòng dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp ở các lĩnh
vực giáo dục, y tế... Tăng cường kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, nhân
dân đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Quy định chặt chẽ các tiêu chí, điều kiện thành lập, sáp nhập, giải thể đơn

13


vị HC các cấp và khuyến khích sáp nhập cấp xã.
- Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC,VC:
Đẩy mạnh cải cách đổi mới chế độ công vụ, công chức. Đẩy mạnh triển
khai hiệu quả của chính sách tinh giản biên chế và tái cơ cấu đội ngũ
CB,CC,VC. Đổi mới cách thức tuyển dụng CC,VC về quy trình thủ tục, thẩm
quyền, trách nhiệm và quy định rõ về xử lý vi phạm; thí điểm việc tổ chức đổi
mới cách thức tuyển chọn các chức danh lãnh đạo, quản lý. Bổ sung và hoàn
thiện các chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của CC,VC. Tổ chức thực hiện việc
đánh giá, phân loại CB,CC,VC theo quy định PL, gắn với các nội dung khác của
công tác quản lý CB,CC,VC. Đổi mới công tác thống kê, báo cáo và quản lý hồ
sơ CC,VC…
Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CB,CC,VC. Sửa đổi, hoàn thiện
cơ chế đào tạo, bồi dưỡng nhằm phù hợp với điều kiện nước ta trước yêu cầu hội
nhập quốc tế. Tổ chức tập trung, thống nhất hệ thống quản lý cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng CB,CC,VC một cách khoa học và tinh gọn để đáp ứng sự phù hợp yêu
cầu, nhiệm vụ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng. Cải cách hệ thống chính sách khuyến
khích, tiền lương …
Năm 2020, kiện toàn đội ngũ CB,CC,VC có số lượng và cơ cấu hợp lý, đủ
trình độ và năng lực thực thi công vụ để phục vụ nhân dân và sự phát triển của
đất nước; 100% cơ quan HCNN đảm bảo cơ cấu CB,CC theo vị trí việc làm.
- Cải cách tài chính công:
Kiểm soát chặt chẽ ngân sách nhà nước chi thường xuyên và đầu tư công.

1.2. Chính quyền cấp xã và cải cách hành chính Nhà nước ở cấp xã
1.2.1. Khái quát về chính quyền cấp xã
Hệ thống QLHCNN Việt Nam tổ chức theo một hệ thống dọc, gồm 4 cấp:
Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện – xã, phường, thị trấn. Nếu nhìn dưới
lên, xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cơ sở, rồi mới đến địa phương
và toàn quốc. Vì cấp xã là cơ sở nền tảng của nhà nước và xã hội. Sự ổn định của
xã hội được bắt đầu từ cơ sở, đó là tiền đề của sự phát triển; sự không bình yên
của thể chế thường bắt nguồn từ chỗ lòng dân không yên, quy luật quản lý là có

15


dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả… Thuận lòng dân được nhìn một cách rõ
nhất, trực tiếp nhất là từ những người dân cơ sở, phải xuất phát từ đây thì mọi
hoạt động quản lý của các cấp mới triển khai có hiệu quả.
Cấp xã là một khái niệm về đơn vị hành chính ở cơ sở. Chính quyền cấp
xã gồm HĐND - UBND cấp xã tuy chịu sự chỉ đạo, kiểm soát của cấp huyện,
cấp tỉnh và trung ương; nhưng vì tính chất và tầm quan trọng ở mỗi cấp độ quản
lý là do sự quy định của chức năng, nhiệm vụ của bản thân nó. Cấp xã cũng là
nơi mà các đầu mối công việc, các quan hệ đa chiều, trên - dưới, dọc – ngang,
trong - ngoài đan xen ở một môi trường sống động của một không gian xác định,
thẩm quyền và trách nhiệm phải thực thi, nơi bộc lộ tập trung và trực tiếp của
một chế độ, một chính quyền. Cụ thể hơn, cấp xã là một địa bàn chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, nơi có cả cộng đồng dân cư hàng nghìn, hàng vạn con người
sinh sống mà hàng ngày, hàng giờ họ phải lo chuyện an sinh, an ninh, đoàn kết,
đồng thuận và hoà hợp để phát triển. Nên nội lực và sinh lực của cấp xã là hệ
trọng.
Cấp xã là cấp sát dân nhất, là nền tảng của hoạt động hành chính. Cấp xã
làm được việc thì tất cả các công việc đều xong xuôi [9; tr.371]. Vị trí quan trọng
của cấp xã cũng đã được khẳng định tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung

- Về cải cách thể chế ở cấp xã:
Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát quá trình tham mưu, ban hành
VBQPPL ở cấp xã. Tổ chức thực hiện hiệu quả Luật Ban hành VBQPPL năm
2015. Do cấp xã không tổ chức các cơ quan chuyên môn, nên quy trình ban hành
ban hành văn bản của địa phương đề cao trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã
trong công tác ban hành VBQPPL của cấp xã, thể hiện qua việc tổ chức lấy ý
kiến các dự thảo, tiếp thu ý kiến, chỉ đạo việc soạn thảo các dự thảo (Điều 142
đến Điều 145 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).
Sắp xếp hệ thống hóa các VBQPPL ở cấp xã đồng bộ, thống nhất, khả thi,
công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận dựa trên hệ thống chính sách đã được
hoạch định ở từng lĩnh vực phù hợp mục tiêu phát triển KT-XH địa phương. Chủ
tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch hệ thống hóa văn

17


bản do HĐND, UBND cấp mình ban hành.
Hoàn thiện hệ thống VBQPPL quy định về mối quan hệ giữa Nhà nước và
nhân dân, mà trọng tâm là bảo đảm việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân
được bắt đầu từ cơ sở, tham vấn ý kiến của người dân trước khi quyết định chính
sách quan trọng và phát huy quyền giám sát của nhân dân đối với các hoạt động
của chính quyền cấp xã. Hoàn thiện việc tổ chức thực thi PL hiện hành, bảo đảm
tính liên thông, tính nghiêm minh PL. Tăng cường trách nhiệm giải trình, công
khai, minh bạch trong tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã.
- Về cải cách TTHC ở cấp xã:
Đẩy mạnh đơn giản hóa TTHC và tổ chức thực hiện có kết quả về Đề án
Tổng thể đơn giản hóa TTHC, các giấy tờ công dân và cơ sở dữ liệu liên quan tới
quản lý dân cư ở giai đoạn 2013 - 2020. Ưu tiên TTHC Ở các lĩnh vực trọng
tâm: đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; đầu tư; thuế; giáo dục; y tế...
Công khai, minh bạch tất cả các TTHC bằng các hình thức thiết thực và

cách cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của CB,CC cấp xã tương thích với trách
nhiệm và xác lập chế tài pháp lý để kỷ luật đối với các trường hợp hành vi phạm
pháp, vi phạm đạo đức công vụ của CB,CC cấp xã. Phòng ngừa, ngăn chặn tình
trạng tha hoá, thoái hóa biến chất của một số bộ phận cán bộ của chính quyền
cấp xã.
Cải cách hệ thống chính sách tiền lương và an sinh xã hội; Sửa đổi, bổ
sung các quy định về chế độ khuyến khích, chế độ phụ cấp ngoài lương theo
ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn
đối với CB,CC cấp xã. Đề cao kỷ luật, kỷ cương HC và đạo đức công vụ.
- Cải cách tài chính công ở cấp xã:
Kiểm soát chặt chẽ ngân sách nhà nước chi thường xuyên và đầu tư công.
Chú trọng đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho UBND cấp xã, thực thi cơ chế
cấp ngân sách dựa vào kết quả và chất lượng hoạt động, dựa vào kiểm soát đầu
ra và chất lượng chi tiêu theo nhiệm vụ, mục tiêu của UBND cấp xã. Nhà nước
tăng đầu tư và đẩy mạnh xã hội hóa để huy động toàn xã hội chăm lo phát triển:
giáo dục, đào tạo, y tế, DS-KHHGĐ, thể dục, thể thao ở cấp xã. Đổi mới và hoàn

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status