Thực hiện chính sách NCC với cách mạng từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI TẤN CƯỜNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NCC
VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI – năm 2018

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI TẤN CƯỜNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

:

cao cả của cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với người có cách mạng, đồng thời
là giải pháp góp phần bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.
Phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, đồng chí Nguyễn Phú
Trọng, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Các anh hùng liệt sĩ đã
anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Suốt mấy chục năm qua,
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế độ đối với thương binh,
bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng và thường

3


xuyên bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, đến nay đã hình
thành một hệ thống chính sách mà các nội dung đều gắn liền với việc thực hiện
chính sách kinh tế - xã hội và liên quan đến đời sống hàng ngày của hàng triệu
NCC. Các chính sách ưu đãi này đã góp phần xoa dịu nỗi đau, giảm bớt những khó
khăn về vật chất trong cuộc sống hành ngày, là nguồn động viên, khích lệ NCC
vươn lên trong cuộc sống.
Tuy nhiên, do Việt Nam là một nước nghèo, thiên tai hạn hán, lũ lụt thường
xuyên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn, nguồn
lực của Nhà nước chỉ đáp ứng một phần, nên công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc
sức khỏe và nâng cao đời sống cho NCC với cách mạng vẫn còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, thực tế thực hiện chính sách còn nhiều tồn tại từ nhiều nguyên
nhân khác nhau mà gây khó khăn, cản trở cho cả cán bộ, công chức thực hiện chính
sách và khó khăn cho người thụ hưởng chính sách. Ví dụ: Pháp lệnh Ưu đãi NCC
tuy đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời, nhưng một số văn bản hướng dẫn thực hiện
Pháp lệnh vẫn chưa bảo đảm sự thống nhất. Một số quy định liên quan công tác xác
nhận NCC, thực hiện chính sách ưu đãi… còn bất cập, gây khó khăn cho công tác tổ
chức, thực hiện. Đối tượng thuộc diện thụ hưởng chính sách ưu đãi ngày càng mở
rộng, chế độ ưu đãi ngày càng nâng cao, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu

NCC biết được những quyền lợi nào họ được hưởng.
- Năm 2005, Nguyễn Thị Hằng, nguyên Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH có bài:
Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia
đình liệt sỹ, NCC với cách mạng trên Tạp chí Cộng sản số 7/2005.
- Bài “Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sỹ thời kỳ đổi mới”
của tác giả Nguyễn Danh Tiên đăng trên Tạp chí Khoa học Quân sự tháng 7/2012.
Bài viết đã khái quát những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với công tác thương binh, liệt sỹ từ năm 1986 đến năm 2012. Đồng thời, đưa ra
những đánh giá thực trạng để thấy được sự bất cập, những tồn tại quá trình thực
hiện.

5


- Cũng trong năm 2012, Nguyễn Duy Kiên - Phó Cục trưởng Cục NCC, Bộ
LĐTBXH có bài Chính sách NCC - là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên
giáo số 7/2012. Bài viết này đã khái quát một số thành tựu của chính sách ưu đãi
NCC trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính
sách ở nước ta. Tác giả bài viết nhận định: Đối với việc thực hiện các nguồn trợ cấp,
ưu đãi thường xuyên đối với NCC với cách mạng thì Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Nguồn lực này có ý nghĩa lớn đối với việc ổn định đời sống của NCC, bởi lẽ họ
thường là những người không có lương cũng như bảo hiểm xã hội.
Các bài viết, các nghiên cứu trên đã góp phần vào việc đánh giá, nhận định
các vấn đề về chính sách, thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC với cách mạng.
Luận văn “Thực hiện chính NCC với cách mạng từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam” tuy không thuộc một chủ đề mới, nhưng điểm mới của luận văn
chính là tìm hiểu, đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách NCC với cách mạng trên
địa bàn cụ thể là thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; điều này có ý nghĩa quan
trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách ưu đãi xã hội với đối
tượng NCC với cách mạng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.

quan hệ giữa lý thuyết với thực tế.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên việc khai thác thông tin dữ liệu từ các nguồn
có sẵn liên quan, bao gồm: các văn bản của Đảng, Nhà nước ở cả Trung ương và địa
phương; thu thập thông tin trên mạng internet, một số sách, báo, tạp chí và công
trình nghiên cứu khác như các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành
đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp, gián tiếp tới vấn đề chính sách NCC với
cách mạng ở nước ta nói chung và thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Ý nghĩa lý luận của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý
luận về thực hiện chính sách công ở Việt Nam nói chung và thực hiện chính sách
NCC với cách mạng thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thể hiện ở chỗ đã đề xuất các giải pháp mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, các
kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách NCC với
cách mạng tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Luận văn có thể sử dụng làm
tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về chuyên đề chính

7


sách ưu đãi xã hội, chính sách ưu đãi NCC với cách mạng chuyên ngành chính sách
công ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Các khái niệm về thực hiện chính sách NCC với cách mạng.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với NCC với cách mạng
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện

Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) về chính sách, chế độ đối với cán bộ, đảng
viên hoạt động lâu năm và Thông tri số 07-TT/TC ngày 21-3-1979 của Ban Tổ
chức Trung ương hướng dẫn vận dụng tiêu chuẩn và xác nhận những đối tượng
hưởng chính sách, chế độ đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 19-8-

9


1945 [14, tr.2].
(2) Người HĐCM từ ngày 01- 01-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm
1945 là người hoạt động cách mạng thoát ly người đã tham gia trong các tổ chức
cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc cấp hành chính tương đương trở
lên trong khoảng thời gian từ ngày 01-01-1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa
phương và sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến (trừ trường hợp
do yêu cầu giảm chính, phục viên hoặc không đủ sức khỏe) [14, tr.5].
(3) Liệt sĩ là người hy sinh thuộc một trong các trường hợp: Chiến đấu bảo
vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; trực tiếp phục vụ chiến
đấu trong khi địch bắn phá: tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm bảo thông tin liên
lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo chiến đấu; làm
nghĩa vụ quốc tế mà bị chết trong khi thực hiện nhiệm vụ hoặc bị thương, bị bệnh
phải đưa về nước điều trị và chết trong khi đang điều trị; trực tiếp tham gia đấu
tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội
được quy định trong Bộ luật Hình sự; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy
hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà
nước và nhân dân; do ốm đau, tai nạn trong khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng và
an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của
pháp luật; khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ
quan có thẩm quyền giao… [14, tr.8].
(4) Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Danh hiệu cao quý này được ban hành theo
Pháp lệnh ngày 29 tháng 8 năm 1994 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng

suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; vô sinh; sinh con dị dạng, dị tật theo
danh mục dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định [14, tr.18].
(10) Người hoạt động cách mạng hoặc HĐKC bị địch bắt tù, đày: là người
được tham gia hoạt động cách mạng mà bị tù đày. Trong thời gian bị tù, đày người
đó không khai báo các vấn đề, nội dung có hại cho cách mạng, cho kháng chiến; họ
không làm tay sai, chỉ điểm cho địch.
(11) Người HĐKC giải phóng dân tộc [14, tr.22].
(12) Người giúp đỡ cách mạng: là người đã có công giúp đỡ cách nmangj và
được cơ quan có thẩm quyền công nhận [14, tr.22].
1.1.2. Nhu cầu, đặc điểm của NCC với cách mạng
1.1.2.1. Nhu cầu của NCC với cách mạng

11


NCC với cách mạng cũng như bao người dân bình thường khác trong xã hội,
đều có nhu cầu, mong muốn có gia đình đông đủ, sum vầy, mạnh khỏe, có
cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ, ấm no và hạnh phúc, có điều kiện, cơ hội
vươn lên làm giàu chính đáng. Tuy nhiên, NCC là người đã tham gia kháng chiến,
bản thân họ có những thiệt thòi nhất định về sức khỏe, tinh thần, khuyết, thiếu
những điều kiện, cơ hội phát triển như những thành phần khác trong xã hội; đại
đa số những đối tượng này đều ở trong hoàn cảnh rất khó khăn, cần được quan tâm,
chăm sóc, chia sẻ, động viên, hỗ trợ, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
1.1.2.2. Đặc điểm của NCC với cách mạng
Vì đã trải qua những cuộc chiến nên NCC với cách mạng là những người
luôn luôn trân trọng quá khứ, tự hào về những công lao đóng góp của bản thân và
gia đình cho sự nghiệp cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại
xâm, bảo vệ tổ quốc, vì mảnh đất máu thịt của quê hương, đất nước, họ đã không
ngại hy sinh tuổi thanh xuân, thân thể, sinh mạng, tài sản để cống hiến cho công
cuộc đấu tranh giành tự do cho đất nước, độc lập cho dân tộc.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status