Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp trước ngoài từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VINH HẠNH

ƯU ĐÃI VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

UẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN

Hà Nội, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PTS. Nguyễn Thị Thương Huyền. Các số liệu, những kết luận
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên

Nguyễn Vinh Hạnh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà
nước. Thuế là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì hoạt động của bộ
máy hành chính Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Từ lâu, Đảng và Nhà nước đã rất
chú trọng đến cải cách hệ thống thuế. Trong đó, ưu đãi thuế là một trong những yếu tố
không thể thiếu trong chính sách về thuế nhằm kích thích đầu tư, góp phần vào tăng trưởng
đồng thời là công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Trong từng giai đoạn phát triển, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã góp phần
tạo môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng, phù hợp với thông lệ
quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài
nước, phát huy tốt vai trò định hướng thu hút đầu tư, góp phần quan trọng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất
kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh tế phát
triển bền vững. Sau nhiều năm thực hiện, bên cạnh cải cách các chính sách ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp, việc Quốc hội Việt Nam nhiều lần điều chỉnh sắc thuế này đã
giúp môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn so với các nước
trong khu vực và trên thế giới.
Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số
09/2003/QH11 là một trong những văn bản luật đầu tiên thiết lập chế độ đối xử bình
đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư nước
ngoài và đầu tư trong nước, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý đáp ứng điều kiện gia nhập
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), tạo bước tiến mới về cải cách hành chính trong
lĩnh vực thuế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng, thuận
lợi và hấp dẫn hơn. Ngày 13/6/2008 Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp số 14/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thực hiện từ 01/01/2009 trong đó
các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế suất phổ thông được thống nhất áp dụng
cho cả đầu tư trong nước và FDI; quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được
đơn giản hơn và minh bạch hơn.


chung, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
từ thực tiễn thành phố Hà Nội nói riêng vẫn còn rất hạn chế.

2


Từ những luận giải trên, tác giả đã chọn đề tài “Ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp trước ngoài từ thực tiễn thành phố Hà
Nội” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật tại Học viên Khoa học Xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về thuế và thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam khá đa dạng. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chuyên biệt
về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung, về pháp luật ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội nói riêng
còn khiêm tốn.
Xung quanh vấn đề này có các công trình khoa học đáng chú ý sau:
“Chính sách ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam” (2007) của tác
giả Cao Thu Thủy là một đề tài nghiên cứu khá đầy đủ các vấn đề pháp lý cũng như thực
trạng pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời, đề tài cũng
đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam.
“Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và giải pháp chống chuyển giá ở Việt
Nam” (2010) của tác giả Lê Văn Hải. Công trình này đã nghiên cứu cơ bản quy định
pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Qua đó chỉ ra những hạn chế trong quy định
pháp luật dẫn đến tình trạng chuyển giá ở các doanh nghiệp. Đồng thời tác giả cũng đã
đưa ra một số giải pháp nhằm chống tình trạng chuyển giá này.
“Pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng cà giải
pháp” của tác giả Đinh Hải Yến đã trình bày cơ bản các vấn đề lý luận và thực trạng áp
dụng định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập ở Việt Nam theo luật thuế thu nhập doanh
nghiệp năm 2008.
“Pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam” (2012) của tác

Tuy nhiên, các công trình khoa học trên đây vẫn thiếu các nghiên cứu cụ thể
nhằm tổng kết, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy
định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn Hà Nội.
Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu có hệ thống và toàn diện ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn thành phố
Hà Nội vẫn rất cần thiết trong lĩnh vực khoa học pháp lý có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
rất lớn trong giai đoạn hiện nay.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ các vấn đề cơ bản về ưu đãi thuế và ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Phân tích các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; Thực tiễn thi hành các ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội từ
đó đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thuế thu
nhập doanh nghiệp và ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ
Luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Phân tích làm rõ quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi
về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực
tiễn thành phố Hà Nội;
- Phân tích thực trạng thực thi pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội;
- Đánh giá, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế về quy định và thực trạng pháp luật về
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực

Phương pháp thống kê: phương pháp này sử dụng để thống kê về các ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn
Hà Nội từ năm 2008 đến nay.
Phương pháp diễn dịch quy nạp: phương pháp này được sử dụng để phân tích các quy
định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thực tiễn thực hiện các quy định này từ đó
có sự tổng hợp nội dung nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn sẽ có một số đóng góp mới như sau:
Luận văn đã làm rõ những vấn đề cơ bản về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp; những
vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài như khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa
của thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Luận văn đã đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc thực tiễn thi hành pháp luật về ưu đãi
thuế thu nhập doanh đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn thành phố Hà Nội;

6


chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc thi hành pháp luật từ đó tìm ra và phân tích các nguyên
nhân của những hạn chế, bất cập đó.
Luận văn đã chỉ ra được phương hướng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện bảo đảm
thực hiện các quy định pháp luật đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà
Nội trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật về ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi về thuế thu nhập


Học viện Tài chính, Dương Ngọc Quang, Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền
kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2015.
1

8


Theo giáo trình Thuế của Trường đại học Kinh tế TP. HCM: thuế thu nhập doanh
nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến
thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Theo giáo trình Thuế của Học viện Tài chính: Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế
tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.
Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp không phải toàn bộ thu nhập
của các cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập doanh
nghiệp. Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Vì việc
đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh cao hay thấp vào từng loại thu nhập là tuỳ thuộc
vào quan điểm của mỗi Nhà nước về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụ thuộc vào
nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuế cũng như
mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt được để góp phần thực hiện các chính sách về kinh
tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định
Sự ra đời của thuế thu nhập nói chung, thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng
xuất phát từ những lý do khác nhau. Một cách tổng quan, sự ra đời này xuất phát từ các
lý do căn bản sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập đảm
bảo công bằng xã hội.
Thứ hai, sự ra đời của thuế thu nhập còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của nhà
nước, nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, cùng với
xu thế phát triển kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi người ngày càng
cao, nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn tài chính to lớn cho mình thông qua

về vốn cho doanh nghiệp… 4
Thuế không chỉ gắn liền mà chúng còn có một ảnh hưởng rất lớn đối với thu nhập
cũng như những chính sách, chiến lược phát triển riêng của các doanh nghiệp trong từng
giai đoạn khác nhau. Ưu đãi thuế là một trong những yếu tố không thể thiếu trong tất cả
các sắc thuế. Vì chính sách ưu đãi thuế không những thể hiện sự quan tâm của nhà nước
đối với các đối tượng nộp thuế khi họ gặp các rủi ro khách quan dẫn đến tổn thất tài sản
hoặc thu nhập, thể hiện sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế mà

3

Học viện Tài chính (2010), Giáo trình thuế thu nhập, Nhà xuất bản Tài chính., trang 195.
Lý Phương Duyên (Chủ nhiệm) (2014), Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Học viện, Học viện Tài chính, Hà Nội, trang 4,5.
4

10


quan trọng hơn nữa chính sách ưu đãi thuế là công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết vĩ
mô nền kinh tế -xã hội. Gần đây, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa
các quốc gia ngày càng gay gắt hơn nên nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã sử
dụng thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt là nội dung ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp, như là một công cụ quan trọng để tăng sức hấp dẫn thu hút đầu tư. Hiện nay,
các quốc gia thường sử dụng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
để thực hiện mục tiêu điều tiết nền kinh tế xã hội của mình. Thông thường các nước áp
dụng chế độ ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các lĩnh vực quan trọng,
các ngành mũi nhọn hoặc có lợi thế phát triển và các ngành tạo ra sản phẩm có sức cạnh
tranh của từng nước.
Tuy nhiên, trong chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có sự
khác biệt lớn giữa các nước, điều này được lý giải bởi lý do:

quy định về những biện pháp, những lợi ích nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế thu nhập
doanh nghiệp cho các nhà đầu tư, khuyến khích và thu hút đầu tư mà Nhà nước dành
cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanh nghiệp nhất định (ưu đãi về thuế suất,
thời gian miễn, giảm thuế...) so với những đối tượng chịu thuế khác trong cùng điều kiện
nhất định5.
1.1.3. Các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
* Miễn toàn bộ hoặc một phần thuế thu nhập
Ở các nước đang phát triển thời kỳ ưu đãi thuế là hình thức ưu đãi thuế cho đầu
tư phổ biến nhất. Thời kỳ ưu đãi thuế cho phép được miễn toàn bộ (hoặc một phần) thuế
lợi tức (và đôi khi cả giảm các loại thuế khác) trong đó ưu đãi được áp dụng trong một
số năm cụ thể.
Nhìn chung, khi thực hiện hình thức ưu đãi thông qua việc miễn toàn bộ hoặc
một phần thuế thu nhập trong một thời kỳ nhất định, cần cân nhắc ba yếu tố: thời gian
của kỳ ưu đãi thuế; thời điểm bắt đầu có hiệu lực; mối liên hệ giữa các quy định về kỳ
ưu đãi thuế với các quy định của hệ thống thuế thông thường.
Thời kỳ ưu đãi thuế ngắn thường có giá trị hạn chế hoặc không mấy thu hút đối
với các nhà đầu tư tiềm năng nhất, và ít khi đạt hiệu quả trong việc thu hút đầu tư hơn
các dự án ngắn hạn.

Vũ Thị Thùy Linh, Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành
phố Hải Dương” (2015), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, trang 8.
5

12


Thời kỳ ưu đãi thuế kéo dài có thể hấp dẫn hơn nhiều nhưng lại làm tăng chi phí
cho nước tiếp nhận đầu tư do thất thu thuế. Những phản đối khác là không thể tính trước
một cách chính xác được dù là nhỏ nhất chi phí của kỳ ưu đãi thuế cũng như chi phí gắn
với khoản đầu tư, hoặc gắn với lợi ích dự kiến khoản đầu tư sẽ tích góp cho nước tiếp

giảm trừ ban đầu phổ biến cho phép giảm ví dụ như 40% chi phí của tài sản khấu hao
trong năm đầu tiên, và 60% chi phí còn lại sẽ giảm trong một số năm tiếp theo. Hình
thức giảm trừ này không cho phép giảm 100% chi phí và vì vậy thực chất là một dạng
khấu hao nhanh.
Giảm trừ thuế cho đầu tư có thể là mức cố định hoặc tăng dần. Giảm trừ thuế cố
định cho đầu tư là tỷ lệ cố định được hưởng trên chi phí đầu tư phát sinh từ nguồn vốn
đủ tiêu chuẩn hưởng ưu đãi (vốn mục tiêu) trong một năm. Ngược lại, giảm trừ thuế
tăng dần cho đầu tư là tỷ lệ cố định được hưởng từ chi phí đầu tư vượt trội đủ tiêu chuẩn
hưởng ưu đãi trong năm. Chi phí này về đặc điểm là tính theo căn cứ trung bình và
thường dao động (ví dụ là chi phí đầu tư trung bình của đối tượng nộp thuế trong ba năm
trước đó). Mục đích của giảm trừ thuế tăng dần là cải thiện việc hướng các ưu đãi vào
các khoản chi phí tăng dần mà nếu không có ưu đãi thì không phát sinh các chi phí này.
Tuy nhiên hướng áp dụng ưu đãi này không được bảo đảm do các nhà đầu tư có thể đã
dự tính tăng chi phí đầu tư vượt quá các ngưỡng trong các năm trước, đồng thời cũng
mang lại lợi ích hạn chế hoặc thậm chí không có lợi cho các doanh nghiệp có mức đầu
tư giảm trước khi được hưởng ưu đãi (có thể do họ mới mở rộng vốn đầu tư với quy mô
lớn xong hoặc đang gặp khó khăn do thị trường suy thoái). Tuy nhiên có thể đây lại là
thời điểm mà các nhà làm chính sách muốn bắt đầu các ưu đãi đầu tư.
Các khoản khấu trừ thuế chung và theo mục tiêu áp dụng đối với các dự án đủ
điều kiện theo một tỷ lệ nhất định sẽ trực tiếp làm giảm thiểu nghĩa vụ thuế doanh nghiệp
mà các nhà đầu tư phải nộp nếu như không có cơ chế này. Điểm khác biệt giữa cơ chế
này và cơ chế giảm thuế là việc áp dụng khấu trừ thuế đầu tư không phụ thuộc vào mức
thuế suất thuế thu nhập trong luật là bao nhiêu. Ngoài ra, khác với cơ chế giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp, giá trị của cơ chế khấu trừ thuế đầu tư được xem như là một khoản
trợ cấp trả trước cho các nhà đầu tư đối với chi phí huy động nguồn vốn và chỉ áp dụng
đối với các hoạt động đầu tư mới.
Cơ chế này cho phép nhà đầu tư được hưởng mức giảm trừ về thuế suất thực tế
cao hơn và chi phí áp dụng cũng thấp hơn nếu như tính đến sự tác động của thuế đối với
chi phí cận biên và doanh thu cận biên. Cơ chế ưu đãi thông qua giảm mức thuế suất
14

nhập gộp này.

15


* Ưu đãi đối với các khu kinh tế đặc biệt
Các khu kinh tế “đặc biệt” được thành lập với mục tiêu chủ yếu là để thu hút vốn
đầu tư, thực hiện theo một số hình thức nhất định, và phục vụ cho một số mục tiêu cụ
thể nào đó. Các khu này thường được gọi với nhiều tên khác nhau, trong đó những tên
thường gặp là khu phi thuế quan, khu thương mại nước ngoài, khu thương mại tự do,
cảng tự do, khu chế xuất (EPZ), khu thương mại quốc tế, khu kinh tế tự do và đặc khu
kinh tế.
Giữa các khu phi thuế quan và các đặc khu kinh tế có những điểm khác biệt rất
cơ bản. Đặc điểm đặc trưng nhất của các loại hình khu phi thuế quan là hàng hoá xuất
nhập khẩu từ các khu này được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Trong khi đó, đặc
trưng của các đặc khu kinh tế là các khu này áp dụng các cơ chế miễn hay giảm thuế đối
với các sắc thuế khác và việc miễn giảm này thường không được áp dụng bên ngoài khu.
Tuy nhiên, trên thực tế việc các doanh nghiệp đóng trên địa bàn các đặc khu kinh tế
đồng thời được miễn cả thuế nội địa và thuế hải quan cũng không phải là điều lạ. Và
thông thường việc cho miễn thuế xuất nhập khẩu thường được áp dụng trong các đặc
khu kinh tế. Vì thế, có một số loại hình khu kinh tế rất khó để phân loại là chúng thuộc
loại hình nào trong số hai loại hình khu này. Hơn nữa, trong một số trường hợp, khu phi
thuế quan có thể đóng trong đặc khu kinh tế.
1.1.4. Vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cũng góp phần thực hiện các
chức năng của thuế. Vai trò của các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau đây6:
1.1.4.1. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò góp phần thúc đẩy sản
xuất, kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư và thay đổi cơ cấu kinh tế
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của

trực tiếp cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý,
Nhà nước có thể tăng hoặc giảm quy mô và mức độ của các ưu đãi thuế để kích thích
tăng tích luỹ và tích tụ vốn trong các doanh nghiệp và dân cư. Các quy định pháp luật
về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp rất đa dạng: quy định mức thu nhập tối thiểu
không phải nộp thuế; cho phép loại trừ một số khoản chi phí trong thu nhập chịu thuế;
miễn hoặc giảm một phần hay toàn bộ số thuế phải nộp; cho hoãn nộp thuế; cấp tín dụng
thuế để tái đầu tư... Tuỳ theo phạm vi sử dụng, có thể phân chia các quy định pháp luật
về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thành hai nhóm khác nhau: ưu đãi thuế mang tính
chất ngành, vùng lãnh thổvà ưu đãi thuế mang tính chất cá biệt. Việc quy định ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp mang tính chất cá biệt được sử dụng nhằm giải quyết nhiệm
17


vụ điều chỉnh trong phạm vi hẹp, gắn liền với lợi ích của từng chủ thể kinh doanh. Tuy
có những ưu điểm nhất định, nhưng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mang tính cá
biệt cũng tạo ra sự không công bằng trong sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế,
gây hậu quả tâm lý xấu đối với người nộp thuế và tạo ra những tiền đề trốn thuế, làm
mất tính trung lập của thuế. Trong giai đoạn hội nhập, các quy định pháp luật về ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp có thể bị xem là một khoản trợ cấp. Tuỳ theo các lĩnh vực
được ưu đãi, đối tượng được ưu đãi và cách ưu đãi mà các ưu đãi thuế này có thể bị xem
là các khoản trợ cấp bị cấm hoặc các khoản trợ cấp đặc thù sẽ bị áp dụng biện pháp đối
kháng theo Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM). Tuy nhiên, nếu áp
dụng biện pháp thông qua hình thức dùng thuế suất áp dụng chung có thể sẽ tránh được
những phiền phức trong thực thi các cam kết.
1.1.4.3. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò góp phần điều hoà thu
nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn
về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị trường càng
phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng
gia tăng. Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực củacả cộng

nhân nước ngoài, nhà đầu tư chi tiêu quốc tế trực tiếp đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài
sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư chi tiêu theo pháp luật của luật đầu tư chi tiêu
nước ngoài tại Việt Nam.
1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mục tiêu của đầu tư là lợi ích. Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai
mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế- xã hội (biểu hiện qua
chỉ tiêu kinh tế - xã hội). Ở những vị trí khác nhau, người ta cũng nhìn nhận vấn đề lợi
ích không giống nhau. Với các doanh nghiêp, thường thiên về lợi ích kinh tế, tối đa hoá
lợi nhuận. Còn đối với nhà nước lại muốn lợi ích kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội,
trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải mang các đặc điểm chung trên đây.
Đồng thời hoạt động này còn có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp gắn liền với việc dịch chuyển vốn đầu tư tiêu xài, nghĩa
là tiền và các loại tài sản khác giữa những nước nhà, hệ quả là làm tăng lượng tiền và
tài sản của nền kinh tế tài chính nước tiếp nhận đầu tư chi tiêu và làm giảm lượng tiền
và tài sản nước đi đầu tư.
19


Thứ hai, đầu tư trực tiếp được tiến hành trải qua việc bỏ vốn thành lập các doanh
nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), giao kèo hợp tác mua bán, mua lại các
chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành
những hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ chiếm hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng
sở hữu vốn đầu tư với phần trăm nhất định đủ mức tham gia quản trị trực tiếp hoạt động
của doanh nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị
trường trên mô hình thế giới, ít bị liên can của các mối quan hệ chính trị giữa những
nước, những chính phủ và mục tiêu căn bản luôn là đạt được hiệu quả lý tưởng.
Thứ năm, nhà đầu tư chi tiêu trực tiếp điều hành và kiểm soát quá trình hoạt động

Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các
hình thức sau đây: Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; Mua
phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên
của công ty trách nhiệm hữu hạn; Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công
ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh; Mua phần vốn góp
của thành viên tổ chức kinh tế khác;
Ba là, đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP:
Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP) là hợp đồng được
ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực
hiện dự án đầu tư.
Bốn là, đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: Đây là hình thức đầu tư theo Hợp
đồng hợp tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi
nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Các bên tham gia hợp
đồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng BCC. Chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận. Hình thức đầu tư này đang ngày
càng được nhà đầu tư trong và ngoài nước lựa chọn khi thực hiện các hoạt động đầu tư
bởi chính ưu điểm như: do không thành lập pháp nhân nên nhà đầu tư thường chủ động,
linh hoạt hơn và ít phụ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề của dự án đầu tư.
Tuy nhiên hình thức này cũng có một số nhược điểm: do không thành lập pháp nhân nên
không có con dấu riêng… và các nhà đầu tư sẽ phải thỏa thuận lựa chọn một trong con
dấu của các nhà đầu tư để phục vụ cho các hoạt động của dự án đầu tư điều này có thể
sẽ gây rắc rối và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư.
21


1.2.2. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài
chính quốc tế, trong đó bên chủ sở hữu vốn (nhà đầu tư nước ngoài, mà thường là các
công ty đa quốc gia) tạo ra các doanh nghiệp, các chi nhánh ở nước khác; để đầu tư mở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status