VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN
PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN
PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM SỸ AN
Tiên Phước thời gian qua............................................................................................................ 46
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM................56
3.1. Quan điểm và mục tiêu....................................................................................................... 56
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo trên
địa bàn huyện Tiên Phước.......................................................................................................... 59
3.3. Một số kiến nghị..................................................................................................................... 71
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
đa chiều để đo lường nghèo đói. Theo đó nghèo đa chiều được đo lường bằng
mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: y tế; giáo dục; nhà
ở; nước sạch và vệ sinh; và thông tin, và được đo bằng 10 chỉ số. Hộ được coi là
nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt (trên tổng
số 10 chỉ số nói trên) trở lên. Kết quả phân tích số liệu của Khảo sát Mức sống
dân cư cho thấy tỷ lệ nghèo dù đo lường bằng thước đo nào cũng đều giảm trong
giai đoạn 2012-2016. Tỷ lệ nghèo thu nhập, chi tiêu cũng như nghèo đa chiều
giảm mạnh. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 18,1% xuống 10,9% trong thời kỳ này.
Tỷ lệ nghèo chi tiêu giảm từ 17,2% xuống 9,8%, còn tỷ lệ nghèo thu nhập giảm
từ 12,6% xuống còn 7,0%. Xét toàn bộ dân số thì có 18% dân số không thiếu hụt
bất kỳ chỉ số nào trong 10 chỉ số nghèo đa chiều vào năm 2012. Tỷ lệ này tăng
lên đáng kể vào năm 2016, ở mức 36,1%. Không có hộ gia đình nào thiếu hụt 8
chỉ số trở lên. Chỉ có 37,6% dân số thiếu hụt một chỉ số, và 15,5% dân số thiếu
hụt hai chỉ số
1
vào năm 2016. Nhóm thiếu hụt trầm trọng là nhóm thiếu từ 5-7 chỉ số, và nhóm
này chiếm 1,3% dân số vào năm 2016.[1]. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chính
sách giảm nghèo ở nhiều địa phương vẫn chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo
giữa các vùng vẫn còn những khoảng cách đáng kể. Đặc biệt là những địa bàn
vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng miền núi, biên giới khó khăn.
Tiên Phước là huyện miền núi nằm phía Tây của tỉnh, có 14 xã và 01 thị
trấn; có 05 xã đặc biệt khó khăn, dân số toàn huyện trên 80.000 nhân khẩu,
trong đó có trên 200 nhân khẩu là người đồng bào dân tộc Cor. Những năm
qua, các cấp, các ngành trong huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo; triển khai thực hiện đồng bộ các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác giảm
hành đánh giá tác động của một số chính sách đến công tác giảm nghèo ở nước
ta hiện nay. Kết quả nghiên cứu đã tập trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính
sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ y tế
cho người nghèo. Ngoài việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực trạng thực
hiện các chính sách, tác giả còn đưa ra những phương hướng nhằm hoàn thiện
các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015.[13]
Nguyễn Thành Nhân (2015) “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực
tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” luận văn thạc sĩ Chính sách công. Luận văn đã
nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo và giảm
nghèo bền vững; tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
giảm nghèo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra phương hướng và
giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh.[10]
Bùi Thế Hưng (2015) ,“Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn
quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” Đề tài luận văn thạc sĩ chính sách công.
Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giảm nghèo; thực trạng
giảm nghèo trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; đánh giá những
3
mặt được, hạn chế và các nguyên nhân của hạn chế; trên cơ sở đó, tác giả xây
dựng các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo tai quận Lê
Chân, thành phố Hải Phòng trong thời gian đến[3]
Phan Thị Kim Phúc (2016), “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực
tiễn Quận Tân Phú, TPHCM” luận văn thạc sĩ Chính sách công. Luận văn đã
nghiên cứu một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo; thực trạng giảm
nghèo trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá những
tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác giảm nghèo; đề ra phương hướng
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Hệ thống hóa lại một số vấn đề lý luận chung về đói nghèo và chính
sách giảm nghèo bền vững.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
-
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn cấp
huyện. 4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
-
Về thời gian: Đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
từ năm 2015 đến năm 2018. Quan điểm, mục tiêu và giải pháp thực hiện có
hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Tiên Phước đến
nghiên cứu.
-
Phương pháp so sánh, đối chiếu: thực hiện việc so sánh chính sách, kết
quả thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước giai đoạn
2015 – 2018 và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa
bàn nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung kiến
thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết
vận dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.
6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo,
phục vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế
liên quan đến công tác thực hiện chính sách giảm nghèo trong giai đoạn hiện
nay. Nguồn tài liệu sử dụng cho các cơ quan quản lý cấp huyện tham khảo để
đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn
NSNN cấp huyện. Công tác thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền vững
cấp huyện trong thời gian đến.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn
được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững ở nước ta
nhu cầu cơ bản của cuộc sống” [13].
-
Theo tổ chức Liên hợp quốc cho rằng, nghèo là thiếu năng lực tối thiểu
để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có
đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để
trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp
cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị
loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo
hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được
tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn [15].
Như vậy, có thể kết luận rằng, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã
8
hội và phong tục tập quán của địa phương.
Tiêu chuẩn xác định chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là một khái niệm biến động theo không gian và thời gian.
Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng
vùng hay từng quốc gia. Về thời gian, chuẩn nghèo biến động theo trình độ
phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn khác
nhau. Khi kinh tế - xã hội phát triển, tất yếu đời sống con người ngày một cải
thiện tốt hơn, nhu cầu tối thiểu dĩ nhiên cũng sẽ tăng lên.
Ở
nước ta, thu nhập là thước đo và cách thức để đánh giá nghèo. Qua
quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống. Hộ
cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến
520.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập
bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo
9
quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và
chính sách kinh tế, xã hội khác [20]
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn
nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu
chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo
về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; (2) Mức độ thiếu hụt
trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ), bao gồm: tiếp cận về y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Cụ thể:
Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có
thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và
thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên. Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu
chí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống
hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu
hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản. Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ
xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư” [8].
Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước
hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. [8].
Khái niệm giảm nghèo bền vững
Khái niệm này được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 2000. Tuy
nhiên, đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính thức trong văn bản
hành chính tại Nghị quyết số 30A/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về
Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo;
tiếp theo là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về định
hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐTTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình giảm
nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015, Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày
01/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề CSXH giai
đoạn 2012-2020 và Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2016 - 2020. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái
niệm hay một định nghĩa chính thức về giảm nghèo bền vững. Trong các báo
cáo về giảm nghèo, tình trạng tái nghèo luôn được xem là vấn đề cơ bản đối
với hoạt động giảm nghèo bền vững. Theo tác giả, giảm nghèo bền vững là
thực hiện và duy trì các biện pháp giảm nghèo, trong đó tập trung vào các
hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và
phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia
đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội để người nghèo
12
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế,
nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá
trạng tiến triển của các hộ thoát nghèo, sau khi thoát nghèo họ đã có những
việc làm tốt, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và không còn nghèo.
Thu nhập được cải thiện của người nghèo, hộ nghèo
Trên thực tế, thu nhập là một trong những tiêu chí xác định chuẩn nghèo,
vì vậy nếu chuẩn nghèo thay đổi theo sự phát triển chung của xã hội mà thu
nhập không tăng lên thì khó thoát nghèo và dễ nhiều người lâm vào tình trạng
nghèo, đặc biệt là các hộ cận nghèo. Tăng thu nhập giúp người nghèo tránh
được rủi ro nếu xảy ra ảnh hưởng đến thu nhập. Vì vậy thu nhập là tiêu chí
quan trọng để đo lường mức độ giảm nghèo và giảm nghèo bền vững.
Mức độ tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ hỗ trợ người nghèo
Các hoạt động hỗ trợ như chăm sóc y tế, giáo dục và được tham gia đối
với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và
địa phương. Người nghèo cần được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục
dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát
nghèo và con em họ có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm
tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống.
Người nghèo cần được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả
năng tránh được tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan
như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.
Khả năng tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo
Tiêu chí này là một tiêu chí tổng hợp. Ta có thể sử dụng cách đánh giá
định tính thông qua các nội dung liên quan đến tổ chức thực hiện các chính
sách giảm nghèo. Đối với giảm nghèo, vai trò của chính sách rất quan trọng.
Để thực hiện được mục tiêu của chính sách đề ra, cần thiết phải có cách thức
tổ chức thực hiện khoa học, phù hợp với điều kiện ở địa phương. Cách thức tổ
chức thực hiện gồm bộ máy tổ chức, công tác tuyên truyền, phổ biến chính
sách, công tác tập huấn, hỗ trợ việc làm để nâng cao thu nhập…
14
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của
chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách
thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng
như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những
chương trình (Kraft and Furlong, 2004).
Chính sách công là một trong những công cụ được Nhà nước sử dụng để
quản lý, điều hành nền kinh tế - xã hội theo định hướng, được Nhà nước ban
hành để giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra
trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định. Được Nhà nước
sử dụng để khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho
nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và khu vực tư; quản lý nguồn
lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị,
xã hội, môi trường. Khi nói tới chính sách công là bao gồm những dự định
của nhà hoạch định chính sách và các hành vi thực hiện những dự định đưa lại
kết quả thực tế.
Vì vậy, chính sách công được hiểu là “những hành động ứng xử của Nhà
nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”.
Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là
toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện
thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.
Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình
chính sách thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. So với các
khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc
biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội.
Nếu đưa vào thực hiện một chính sách tốt không những mang lại lợi ích
to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng mà còn góp phần làm tăng uy tín
của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Tuy nhiên, để có được một
chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của nước ta. Để
17
thực hiện mục tiêu này thì chính sách giảm nghèo giữ một vị trí hết sức quan
trọng trong hệ thống chính sách xã hội; bởi vì, muốn nâng cao phúc lợi cho
người dân, trước hết người dân phải thoát khỏi đói nghèo; chính sách giảm
nghèo sẽ tạo cơ hội tối thiểu nhất cho bộ phận người dân yếu thế thoát khỏi
nghèo đói kinh niên, có được cơ hội về thu nhập, cơ hội tiêu dùng với tư cách
như là con người sống trong xã hội. Thực hiện chính sách giảm nghèo được
thực hiện thông qua các công cụ sau:
Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn,
giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với
học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non…;
Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo:
Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc
hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật,
công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối
với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ.
Hỗ trợ về nhà ở: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ
nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở
người cao tuổi, người khuyết tật.
Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng: Thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ
bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người
thuộc hộ cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo mắc bệnh nặng,
bệnh hiểm nghèo. Ưu đãi đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở bệnh viện, trạm y tế
ở các huyện, xã nghèo.
Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt
chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động
truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến
chi phí cho sức khỏe và bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm.
- Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các
cấp:
Đây là nhân tố tác động đến mức độ đói nghèo không nhỏ, nhưng thường bị
bỏ qua và chậm đổi mới. Tính chất và mức độ “hành chính quan liêu” của các
cấp, các ngành đã ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề đói nghèo và thực
hiện những chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua,
như cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi còn chậm
trễ; việc xác định diện hộ nghèo theo tiêu chí quy định có những lệch lạc; chất
lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn nên dễ thông
19