Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện duy xuyên, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN CÔNG THÀNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DUY
XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Đà Nẵng, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN CÔNG THÀNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DUY
XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ HẰNG

Đà Nẵng, năm 2019



Tác giả luận văn

Trần Công Thành


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH

SÁCH

GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG.................................................................................. 9
1.1. Lý luận chung về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững..................................... 9
1.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững..................................................... 18
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững .. 24

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM 29
2.1. Thực trạng nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.........................29
2.2. Tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Duy
Xuyên, tỉnh Quảng Nam.......................................................................................... 38
2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.................................................................................. 49
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DUY XUYÊN,
TỈNH QUẢNG NAM............................................................................................ 56
3.1. Mục tiêu và định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam....................................56
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

6

LĐ–TB&XH

7

MTTQ

8

UBND

9

XĐGN

10

XDCB


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả giảm nghèo tại tỉnh Quảng Nam 2014-2018..............................29
Bảng 2.2: Kết quả giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên 2014-2018…….29
Bảng 2.3: Biểu tổng hợp hộ nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên năm 2018. .. 30,31
Bảng 2.4: Biểu tổng hợp hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên năm 2018.. 32


MỞ ĐẦU
1.

thu nhập trung bình khá trở lên. Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, thành tựu
XĐGN của nước ta trong những năm qua đa góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững
và thực hiện công bằng xa hội, được Liên hiệp quốc tuyên dương là một trong

1


những quốc gia về đích sớm trong thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác XĐGN vẫn còn bộc lộ một số
hạn chế nhất định như: chính sách còn chồng chéo thiếu thống nhất, đồng bộ; kết
quả XĐGN chưa bền vững; tốc độ giảm nghèo không đồng đều; nhận thức và tổ
chức thực hiện chương trình giảm nghèo ở địa phương, cơ sở chưa có sự thống nhất
cao; sự phối hợp giữa các chương trình, dự án liên quan đến đói, nghèo chưa chặt
chẽ... Nguyên nhân của thực trạng này là do công tác hoạch định và cụ thể hóa
chính sách còn hạn chế; phương thức thực hiện XĐGN chưa mang tính bền vững;
công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế; người
dân chưa thực sự nỗ lực giảm nghèo, còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà
nước; công tác đánh giá và giám sát việc thực hiện chính sách còn yếu...
Quảng Nam là tỉnh nằm ở khu vực Trung Trung Bộ có tiềm năng, lợi thế đa
dạng về phát triển kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ-du lịch, biển, rừng,
đồi núi…Tuy vậy, nhiều vùng, địa phương trong tỉnh cũng còn khó khăn nên công
tác XĐGN luôn được coi trọng cùng với quá trình phát triển KT-XH của tỉnh. Duy
Xuyên là một trong 18 huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam, được thành lập
vào năm 1997. Xuất phát điểm của huyện Duy Xuyên thấp, quy mô kinh tế nhỏ lẻ,
sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Đứng trước những thách thức lớn, song
được sự quan tâm lanh đạo, chỉ đạo sát sao của tỉnh và bằng quyết tâm chính trị
cùng với cách làm kiên trì, đặc biệt là sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng bộ và
nhân dân trong huyện, Duy Xuyên đa đạt được những thành tựu trong phát triển KTXH.
Tuy vậy, Duy Xuyên vẫn là huyện khó khăn của tỉnh Quảng Nam, là địa
phương có tỷ lệ hộ nghèo cao đứng hàng thứ 8 của tỉnh (cuối năm 2018 tỷ lệ hộ

sự phát triển của toàn xa hội, vấn đề này tồn tại ở tất cả các nước, kể cả các nước có
nền kinh tế phát triển. Do đó, đói nghèo là vấn đề mang tính chất quốc gia và toàn
cầu; XĐGN là nội dung đầu tiên trong tám mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hợp quốc
đa đưa ra đến năm 2015 phải hoàn thành. Chính vì vậy, có rất nhiều công trình
nghiên cứu liên quan đến vấn đề XĐGN và chính sách XĐGN ở các góc độ khác
nhau:
-

Trong sách chuyên khảo “Chính sách xóa đói giảm nghèo- Thực trạng và

giải pháp” của PGS.TS. Lê Quốc Lý chủ biên (NXB. Chính trị Quốc gia, Hà

3


Nội, 2012). Đa nêu một số lý luận về xóa đói, giảm nghèo; những chủ trương,
đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo; thực trạng
đói nghèo ở Việt Nam; chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 20012010; một số chương trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt Nam thời gian
qua; đánh giá tổng quát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai
đoạn 2001-2010; định hướng và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong
thời gian tới; một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam; giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới.
-

“Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam” được thực

hiện do nhóm chuyên gia Viện Nghiên cứu và Tư vấn phát triển (RCD) do Bộ LĐTB& XH chủ trì (2015) đa nghiên cứu tổng quan khoảng 70 nghiên cứu khác nhau
về giảm nghèo, đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, bất cập
kể từ khi xây dựng chính sách cho đến khi tổ chức thực hiện; trên cơ sở đó nêu
ra 12 khuyến nghị mang tầm vĩ mô phục vụ cho hoạt động giám sát của Quốc hội,

-

Trần Thị Bích Hạnh, “Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở các

tỉnh duyên hải miền Trung trong những năm qua và những giải pháp cho thời gian
tới”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công -Học viện hành chính Quốc gia2005, đa phân tích hệ thống chính sách xóa đói, giảm nghèo ở nước ta đang được
triển khai thực hiện tại các tỉnh duyên hải miền Trung và chỉ ra những thành công
cũng như các bất cập, hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực thi các chính sách
này ở đây và trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường chất lượng
thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo tại các tỉnh phù hợp với những đặc điểm
của vùng duyên hải miền Trung.
Như vậy, các công trình nghiên cứu kể trên đa cơ bản đề cập và giải quyết
những nội dung về lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách XĐGN
của Việt Nam nói chung, cũng như một số huyện, tỉnh, thành phố nói riêng. Các kết
quả nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo quý giá, để tác giả có cái nhìn tổng
quan về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững (GNBV) trên địa bàn huyện
Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Các công trình, các bài viết nêu trên đa nghiên cứu về
XĐGN ở nhiều mức độ, góc độ khác nhau và đa có đóng góp quan trọng làm cơ sở
khoa học để Nhà nước xây dựng chính sách XĐGN. Tuy nhiên, vấn đề GNBV có
vai trò rất quan trọng trong phát triển KT-XH nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho nên việc
nghiên cứu đề tài GNBV vẫn luôn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Riêng đối
với huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, từ khi thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP
của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm
2020 cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách cụ thể và
toàn diện về vấn đề thực hiện chính sách GNBV trên địa bàn huyện huyện Duy
Xuyên, tỉnh Quảng Nam với cách tiếp cận đầy đủ dưới góc độ của một nghiên cứu
khoa học ngành Chính sách công.

5

chính sách GNBV để có cái nhìn toàn diện nhất về thực trạng tổ chức thực hiện
chính sách công.
*

Phạm vi thời gian: Mốc thời gian đánh giá thực trạng: Tập trung nghiên cứu

hoạt động thực hiện chính sách GNBV và những thống kê mới nhất về GNBV giai
đoạn 2014 - 2018 .
Về không gian: Nghiên cứu tình hình hoạt động thực hiện chính sách GNBV
trên địa bàn toàn huyện bao gồm 13 xa và 01 thị trấn.

6


5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận duy vật lịch sử và duy vật biện
chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta, cũng như của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam về giải pháp chính sách nói chung và giải pháp chính sách giảm nghèo
bền vững nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thê
+

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu thứ cấp như: các văn kiện,

Nghị quyết Đảng; các sách tài liệu nghiên cứu lý luận về giảm nghèo, giảm nghèo

chính sách đối với công tác GNBV.
7.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Lý luận chung về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về giảm nghèo:
Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc của nghèo khác nhau nên cũng có
nhiều khái niệm về giảm nghèo khác nhau, hiểu một cách chung nhất, giảm nghèo
là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát
khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm
xuống.
Cụ thể hơn, giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo
lên một mức sống cao hơn. Theo đó, giảm nghèo là quá trình chuyển từ tình trạng
có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các

trở lại trạng thái nghèo của người dân [7].
GNBV ngoài việc bảo đảm hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo đa định
trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Cần hướng đến việc khắc phục một cách có hiệu
quả nhất những bất cập, hạn chế trong giảm nghèo để tránh tình trạng tái nghèo, cải
thiện ở mức tốt nhất thu nhập và điều kiện sống của người nghèo. Từng bước giúp
họ có thể tự vươn lên một cách vững vàng thông qua việc họ có các điều kiện và cơ
hội khai thác các nguồn lực xa hội cơ bản để phát triển. Đồng thời, hướng tới việc
nắm bắt các xu hướng tác động đến chất lượng giảm nghèo để có cách thức bảo đảm
tính bền vững cho thành quả giảm nghèo.
Từ nhận thức nêu trên, có thể cụ thể hoá quan niệm GNBV trên các khía
cạnh sau:
Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là các điều
kiện sống cơ bản về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở, và người nghèo
cũng được tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xa hội cơ bản.
Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm
theo từng năm, từng giai đoạn.
Người nghèo có được nhiều hơn các cơ hội để vươn lên tự thoát nghèo và
phát triển thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách giảm nghèo đồng bộ và có
tính khả thi của Đảng và Nhà nước.
GNBV là việc tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng tiếp cận với 5 nội
dung cơ bản đó là: y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm và tiếp cận thông tin. Chỉ
có thể giảm nghèo một cách bền vững khi chúng ta giải quyết được vấn đề trên,

10


giúp cho người nghèo có nhiều cơ hội được tiếp cận với văn hóa, xa hội, thông tin
và nâng cao đời sống vật chất.
Giảm nghèo và GNBV là một trong những nội dung của quá trình phát triển
bền vững. Bởi vậy, GNBV thực sự cần thiết và có ảnh hưởng nhiều mặt đối với sự

Tuy nhiên, các quốc gia thường xây dựng chuẩn nghèo riêng và thường thấp
hơn chuẩn nghèo do Ngân hàng thế giới đưa ra.
Chuẩn nghèo của Việt Nam được điều chỉnh theo không gian và thời gian.
Về không gian, chuẩn nghèo của Việt Nam biến đổi theo trình độ phát triển KTXH
của 03 vùng sinh thái khác nhau, đó là: vùng thành thị, vùng nông thôn đồng bằng
và vùng nông thôn miền núi. Về thời gian, chuẩn nghèo được điều chỉnh theo trình
độ phát triển KTXH và nhu cầu con người trong từng giai đoạn cụ thể.
Căn cứ vào mức sống thực tế và trình độ phát triển KTXH, từ năm 1993 đến
nay, nước ta đa 7 lần công bố tiêu chí cụ thể để đánh giá hộ nghèo (Chuẩn nghèo lần
1: Ban hành năm 1993; Chuẩn nghèo lần 2: Ban hành năm 1995; Chuẩn nghèo

11


lần 3: Ban hành năm 1997; Chuẩn nghèo lần 4: Ban hành năm 2000; Chuẩn nghèo
lần 5: Ban hành năm 2005; Chuẩn nghèo lần 6: Ban hành năm 2011; Chuẩn nghèo
lần 7: Ban hành năm 2015). Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian điều tra cùng
với sự thay đổi theo mặt bằng thu nhập của người dân.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 được áp dụng theo Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ, quy định những
người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:
+

Thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng, tính cho khu vực

nông thôn.
+

Thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng, tính cho khu vực


. Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xa hội
cơ bản trở lên.
(Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ
số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiêm y tế (BHYT); trình độ giáo dục của người
lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu
người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn
thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin) [11].
1.1.1.4. Khái niệm thực hiện chính sách:
Là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành
hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng [9, tr.126-127].
Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ
quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực nhằm đạt được
mục tiêu chính sách. Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí rất quan trọng, nó là một
khâu hợp thành trong chu trình chính sách, là trung tâm kết nối các bước trong chu
trình chính sách công thành một hệ thống hoàn chỉnh. Đây là bước quan trọng
không thể thiếu vì nó là khâu hiện thực hóa chính sách vào đời sống xa hội.
1.1.1.5. Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo:
Là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước
sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xa hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo
đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xa hội giầu đẹp [1,
tr.19].
Mục tiêu của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc diện
nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xa hội, nhằm mục tiêu
tổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xa hội công bằng dân chủ
văn minh.
1.1.1.6. Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững:
Chính sách: Là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các
phương tiện truyền thông và trong đời sống xa hội. Theo Từ điển Bách khoa Việt


triển kinh tế, trợ giúp người nghèo.
Năm 1998 lần đầu tiên Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục
tiêu quốc gia XĐGN (Chương trình 133). Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp
tục bổ sung Chương trình 135 - Chương trình phát triển KTXH các xa đặc biệt khó
khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa nhằm ổn định và cải thiện đời sống, cơ sở vật

14


chất, hạ tầng... đại bộ phận nhân dân, xoá đói, giảm nghèo.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ
thống chính sách về XĐGN. Nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, quyết định, chính
sách quan trọng về công tác XĐGN đa được ban hành để phù hợp với từng thời kỳ
phát triển của đất nước. Các chương trình, chính sách giảm nghèo đa huy động sức
mạnh, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xa hội và sự vươn lên của chính
người nghèo..., tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của Nhà nước thực hiện
hiệu quả công tác có ý nghĩa xa hội sâu sắc này. Kết quả tích cực của công cuộc
XĐGN đa góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xa hội, an
sinh xa hội cho người dân vùng đặc biệt khó khăn. Do vậy, quan điểm nhất quán là
cần phải huy động vai trò của cả hệ thống chính trị và xa hội trong thực hiện chính
sách này.
GNBV là yêu cầu cấp thiết để phát triển bền vững. Bước sang thời kỳ thực
hiện công cuộc đổi mới, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xa hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, do điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, lại chịu hậu quả lớn của chiến tranh
và thiên tai, dịch bệnh, kèm theo tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, nên sự
phân hoá thu nhập, đời sống giữa các vùng ngày càng tăng nhanh. Trong quá trình
đổi mới, hội nhập và phát triển, bộ phận dân nghèo kể cả những gia đình có công
với cách mạng, chịu nhiều thiệt thòi. Vì vậy, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu,
nghèo và trợ giúp người nghèo đa trở thành nhu cầu bức thiết, và là một trong

kịp thời của dịch vụ...
Đây là bốn yếu tố quan trọng để thông qua đó đánh giá được giảm nghèo có
bền vững hay không. Trong thực hiện chính sách giảm nghèo cần quán triệt quan
điểm này để kết quả giảm nghèo đạt được kết quả bền vững.
* Thực hiện chính sách GNBV phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong
giai đoạn hiện nay:
XĐGN là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình
độ phát triển giữa các vùng, miền và giữa các dân tộc, nhóm dân cư.
Để thực hiện có hiệu quả công tác XĐGN, Chính phủ đa đưa ra nhiều
chương trình nhằm giảm nghèo nhanh và bền vừng như: Chương trình hỗ trợ đất sản
xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời
sống khó khăn (Chương trình 134), Chương trình phát triển KTXH các xa đặc biệt
khó khăn vùng dân tộc thiểu số miền núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135),
Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo
Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình mục tiêu quốc gia về
GNBV...

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status