Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện nông sơn, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN HAI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN HAI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương


2.4. Đánh giá thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện Nông Sơn trong thời gian qua ........................................................................ 57
2.5. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế ...................................... 63
2.6. Những thách thức đặt ra trong thực thi chính sách giảm nghèo bền vững ........ 65
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ....................................................... 68
3.1. Quan điểm, mục tiêu thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện Nông Sơn ........................................................................................................ 68
3.2. Các giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Nông Sơn................................................................................................................... 70
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

XĐGN

Xóa đói giảm nghèo

WB

World Bank

LHQ

Liên Hợp Quốc

TNBQ


MTTTQVN
MTQG

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mục tiêu quốc gia


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói, nghèo hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn cầu, là một
hiện tượng xã hội, là thách thức, cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi
quốc gia, dân tộc. Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội
được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người, mà còn gây ra những
hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế theo cơ
chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất
nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả ở thành thị, nông thôn, miền núi,
vùng sâu và vùng xa. Tuy nhiên, điều kiện và cơ hội phát triển không chia đều cho
các vùng miền, các cá nhân trong xã hội.
Xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ
trợ những vùng khó khăn vươn lên tiến kịp với các khu vực khác của đất nước.
Thành tựu XĐGN trong những năm qua của Việt Nam đã góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng Quốc tế
đánh giá cao. Trong hơn một thập kỷ qua, tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 giảm
xuống 18,1% năm 2006, còn 14,75% năm 2007; 12,1% năm 2008; 11,3% năm
2009, năm 2010 còn 9,45% theo chuẩn cũ; và từ 14,2% năm 2010 xuống còn
11,76% năm 2011 và 9,6% năm 2012, còn 7,8% năm 2013 theo chuẩn mới [6, tr 8].
Từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức
thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát

vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai
đoạn hiện nay. Xuất phát từ những lý do đó, tôi lựa chọn vấn đề “Thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm
đề tài luận văn Thạc sỹ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách về lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo. Nhất là khi có Nghị quyết Trung ương 5 khoá
XI về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, thì vấn đề nói
trên đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả. Cho đến
nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ
nghiên cứu khác nhau. Có thể nêu một số công trình nghiên cứu đáng lưu ý trong
thời gian gần đây như:

2


* Bàn về khái niệm giảm nghèo và vai trò của vốn con người trong giảm
nghèo, có các công trình, kỷ yếu Hội nghị, hội thảo:
- Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do
ESCAP (Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương) tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan, tháng 9 năm 1993, đã đưa ra khái niệm chung về nghèo đói, thực trạng của
nghèo đói và những giải pháp chống nghèo đói trong khu vực.
- Đề tài “Vai trò của vốn con người trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam”
của tác giả Thái Phúc Thành (2014).
* Nghiên cứu đánh giá chính sách, pháp luật về giảm nghèo và trách nhiệm
của các chủ thể trong tổ chức thực hiện, có các công trình, kỷ yếu Hội nghị, hội
thảo:
- Hội nghị trực tuyến về giảm nghèo toàn quốc do Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội tổ chức ngày 23 tháng 4 năm 2014, đã tập trung đánh giá kết quả
thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2012, kết quả thực
hiện mục tiêu giảm nghèo năm 2013, mục tiêu nhiệm vụ công tác giảm nghèo năm

thực thi chính sách giảm nghèo để đưa ra những cách thức thực hiện chính sách một
cách hiệu quả nhất trên địa bàn.
* Nghiên cứu thực trạng và giải pháp giảm nghèo ở nước ta và các địa
phương, có các công trình:
- Đề tài “Giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu và thách thức” của nhóm nghiên
cứu Viện Khoa học xã hội và nhân văn (2011).
- Hà Quế Lâm: Xoá đói giảm nghèo ở vùng Dân tộc thiểu số nước ta hiện nay
- Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác giả đã làm rõ
một số đặc điểm địa lý, kinh tế và nhân văn ở vùng dân tộc thiểu số của nước ta;
khái quát về tình trạng nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu số của nước ta. Tiếp đó, trên
cơ sở đánh giá thực trạng về XĐGN ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những
năm 1992-2000, tác giả đưa ra những khuyến nghị về định hướng và một số giải
pháp XĐGN vùng dân tộc thiểu số nước ta.
- Đề tài luận văn Thạc sĩ quản lý kinh tế “Giảm nghèo bền vững trên địa bàn
tỉnh Hà Giang” của Phạm Ngọc Dũng (2015) đã nghiên cứu những vấn đề lý luận
chung về giảm nghèo bền vững; phân tích, đánh giá hoạt động giảm nghèo bền
vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2005 đến năm 2013; trên cơ sở đó Luận
văn đã đề xuất một số giải pháp thực hiện giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà
Giang đến năm 2020.
- Trương Bảo Thanh, luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế: Xóa đói giảm nghèo ở
tỉnh Quảng Bình - Thực trạng và giải pháp, Hà Nội, 2002. Tác giả đã phân tích rõ

4


được về thực trạng nghèo đói và những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở tỉnh
Quảng Bình. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm
nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
* Nghiên cứu về kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trên thế giới, có
các công trình:

những nhiệm vụ chính sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về giảm nghèo và chính sách giảm
nghèo của Việt Nam.
- Căn cứ vào hệ thống cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thực hiện chính sách
giảm nghèo trên địa bàn huyện Nông Sơn qua những thành tựu và hạn chế đạt được
trong giai đoạn 2015-2018.
- Dựa trên các phân tích thực trạng, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện Nông Sơn trong giai đoạn 2018-2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo đối với hộ dân trên
địa bàn huyện Nông Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: các hoạt động nghiên cứu được triển khai trong phạm vi trên
địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Về thời gian: đánh giá việc thực hiện các chính sách từ 2015 đến 2018. Định
hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách đến năm 2025.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật; cơ sở lý luận là quan điểm, đường lối của Đảng về giảm nghèo bền vững. Đặc
biệt là những quan điểm được nêu ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa
XI và Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau: Phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khảo sát và nghiên cứu thực
tế, thống kê và phân tích số liệu, quy nạp và diễn giải.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận

Khái niệm về nghèo của các tổ chức quốc tế:
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại ở các quốc gia có nền kinh
tế kém phát triển và cả ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tùy thuộc vào điều
kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế mà tính chất, mức độ
nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau. Hiện nay, các tổ chức quốc tế như WB,
LHQ đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Côpenhaghen
(Đan Mạch) tháng 3/1995 đã định nghĩa về người nghèo như sau: “Người nghèo là
người mà tất cả những thu nhập của họ nhỏ hơn 1USD/ngày, đây là số tiền được coi
như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”.
Liên hợp quốc thì phân định nghèo làm hai dạng: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương
đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn
những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn (thiếu ăn nhưng không đứt bữa), mặc,
ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống
dưới trung bình của cộng đồng địa phương hay của một nước.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới WB: “Ngưỡng nghèo là mốc nếu cá
nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi như là nghèo.
Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của một quốc gia.
Theo WB thì đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trả cho số hàng hóa
lương thực của mình đủ cung cấp cho 2.100 calo mỗi người một ngày” [47].
Tuy có nhiều điểm khác nhau, nhưng có thể khái quát quan niệm về đói nghèo
trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
+ Không có hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của
cuộc sống con người.
+ Mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư địa phương.
+ Thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển

8



nguồn lực, các nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo thực hiện triển khai liên tục

9


có hướng đích, có mục tiêu để không cho đói nghèo quay trở lại chính nơi chúng ta
đang tích cực thực hiện xoá đói, nơi chúng ta đang thực hiện quyết tâm giảm nghèo.
Giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối
với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt
bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm lực lượng sản xuất dồi dào và bảo
đảm sự ổn định cho giai đoạn sau tăng trưởng nhanh hơn, mạnh hơn.
Theo tác giả, giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt được
mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và
duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên chuẩn
nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro [32], trong đó tập trung vào các hoạt
động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện để
sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập
để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản, đặc biệt là tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên
tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo
bền vững hay không tái nghèo.
Về cơ bản, giải quyết đói nghèo nói chung trước hết cần đảm bảo cả về số lượng
lẫn chất lượng. Số lượng giảm nghèo sẽ tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời
gian (thông thường theo từng giai đoạn từ 1 đến 5 năm). Chất lượng giảm nghèo là khái
niệm chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người
nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, thu hẹp khoảng cách thu nhập với các
nhóm dân cư khác về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro, bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình
trạng nghèo đói. Hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh
tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Theo các nhà nghiên cứu, chuyên gia về KT-XH, lao động - việc làm: để giảm

trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi hộ
gia đình nghèo. Nói cách khác: Giảm nghèo bền vững là quá trình tạo điều kiện
giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách
nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi
tình trạng nghèo.
Giảm nghèo có tính tương đối, bởi nghèo có thể tái sinh khi giải pháp giảm
nghèo chưa bền vững hoặc chuẩn nghèo đã có sự thay đổi, hoặc có những biến động
khác tác động đến đời sống xã hội như khủng hoảng, lạm phát, thiên tai…. Do đó
việc đánh giá mức độ giảm nghèo cần được xem xét trong một không gian, thời gian
nhất định.
Chính sách xóa đói giảm nghèo là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của

11


Đảng bằng những quyết định, quy định của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về
đói nghèo. Nó phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng, của các nhóm xã hội
nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến bộ phận dân cư nghèo đói, đảm bảo
quyền con người và an toàn xã hội cho người nghèo, tạo sự phát triển bình thường
cho người nghèo cũng như cho toàn xã hội. Chính sách XĐGN được thiết kết theo
một cấu trúc cụ thể, bao gồm các bộ phận cơ bản sau: Phạm vi và đối tượng của
chính sách; mục tiêu của chính sách; giải pháp của chính sách; nguyên tắc chỉ đạo
thực hiện chính sách; nguồn vốn thực hiện chính sách, cơ quan quản lý và thực hiện
chính sách; thời gian triển khai chính sách.
Ở nước ta hiện nay, việc xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo được căn cứ theo
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19-11-2015 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.
Theo đó, chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo như sau:
Tiêu chí về thu nhập chuẩn nghèo nông thôn:
- TNBQ đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

Việc hướng đến mục tiên trên cho thấy Việt Nam đang rất quyết tâm XĐGN bền
vững theo hướng hội nhập với các tiêu chuẩn quốc tế đưa ra.
1.2. Các bước tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững
Xây dựng kế hoạch là một khâu rất quan trọng trong việc hiện thực hóa các
chủ trương, đường lối của Đảng và các chính sách của Nhà nước. Việc triển khai
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cũng không phải là ngoại lệ.
Việc giảm nghèo bền vững không thể diễn ra trong ngày một, ngày hai, hay
chỉ trong một vài năm, mà diễn ra trong một thời gian dài. Do vậy, các cơ quan nhà
nước cần xây dựng kế hoạc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững một cách
khoa học và lấy đó làm căn cứ để triển khai chính sách một cách chủ động.
Kế hoạch thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cần phải biểu hiện đầy
đủ các mặt sau:
- Thời gian biểu cụ thể triển khai thực hiện các công việc;
- Các bước cần thực hiện luôn đi kèm với mục tiêu và kết quả dự kiến, hoàn tất
cụ thể vào thời gian nào.
- Xây dựng các nội quy, quy chế trong quá trình thực hiện các chính sách giảm
nghèo bền vững (bao gồm cả nội quy, quy chế tổ chức, điều hành).
- Quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức trong

13


các cơ quan nhà nước tham gia thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững.
- Các quy định về khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững.
1.2.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách giảm nghèo bền vững
Sau bước lập kế hoạch thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, và kế
hoạch được thông qua. Để việc triển khai kế hoạch đạt được hiệu quả cao và các

các tổ chức chính trị - xã hội từ cấp huyện đến cấp xã, UBND các cấp, và các đơn vị
có liên quan.
Đây là là hoạt động liên quan đến rất nhiều lĩnh vực và nhiều cấp ngành, do
vậy việc phân công rõ ràng và yêu cầu phối hợp chặt chẽ, cập nhật thông tin thường
xuyên là những yêu cầu bắt buộc khi thực hiện các chính sách giảm nghèo bền
vững. Có như vậy, các chủ trương và chính sách về giảm nghèo bền vững của Đảng
và Nhà nước mới có thể đạt được kết quả như mong đợi.
1.2.4. Duy trì chính sách giảm nghèo bền vững
Như đề cập ở trên, việc thực thi các chính sách giảm nghèo bền vững phải có sự
phối hợp chặt chẽ của các đơn vị liên quan trong quá trình thực thi. Việc phối hợp
chặt chẽ không chỉ biểu hiện ở việc thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, thực hiện
đúng các quy trình, quy định mà còn biểu hiện ở việc quyết tâm của lãnh đạo của các
đơn vị liên quan, biểu hiện ở việc thường xuyên quan tâm tuyên truyền vận động
người nghèo tham gia thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững. Có như vậy
việc duy trì các chính sách giảm nghèo bền vững lâu dài và có hiệu quả mới phát huy
tác dụng trong điều kiện thực tiễn của địa phương mình.
Ngoài ra, người nghèo cùng toàn thể nhân dân trong địa bàn cần có trách
nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của nhà nước và vận động nhau tích cực nâng cao
tính tự giác chấp hành chính sách giảm nghèo bền vững.
Bên cạnh đó các cấp quản lý nhà nước cùng các bên có liên quan cần phải
thường xuyên tiến hành kiểm tra việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững.
Trên thực tế có nhiều bài học cho thấy có kế hoạch tốt, có tuyên truyền tốt, có
nguồn lực tốt nhưng khâu kiểm tra, giám sát lỏng lẻo thì kết quả thực hiện các chính
sách vẫn không tốt, thậm chí còn bị méo mó, mất lòng tin của nhân dân, thất thoát
tài sản của Nhà nước. Vì thế, kiểm tra, kiểm soát sẽ giúp các cơ quan nhà nước các
cấp kịp thời điều chỉnh mục tiêu, biện pháp trong từng thời điểm cụ thể; giúp cơ
quan nhà nước tập trung vào những mục tiêu cốt lõi của kế hoạch và hạn chế tối đa
hiện tượng lạm quyền của cán bộ công chức hay sự thất thoát trong quá trình thực
thi các chính sách giảm nghèo bền vững.


cả từ phía người nghèo.
Như chúng ta đã biết, trong quá trình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững
ở địa phươn sẽ có đơn vị làm nhanh, có đơn vị làm chưa nhanh, có đơn vị thực thi
tốt, có đơn vị thực thi chưa tốt. Do vậy, hoạt động theo dõi, kiểm tra, đôn đốc phải

16


diễn ra thường xuyên và trong mọi khâu của quá trình thực thi chính sách nhằm thúc
đẩy người thực thi công vụ và các đơn vị liên quan phải có trách nhiệm thực hiện
chính sách, hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch và đặc biệt là phòng chống những
hành vi sai phạm quy định mà những hành vi đó có thể ảnh hưởng xấu đến uy tín
của Nhà nước.
Từ việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các hoạt động thực thi chính sách giảm
nghèo bền vững, các nhà quản lý và các đối tượng thụ hưởng chính sách sẽ nắm rõ
được tình hình, tiến độ thực hiện chính sách. Dựa vào đó, các nhà quản lý sẽ đánh
giá được những ưu điểm và tồn tại của công tác này. Các chính sách giảm nghèo
bền vững diễn ra trên địa bàn rộng với nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia;
mặt khác với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, phong tục tập quán, môi
trường ở các vùng miền khác nhau cộng thêm trình độ năng lực của cán bộ công
chức ở các địa phương không giống nhau, do vậy các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính giảm nghèo
bền vững.
1.2.7. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách
Bất kỳ một kế hoạch nào đều có công đoạn đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
và quá trình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cũng không phải là một ngoại
lệ. Công tác này không chỉ diễn ra ở cấp ban hành kế hoạch mà phải thực hiện từ
cấp cơ sở (phường, xã, thị trấn) đi lên với sự tham gia của đối tượng thụ hưởng
chính sách (người nghèo).
Các nội dung cần đánh giá gồm:

động bị ảnh hưởng (chuyển đổi ngành nghề không tốt, thu nhập bấp bênh, …), môi
trường sống bị ảnh hưởng (ô nhiễm, bệnh tật, …) và có thể kèm theo các tệ nạn xã
hội. Vì thế, quan tâm đến những tác động tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa và
đô thị hóa trong quá trình thực thi các chính sách giảm nghèo bền vững là hết sức
cần thiết.
- Tàn phá môi trường: Ở nước ta, mức độ tàn phá môi trường ngày càng
nghiêm trọng là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo.
Đó là tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp, các công ty đã làm bệnh
tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng, chi phí cho sức khỏe và bệnh
tật khiến người lao động nghèo thêm; tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đưa
đến mực nước biển dâng cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai để sinh sống…mà
còn có những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, xói mòn bờ biển, bờ sông.
- Sự hạn chế về nguồn lực, nhất là vốn tài chính, hỗ trợ người nghèo: Ở nước
ta, kinh phí để thực hiện giảm nghèo được cân đối chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà
nước đóng vai trò chủ đạo. Đồng thời huy động các nguồn khác từ các tổ chức quốc tế,

18


các tổ chức phi chính phủ và sự đóng góp của các quỹ từ thiện của quốc tế và cũng như
các cá nhân trong nước.Tốc độ phát triển kinh tế có vai trò quan trọng đối với nguồn
lực giảm nghèo, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, thu ngân sách tăng là một
trong những yếu tố tài chính đảm bảo cung cấp cho giảm nghèo. Nếu chi tiêu cho giáo
dục, y tế, dạy nghề, các chính sách đầu tư phát triển KT-XH của Nhà nước chưa cân
đối giữa các cấp hành chính, giữa các vùng miền, giữa các ngành kinh tế thì tính bền
vững của giảm nghèo sẽ bị hạn chế.
Việc đầu tư và dành tỷ lệ đầu tư lớn cho nông nghiệp và khu vực nông thôn có
tác động tích cực đến giảm nghèo. Ngoài việc tập trung đầu tư cho thủy lợi, các trục
công nghiệp chính, chính sách đầu tư nếu chú trọng vào các ngành công nghiệp thu
hút nhiều lao động gắn với khuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

tai (bão, lụt, hạn hán…) thường xuyên xảy ra. Tác hại của thiên tai rất lớn. Thiên tai
luôn là kẻ thù đồng hành nghèo đói, dịch bệnh…nó có thể cướp đi tài sản, tính
mạng con người và hậu quả để lại là rất lớn không thể khôi phục lại được trong chốc
lát mà phải trải qua nhiều năm.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
- Nhận thức: Đầu tiên phải kể đến quan điểm, nhận thức của các cơ quan cũng
như của các địa phương trong việc đề xuất, xây dựng các chính sách, chương trình
thích hợp cũng như việc thực hiện các chính sách, chương trình đó. Chỉ có nhận
thức đúng đắn, thống nhất của các chủ thể hoạch định và thực thi chính sách mới tạo
cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả chính sách trong thực tiễn. Nhận thức về giảm
nghèo bền vững khác nhau dẫn đến cơ chế thực hiện khác nhau, mức độ quan tâm,
ưu tiên khác nhau. Có những cơ quan quản lý nhà nước cho rằng, tập trung ưu tiên
phát triển cơ sở hạ tầng ở các vùng nghèo là điều kiện để giảm nghèo bền vững mà
không hiểu rằng đó là trách nhiệm của nhà nước nên đã biến cơ chế đầu tư cơ sở hạ
tầng thành ban phát, xin - cho dẫn đến thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Có những
địa phương với những kinh nghiệm chủ quan đã đầu tư, sử dụng các nguồn lực một
cách bất hợp lý gây thiệt hại, thậm chí làm giảm đi khả năng của người nghèo ở địa
phương mình. Do đó, nhận thức giảm nghèo bền vững cần phải rõ ràng, bám sát
những nội dung, tư tưởng của nó cho dù ở các địa phương, vùng miền có thể có
những cách làm khác nhau.
- Sự hạn chế, bất cập trong chính sách phát triển.
Thực tế cho thấy để giảm nghèo bền vững, cần tác động tới người nghèo bằng
một hệ thống chính sách, chương trình đồng bộ có tính lồng ghép cao, như: Chương
trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ có đã tác động tích cực, nhanh chóng đến
những huyện nghèo, xã nghèo, hộ nghèo trong một khoảng thời gian ngắn, tạo tiền
đề trong công cuộc giảm nghèo của các địa phương nói riêng cũng như cả nước nói
chung. Việc thực hiện đồng bộ các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo,

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status