VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM
Ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ HẰNG
HÀ NỘI, năm 2019
2.3. Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú Ninh tỉnh
Quảng Nam............................................................................................................. 46
2.4. Đánh giá chung về việc thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện
Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam..................................................................................... 51
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI
HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM......................................................... 58
3.1. Định hướng, mục tiêu thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú
Ninh tỉnh Quảng Nam............................................................................................. 58
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam....................................................................... 62
3.3. Kiến nghị và đề xuất......................................................................................... 68
KẾT LUẬN............................................................................................................ 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ KH&ĐT
Bộ Kế hoạch và đầu tư
Bộ KH&CN
Bộ Khoa học và công nghệ
CN- TTCN
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
CLB
PTKTNN
Phát triển kinh tế nông nghiệp
THT/HTX
Tổ hợp tác/Hợp tác xã
TM&DV
Thương mại và dịch vụ
TMDV
Thương mại dịch vụ
TTCN-TMDV
Tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ
UBND
Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1
nông nghiệp) từ nă
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Từ cổ chí kim, phụ nữ luôn là nhân tố và lực lượng quan trọng nằm trong đội
ngũ những người lao động tạo dựng nên các giá trị của đời sống kinh tế - xã hội.
Trong đời sống hiện đại, người phụ nữ có vai trò to lớn, họ không những là người
bà, người mẹ, người vợ, người con, giữ vai trò cầu nối tình cảm trong gia đình mà
họ còn đảm đương được nhiều vị trí quan trọng ngoài xã hội. Để xây dựng gia đình
hạnh phúc, phải bắt đầu từ người phụ nữ. Người Việt Nam có câu “Đàn ông xây
nhà, đàn bà xây tổ ấm”, nhằm đề cao vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng
một gia đình bền vững. Hiện nay, phụ nữ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đã tham gia vào hầu như tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội.
Những gì nam giới làm được thì phụ nữ đều có khả năng, thậm chí còn có thể làm
tốt hơn. Phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã được quan tâm rất nhiều, phụ nữ
có tiếng nói và mỗi quốc gia cũng có những chính sách, pháp luật riêng nhằm trao
cho phụ nữ quyền bình đẳng vốn có của mình.
Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông António Guterres khẳng định rằng vẫn còn
nhiều trở ngại cần phải vượt qua để khắc phục những bất bình đẳng, nguồn gốc dẫn
tới phân biệt đối xử và bóc lột. Hiện tại, hơn một tỷ phụ nữ trên toàn thế giới không
được pháp luật bảo vệ mỗi khi họ gặp phải cảnh bạo lực tình dục ngay trong chính
ngôi nhà của họ. Khoảng cách chênh lệch chi trả lương giữa nam và nữ là 23% trên
toàn thế giới, thậm chí có thể lên tới 40% ở nông thôn, và công việc không lương
mà nhiều phụ nữ làm không được công nhận. Phụ nữ chiếm bình quân ít hơn 1/4 số
ghế trong Quốc hội, và thậm chí còn ít hơn trong các hội đồng địa phương.
Tại Việt Nam, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế là một trong những chương
Công ước CEDAW (1979) (tiếng Anh: Convention on the Elimination of all
Forms of Discrimination against Women, viết tắt là CEDAW) là Công ước về Xoá
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc
phê chuẩn ngày 18/12/1979. Ngày 3/9/1981, công ước này bắt đầu có hiệu lực với
tư cách một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ. Việt
Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký tham gia công ước vào 29/7/1980 phê
chuẩn vào 27/11/1981. Theo Ông Jesper Morch, Quyền Điều phối viên thường trú
của Liên Hiệp Quốc (LHQ) tại Việt Nam cho biết, trong 30 năm qua, Công ước
CEDAW đã có ảnh hưởng sâu sắc và tích cực đến công cuộc phát
2
triển luật pháp, chính trị- xã hội ở các nước, những điều khoản của công ước đã
được sử dụng làm công cụ mạnh mẽ để tạo cơ sở thiết lập pháp luật nhằm bảo vệ
quyền con người của phụ nữ.
Các chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến phụ nữ như
chính sách việc làm đối với lao động nữ, chế độ thai sản, nuôi con nhỏ,… chính
sách xã hội, chính sách việc làm, chính sách vay vốn,…
Nghị quyết 23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ngày 12-03-2003, của Ban
Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ: “tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính
trị và toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bất bình đẳng giới, khẩn trương cụ
thể hóa các chủ trương của Đảng thành luật pháp, chính sách, lồng ghép giới trong
quá trình xây dựng và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch chung… Tạo điều kiện
để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo
và quản lý các cấp”.
Năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực,
Luật Bình đẳng giới là một dấu mốc quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của Đảng và
phụ nữ:
Theo tạp chí Cộng sản: “Chính sách đối với phụ nữ nông thôn trong thời kỳ
công nghiệp hoá”, ngày 22/10/2010 đã chỉ ra phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức
quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa,
công nghiệp hóa đất nước. Là một lực lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm
đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp
nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn và phụ nữ đô thị. Chính vì vậy, cần có
những quan tâm hợp lý đến phụ nữ nông thôn.
Tác phẩm: “Phụ nữ nông thôn với việc phát triển ngành nghề phi NN”, năm
1998; và “Việc làm - đời sống của phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, năm
1999 của tác giả Lê Thi”. Các nghiên cứu này có nội dung khẳng định vai trò của
phụ nữ sinh sống và làm việc tại nông thôn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động, nghề nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn.
Trong nghiên cứu “vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” năm 2001 của tác giả Hoàng Bá Thịnh đã phân tích vai trò của
người phụ nữ nông thôn trong Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, đặc biệt
4
nhấn mạnh vai trò của phụ nữ đối với chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong khu vực
nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo chuyên môn kỹ thuật.
Trong Luận án tiến sĩ có tên gọi “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình tại huyện Ba Vì –Thành phố Hà Nội”, năm 2017 của tác giả Nguyễn
Hồng Linh đã nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
trên địa bàn huyện Ba Vì –Thành phố Hà Nội phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
vai trò của phụ nữ huyện Ba Vì và đưa ra một số giải pháp chủ yếu để tạo điều kiện
phụ nữ huyện Ba Vì phát huy vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trong nghiên cứu “Công tác xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số trong việc
phát triển kinh tế gia đình”, năm 2016 của tác giải Sâm Thị Hồng Nhung đã nghiên
huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây.
-
Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên
địa bàn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đối với địa phương huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam với hơn 50% phụ nữ
sống bằng nông nghiệp đời sống còn nhiều khó khăn do việc làm không ổn định, thu
nhập thấp dẫn đến ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới và sự phát triển chung của
huyện và là một thách thức đặt ra đối với chính quyền và các cấp Hội phụ nữ trên
địa bàn huyện, vì vậy đề tài tập trung nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế
nói chung của phụ nữ trong đó tập trung nghiên cứu chính sách trên lĩnh vực nông
nghiệp nhằm tổng hợp, thống kê xem vấn đề này xem vấn đề này thực hiện tại địa
phương mình để đề xuất giải pháp thực hiện chính sách và giải pháp thực hiện trong
thời gian tới.
- Phạm vi nội dung:
Một là, xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện chính hỗ trợ phụ nữ PTKT.
Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa
bàn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây.
Ba là, đưa ra các đề xuất và giải pháp tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phụ
nữ PTKT trên địa bàn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
-
kết luận phục vụ mục đích nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, giúp người học, nhà nghiên cứu, bổ sung
kiến thức lý thuyết về chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế; đồng thời biết vận
dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách hỗ
trợ phụ nữ phát triển kinh tế ở địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết chính
sách công vào nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển
kinh tế ở huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3
chương, gồm:
7
Chương 1: Một số vấn đề lý luận thực tiễn cơ bản về thực hiện chính sách hỗ
trợ phụ nữ PTKT
Chương 2: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính
sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
8
sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời
của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về
lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi
chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó
bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể
chế kinh tế, chất lượng cuộc sống (Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử
dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá
nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài
lòng (well-being) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. Trong thời đại ngày
nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người là một nỗ lực
của các nhà nước (Chính phủ), xã hội và cả cộng đồng quốc tế).
Việc làm: Theo bộ luật lao động Điều 13: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập,
không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Theo Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia việc làm hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực
hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một
người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên,
người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán. Thời hạn cho một công việc có thể
nằm trong khoảng từ một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời
(trong trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại
công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các công việc
của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ.
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất; số
lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để
kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
1.1.1.3. Nông nghiệp là gì?
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Nông nghiệp là ngành sản xuất vật
chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây
trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương
khởi nghiệp, tiềm năng sáng tạo của phụ nữ.
1.1.2.2. Nội dung chính sách
* Một là, chính sách vay vốn
11
Các nguồn vốn vay từ ngân hàng Chính Sách xã hội (NHCSXH) gồm:
1.
Cho vay hộ nghèo theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của
Chính phủ
-
Đối tượng được vay vốn: Hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
từng thời kỳ, (hiện nay Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ
Tướng Chính phủ).
-
Điều kiện vay vốn: Cư trú hợp pháp tại địa phương; Có tên trong danh sách
hộ nghèo của xã theo chuẩn hộ nghèo do Bộ Lao động Thương Binh và xã hội công
bố từng thời kỳ; Là thành viên của tổ Tiết kiệm và vay vốn; hộ vay không phải thế
chấp tài sản, được miễn phí thủ tục vay vốn và người đại diện hộ gia đình đứng tên
vay vốn phải chịu trách nhiệm trong quan hệ vay vốn và trả nợ Ngân hàng.
-
Mục đích sử dụng vốn vay: Phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và một
- Mức cho vay tối đa: 50 triệu đồng.
- Lãi suất cho vay: Bằng 120% lãi suất cho vay hộ nghèo (Hiện nay là
0,66%/tháng).
3. Cho vay hộ mới thoát nghèo theo Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày
21/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ
-
Đối tượng được vay vốn: Là các Hộ đã từng là Hộ nghèo, Cận nghèo nay đã
thoát nghèo, được UBND cấp xã xác nhận. (Thời gian thoát nghèo tính từ khi hộ
nghèo, hộ cận nghèo được loại ra khỏi danh sách nhưng tối đa là 03 năm).
- Mục đích sử dụng vốn vay: Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
- Mức cho vay tối đa: 50 triệu đồng/hộ.
- Lãi suất cho vay: Bằng 125% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo (hiện nay là
0,6875%/tháng).
4.
Cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm theo Nghị định
61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ
- Đối tượng được vay vốn:
Cở sở sản xuất, kinh doanh: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hợp tác xã; Tổ hợp
tác; Hộ kinh doanh.
Người lao động: Trong đó cho vay ưu tiên đối với người lao động thuộc các hộ
gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên phạm vi cả nước bị Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường (gọi tắt là người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp).
- Điều kiện vay vốn
+ Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh: Được thành lập và hoạt động hợp
suất
Các trường hợp sau đây được vay vốn với mức lãi suất bằng 50% lãi
cho vay vốn theo quy định nêu trên:
+
Người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người khuyết tật;
+
Hộ gia đình vay vốn cho người lao động mà người lao động là người dân tộc
thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
người khuyết tật;
+
Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người
khuyết tật hoặc là người dân tộc thiểu số hoặc là người khuyết tật và người dân tộc
thiểu số.
5. Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
- Đối tượng:
+
+
Đối tượng là người lao động thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số.
Cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Nghị định số
Mục đích sử dụng vốn vay: chi phí cho việc đi xuất khẩu lao động. Riêng đối
với chương trình cho vay ký quỹ đi Hàn Quốc toàn bộ khoản vay được sử dụng để
ký quỹ tại NHCSXH nơi cho vay.
Hiện nay ngoài nguồn vốn vay từ NHCSXH thì việc tạo điều kiện phát triển
kinh tế vẫn còn có nguồn vốn vay từ các ngân hàng khác tuy nhiên phụ nữ khu vực
nông thôn ít được tiếp cận do lãi xuất cao và phải thông qua thế chấp.
* Hai là, chính sách giảm nghèo
-
Một số quy định chính sách về nghèo đa chiều ở Việt Nam: Hội nghị TƯ lần
thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 15NQ/TW về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an
sinh xã hội. Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số
76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm
2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa
chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản;
Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ đã xác
định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương
pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều. Quyết định số
1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng
thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”.
Ngoài các chính sách giảm nghèo của Trung ương tại tỉnh Quảng Nam còn ban
hành các chính sách như: Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND ngày 11-7-2014 về
thực hiện Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014-2015.
Nghị quyết 13/2017/NQ-HĐND ngày 18 tháng 4 năm 2017 về chính sách khuyến
khích thoát nghèo bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2021. Nghị quyết
15
16
nhằm khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn tiêu thụ nông sản, xây
dựng cánh đồng mẫu lớn, giai đoạn 2014 - 2020; Quyết định số 38/2015/QĐ-UBND
ngày 17/12/2015 Cơ chế khuyến khích dồn điền, đổi thửa trên đất nông nghiệp;
Nghị quyết số 205/2016/NQ-HĐND ngày 26/4/2016 về Cơ chế đầu tư kiên cố hóa
kênh mương, thủy lợi đất màu và thủy lợi nhỏ trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 20162020; Quyết định số 12/2016/QĐ-UBND Quy định chính sách khuyến khích doanh
nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2016 - 2020;
Quyết định số 08/2016/QĐ-UBND Quy định một số chính sách hỗ trợ nâng cao
hiệu quả chăn nuôi nông hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2016-2020;
Quyết định 2950/QĐ-UBND ngày 17/8/2016 triển khai thực hiện Nghị quyết số
202/2016/NQ-HĐND ngày 26/4/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Cơ chế
khuyến khích bảo tồn và phát triển một số cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam, giai đoạn 2016 – 2020.
* Năm là chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp
Quyết định 939/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thủ Tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025”. Tỉnh
Quảng Nam ban hành Quyết định số 4396/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2017
về phê duyệt kế hoạch thực hiện “Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên
địa bàn tỉnh, giai đoạn 2018-2025”.
1.2. Quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
1.2.1 Quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước về hỗ trợ phụ nữ PTKT
1.2.1.1. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã khẳng định “Nam, nữ bình
quyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò vị trí của phụ nữ Việt Nam
trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Bác luôn căn dặn các cấp uỷ Đảng, các cơ
quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ,