ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỒNG QUẢNG
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG
NINH CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.62.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐẶNG VĂN MINH
THÁI NGUYÊN - 2012
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn hết sức tận tình của người
hướng dẫn khoa học PGS. TS. Đặng Văn Minh trong quá trình nghiên cứu và
xây dựng luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tài nguyên và Môi trường, khoa
Sau Đại học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện Đông Triều đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu.
Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình,
bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn.
Thái Nguyên, Ngày tháng năm 2012
Nguyễn Hồng Quảng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
1.5 Tình hình quy hoạch sử dụng đất tỉnh Quảng Ninh
25
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
2.1 Đối tượng nghiên cứu
27
2.2 Địa điểm nghiên cứu
27
2.3 Nội dung nghiên cứu
27
2.4 Phương pháp nghiên cứu
38
CHƢƠNG 3 : KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC
30
3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường.
30
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
36
3.3 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2010
44
3.4 Giới thiệu phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Triều giai
đoạn 2006 - 2010
48
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iv
3.4.1 Phương án quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
50
3.4.2 Phương án quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp
2010 so với phương án quy hoạch.
69
3.5.4.1 Những vấn đề bất hợp lý trong quá trình thực hiện quy hoạch
70
3.5.4.2 Nguyên nhân tồn tại
71
3.5.5 Những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện của
phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Triều giai đoạn 2006 -
2010
72
3.5.5.1 Giải pháp về nguồn nhân lực và vốn đầu tư
72
3.5.5.2 Giải pháp về chính sách
73
3.5.5.3 Giải pháp về quản lý hành chính
74
3.5.5.4 Giải pháp bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường
75
3.5.5.5 Các giải pháp tác động khác
76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên v
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
78
I Kết luận
78
II Kiến nghị
79
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
UBND Uỷ ban nhân dân
KT-XH Kinh tế xã hội
SDĐ Sử dụng đất
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
CSD Chưa sử dụng
DT Diện tích
QH Quy hoạch
FAO Tổ chức nông lương thế giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Đông Triều - tỉnh
Quảng Ninh
45
Bảng 3.2 Phương án quy hoạch sử dụng đất 2006 - 2010
57
Bảng 3.3 So sánh các chỉ tiêu sử dụng đất năm 2006 – 2010
53
Bảng 3.4 So sánh phương án quy hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 với
thực tế thực hiện tại thời điểm 2010
57
Bảng 3.5 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch sử
dụng đất huyện Đông Triều giai đoạn 2006 - 2010
58
63
Hình 3.5 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất so với khi
xây dựng phương án theo nhóm đối tượng điều tra
64
Hình 3.6 Đánh giá đơn giá bồi thường, hỗ trợ về đất so với giá thị
trường khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo nhóm đối tượng điều
tra
65
Hình 3.7 Ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất đến sự phát
triển kinh tế và các vấn đề xã hội của địa phương
69 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất
đặc biệt không gì có thể thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi
tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất,
sinh vật sống trên bề mặt trái đất thậm chí cả sinh vật sống trong lòng đất.
Đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định
trong không gian. Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử
dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các kế hoạch có sử dụng đất chưa
tốt. Chất lượng quy hoạch chưa cao, nhiều trường hợp chưa sát thực tế, tính khả
thi thấp. Tình trạng quy hoạch “treo”, dự án “treo”, nhiều vướng mắc trong công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đang gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh
hưởng xấu đến ổn định sản xuất, đời sống của nhân dân ở nhiều nơi, làm chậm
tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư và gây lãng phí đất đai. Hiện tượng vi phạm
pháp luật về đất đai còn nhiều, nhất là trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất”.
Tỉnh Quảng Ninh cũng không nằm ngoài tình hình chung của cả nước,
quy hoạch sử dụng đất chung của các huyện, thị xã và của cả tỉnh Quảng Ninh
còn nhiều vấn đề cần bàn. Trong tỉnh vẫn còn xảy ra một số vụ tham nhũng, xà
xẻo đất đai bị phát hiện gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân mà
một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do những tồn tại, bất
cập trong công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
Trong những năm qua, hòa chung với nhịp độ phát triển của tỉnh Quảng
Ninh, trên địa bàn huyện Đông Triều đã diễn ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế ngày một gia tăng, đã
tác động mạnh mẽ đến sự biến động cơ cấu đất đai của địa phương và công tác
quy hoạch sử dụng đất vẫn chưa đáp ứng hết được những đòi hỏi cấp thiết đó.
Dẫn đến vấn đề sử dụng và quản lý trên địa bàn huyện Đông Triều gặp nhiều khó
khăn và phức tạp. Ngày càng nhiều công trình, dự án lớn được đầu tư phát triển
trên địa bàn huyện cần bố trí đất, sự gia tăng dân số cũng gây áp lực không nhỏ
đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa bàn đều có
nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển. Vì vậy để phát triển đúng hướng và bền
vững, công tác quản lý đất đai có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là quy hoạch sử
dụng đất.
giải quyết các vấn đề và yêu cầu mà thực tiễn đặt ra.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình sử dụng đất của huyện Đông Triều, đưa ra kết quả
đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch giai đoạn 2006 - 2010.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về cơ sở lý luận của Quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất
* Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất,
cầu và mục đích sử dụng.
Tính khoa học: áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp
tiên tiến.
Tính hiệu quả: Đáp ứng đồng bộ lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các
quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi
ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất
đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao
hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ
chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng
phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng
quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có
rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất,
phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc
kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về những
tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương.
*Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
* Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát
triển của quy hoạch sử dụng đất. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một
phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối
quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất). Trong quy
hoạch sử dụng đất luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên
(như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với
người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người
tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các
ngành như: Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng
đất trong vùng; Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành; Điều
chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng; Phân định ranh giới và
các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng; Đề xuất các biện pháp,
các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất.
* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính
chính trị và chính sách xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính
sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thể
hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân,
phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu
khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
* Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước,
theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong
những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp
hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển,
khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các
dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ sung,
hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều này
thể hiện tính khả biến của quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch
động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy
hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện
và tính phù hợp ngày càng cao.
1.1.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
Ở Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy hoạch sử
dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính [11].
quy hoạch sử dụng đất theo ngành. Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện
đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất. Các ngành
chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy hoạch
sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất
của ngành. Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định
hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành. Nói khác đi, quy hoạch ngành là
một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ.
1.1.3 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau về
không gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử
khác nhau (về thời gian) là rất khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
(1). Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất chưa
sử dụng);
(2). Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản
về sử dụng đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng đất
đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số lượng
và chất lượng đất đai);
(3). Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh (điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, phân phối hợp lý
nguồn tài nguyên đất đai, xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành,
đưa ra các chỉ tiêu khống chế - chỉ tiêu khung để quản lý vĩ mô đối với từng loại
sử dụng đất - 3 nhóm đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2003);
(4). Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
Về mặt bản chất, tính khả thi biểu thị khả năng thực hiện của phương án
quy hoạch sử dụng đất khi hội tụ đủ một số điều kiện hoặc yếu tố nhất định cả về
phương diện tính toán, cũng như trong thực tiễn.
Như vậy, để nhìn nhận một cách đầy đủ về góc độ lý luận, tính khả thi của
phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao hàm “Tính khả thi lý thuyết”- được xác
định và tính toán thông qua các tiêu chí với những chỉ tiêu thích hợp ngay trong
quá trình xây dựng và thẩm định phương án quy hoạch sử dụng đất; “Tính khả
thi thực tế” chỉ có thể xác định dựa trên việc điều tra, đánh giá kết quả thực tế đã
đạt được khi triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong thực
tiễn.
Khi triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong điều kiện
bình thường, sự khác biệt giữa “Tính khả thi lý thuyết’ và “Tính khả thi thực tế”
thường không đáng kể. Tuy nhiên, không ít trường hợp luôn có những vấn đề
phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
do tác động của nhiều yếu tố khó đoán trước được như: tính kịp thời về hiệu lực
thực thi của phương án quy hoạch; nhận thức và tính nghiêm minh trong thực thi
quy hoạch của các nhà chức trách và người sử dụng đất; các sự cố về khí hậu và
thiên tai; những đột biến về mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; khả năng về các
nguồn lực; áp lực mới về các vấn đề xã hội, thị trường, an ninh quốc phòng; tác
động của nền kinh tế quốc tế
Tính khả thi của phương án quy hoạch có thể được đánh giá và luận chứng
thông qua 5 nhóm tiêu chí sau [7]:
(1). Khả thi về mặt pháp lý, có thể bao gồm các tiêu chí đánh giá về:
* Căn cứ và cơ sở pháp lý để lập quy hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu:
- Các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật;
- Các quyết định, văn bản liên quan đến triển khai thực hiện dự án
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
14
gồm: các biện pháp cần thiết khi thực hiện việc chu chuyển đất đai và chuyển đổi
mục đích sử dụng (khai hoang, phục hoá, lấn biển, khôi phục mặt bằng sử dụng
đất, cải tạo cơ bản nhằm đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước
hoang hoá vào sử dụng ); xác định ranh giới và cơ cấu diện tích đất của các chủ
sử dụng, cơ cấu diện tích cây trồng; xác lập các chế độ sử dụng đất đặc biệt (sử
dụng đất tiết kiệm diện tích bề mặt, khai thác triệt để không gian và chiều sâu) ;
* Nhóm 2: Bao gồm các biện pháp về xây dựng các hạng mục và thiết bị
công trình trên lãnh thổ (xác định theo đặc điểm của khu vực và định hướng phát
triển của doanh nghiệp và người sử dụng đất), cần lượng vốn đầu tư cơ bản khá
lớn (gồm cả chi phí điều tra khảo sát, thiết kế cũng như vốn đầu tư để thực hiện
công trình) và thực hiện theo dự án đầu tư hoặc thiết kế kỹ thuật chi tiết, như các
công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; hệ thống ruộng bậc thang
trên đất dốc và các thiết bị công trình bảo vệ đất (chống rửa trôi, xói mòn, sạt lở
đất); hệ thống công trình thuỷ lợi, ao hồ chứa nước (tưới tiêu, chống xâm nhập
mặn, thau chua, rửa mặn, rửa phèn);
* Nhóm 3: Bao gồm các biện pháp bảo vệ đất và môi trường sinh thái để
phát triển bền vững (trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng để phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc, tăng độ che phủ của rừng, chắn sóng, chắn cát; bảo vệ
nghiêm ngặt diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng)
* Nhóm 4: Bao gồm các biện pháp không đòi hỏi vốn đầu tư cơ bản,
nhưng được thực hiện bằng dự toán chi phí sản xuất bổ sung hàng năm của
doanh nghiệp hoặc người sử dụng đất như nâng cao độ phì và tính chất sản xuất
của đất, áp dụng các quy trình công nghệ gieo trồng tiên tiến, thực hiện các biện
pháp kỹ thuật canh tác chống xói mòn, sử dụng các chế phẩm hoá học, bón phân,
bón vôi
(5). Khả thi về các giải pháp tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch, được
đánh giá theo nhóm các giải pháp gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
thực tiễn (với phương án đã được đảm bảo bởi các yếu tố khả thi).
Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế
của xã hội. Quá trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp, liên
quan đến nhiều vấn đề và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như các mối
quan hệ sản xuất; hình thức sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất khác. Với cách
tiếp cận như trên, cần phải lưu ý một số vấn đề khi xem xét hiệu quả quy hoạch
sử dụng đất như sau [7]:
(1). Hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất phải được đánh giá trên cơ sở hệ
thống các mối quan hệ về kinh tế cùng với việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phù
hợp;
(2). Khi xác định hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất cần xem đồng thời
giữa lợi ích của những người sử dụng đất với lợi ích của toàn xã hội;
(3). Đất đai là yếu tố của môi trường tự nhiên, vì vậy cần phải chú ý đến
các yêu cầu bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất, cũng như giữ gìn các đặc
điểm sinh thái của đất đai;
(4). Khi tính toán các chỉ tiêu hiệu quả cần tách bạch rõ phần hiệu quả
đem lại của quy hoạch sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu đồng nhất về chất
lượng và có thể so sánh được về mặt số lượng (cần xác định hiệu quả theo từng
nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất và từng đối tượng sử dụng đất);
(5). Phương án quy hoạch sử dụng đất là cơ sở để thực hiện các biện pháp
(sẽ được cụ thể hoá trong các đề án quy hoạch chi tiết) như chuyển đổi cơ cấu sử
dụng đất, cải tạo và bảo vệ đất, xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, các
dự án xây dựng công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh Vì vậy, cần tính đến
hiệu quả của tất cả các biện pháp có liên quan được thực hiện cho đến khi định
hình phương án quy hoạch sử dụng đất (bao gồm chi phí vốn đầu tư cơ bản và
vốn quay vòng, các chi phí cần thiết để bồi thường thiệt hại và bảo vệ môi
trường).