Đánh giá kết quả thực hiệu quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 đến 2010 và đề xuất giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang - Pdf 24



1
Đại học Thái Nguyên
Trƣờng Đại học Nông lâm TRẦN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2006 -2010
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU
QUẢ TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG

đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu qủa” [4]. Luật Đất đai năm
2003 đã dành 10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội
dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
các cấp [7].
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất,
nhiều địa phương trong cả nước đã nghiêm túc tổ chức triển khai công tác
này. Đến nay, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (100%),
505/753 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (67%) và 6.865/12.588 xã,
phường, thị trấn (54,5%) hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất.
Nhiều địa phương đã và đang triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu giai đoạn 2011-2015 [2].
Về mặt số lượng có thể thấy, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng
với sự nỗ lực rất lớn của các địa phương, việc lập quy hoạch sử dụng đất đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
được triển khai trên diện rộng và khá đồng bộ, đặc biệt là ở cấp tỉnh và cấp
huyện. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác lập quy hoạch, tổ chức
triển khai thực hiện quy hoạch, quản lý và giám sát quy hoạch ở nhiều địa
phương chưa được quan tâm đúng mức; kết quả của nhiều dự án quy hoạch
đạt được là rất thấp; tình trạng quy hoạch “treo”, quy hoạch “ảo” đang là tâm
điểm chú ý của dư luận xã hội. Vì vậy việc đánh giá kết quả thực hiện quy
hoạch để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm chấn chỉnh lại công tác quy
hoạch, nâng cao khả năng thực thi của các dự án quy hoạch sử dụng đất hiện
nay là việc làm bức thiết.
Đối với tỉnh Tuyên Quang thì huyện Chiêm Hóa là một trong bảy đơn
vị hành chính cấp huyện, là huyện phát triển, trung tâm văn hóa, chính trị,
kinh tế- xã hội nằm ở phía Bắc của tỉnh. Thực hiện Luật Đất đai năm 2003;
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về

3. Yêu cầu của đề tài
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá phải chính xác, khách quan;
- Đánh giá theo nhiều góc độ khác nhau: Đánh giá theo từng nhóm đất;
theo số liệu thứ cấp, theo số liệu sơ cấp;
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tế ở địa phương và có
tính khả thi cao.
4.  nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Góp phần bổ sung kiến thức về c ơ sở lý luận quy hoạ ch ; quản lý quy
hoạch nâng cao nhậ n thứ c về nộ i dung, phương phá p đánh giá kế t quả thự c hiệ n
quy hoạ ch sử dụng đất củ a một đơn vị hành chính cấp huyện.
- Tạo lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao khả năng thự c thi quy hoạ ch sử dụ ng đấ t củ a mộ t đơn vị hà nh chí nh cấ p
huyệ n trong hệ thố ng quy hoạ ch sử dụ ng đấ t của nước ta.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Làm tài liệu tham khảo phụ c vụ cho các nhà quản lý ở huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang nâng cao hiệ u quả quả n lý, giám sát và tổ chức triển khai thực
hiện quy hoạ ch sử dụ ng đấ t củ a huyện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
Chƣơng I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài


khẳng định „„Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà
nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử
dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất đai cho các tổ chức,
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài‟‟[4];
Điều 13, Luật Đất đai năm 1993 nêu rõ: Quy hoạch và kế hoạch hoá việc
sử dụng đất đai là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai'
Điều 6, Luật Đất đai năm 2003 ghi nhận: Quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử
dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai;
Điều 19 Luật Đất đai 2003 khẳng định: “Căn cứ để quyết định giao đất,
cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xét duyệt”;
Điều 21 đến Điều 30 Luật Đất đai 2003 quy định rõ về công tác quy hoạch
và kế hoạch sử dụng đất;
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật Đất đai;
Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất;
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư;
Quyết định số 100/2008/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Tuyên Quang đến năm 2020;
Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn8
để phát triển bền vững trên cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích phát triển
kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước, các vùng và theo đơn vị
hành chính các cấp [24].
1.2.2. Bản chất của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và
pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý,
khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh
định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất
(các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo
điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường [5].
Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết
định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích
cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai
và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu
quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
1.2.3. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
1.2.3.1. Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử
dụng đất đai. Mỗi hình thái KT-XH đều có một phương thức sản xuất của xã hội
thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong quy hoạch
sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai cũng như quan hệ
giữa người với người về quyề n sở hữ u và sử dụ ng đấ t đai. Quy hoạch sử dụng
đất đai thể hiện đồng thời vừ a là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất,
vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận
của phương thức sản xuất của xã hội.

kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân
số, đất đai và môi trường sinh thái.
1.2.3.6. Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều
phương diện khác nhau, QHSDĐĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi
hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn10
tế trong một thời kỳ nhất định . Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày
càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐĐ
không còn phù hợp. Việc điề u chỉ nh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch là biện pháp
thực hiện và cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch, QHSDĐĐ
luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy hoạch -
thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất lượng,
mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao.[3]
1.2.4. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
1.2.4.1.Quy hoạch sử dụng đất theo ngành
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi….
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai
thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành (trong phạm vi
ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ
tương ứng). Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ
với quy hoạch sử dụng đất của vùng và cả nước. [6]
1.2.4.2. Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
- Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai cả nước;

triển KT-XH trong phạm vi tỉnh.
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện: Xây dựng trên cơ sở định
hướng của Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh nhằm giải quyết các mâu
thuẫn về quan hệ đất đai. Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài nguyên đất, mục tiêu
dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện cụ thể khác của huyện, đề
xuất các chỉ tiêu và phân bổ các loại đất; xác định các chỉ tiêu định hướng về
đất đai đối với quy hoạch ngành và xã, phường trên phạm vi của huyện.
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã: Xã là đơn vị hành chính cấp cuối
cùng. Vì vậy, trong quy hoạch cấp xã vấn đề sử dụng đất đai được giải quyết
rất cụ thể, gắn chặt với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã và các
quan hệ ngoài xã. Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã là quy hoạch vi mô,
được xây dựng dựa trên khung chung các chỉ tiêu định hướng sử dụng đất cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
huyện. Kết quả của Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã còn là cơ sở để bổ
sung Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện và là căn cứ để giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài,
để tiến hành dồn điền đổi thửa nhằm thực hiện các phương án sản xuất kinh
doanh cũng như các dự án cụ thể.[7]
1.2.5. Mối quan hệ của quy hoạch sử dụng đất
1. 2.5.1. Quan hệ giữa các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước và Quy hoạch sử dụng đất đai các cấp
lãnh thổ hành chính địa phương cùng hợp thành hệ thống Quy hoạch sử dụng đất
đai hoàn chỉnh. Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử
dụng đất đai của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hoá
quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô.
Quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là

mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu. Còn đối tượng của quy
hoạch sử dụng đất đai là tài nguyên đất. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ
vào yêu cầu của phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất; Xây dựng phương án quy
hoạch phân phối sử dụng đất đai thống nhất và hợp lý. Như vậy, quy hoạch sử
dụng đất đai là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nội dung của nó phải được điều hoà
thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.5.4. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành
- Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch phát triển
nông nghiệp
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu
của quy hoạch sử dụng đất đai. Quy hoạch sử dụng đất đai tuy dựa trên quy
hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong nông nghiệp, nhưng
chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát triển
nông nghiệp. Hai loại quy hoạch này có mối quan hệ qua lại vô cùng mật thiết
và không thể thay thế lẫn nhau.
- Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch đô thị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và
phát triển của đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương
châm xây dựng đô thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách
hợp lý toàn diện, bảo đảm cho sự phát triển đô thị được hài hoà và có trật tự,
tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc sống và sản xuất. Tuy nhiên, trong quy
hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể khoảnh đất dùng cho các dự án, sẽ
giải quyết cả vấn đề tổ chức và sắp xếp các nội dung xây dựng. Quy hoạch sử
dụng đất đai được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy

- Xác định phương hướng, mục tiêu SD đất trong kỳ quy hoạch và định
hướng cho kỳ tiếp theo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành và các địa phương.
- Xây dựng các phương án phân bổ DT các loại đất cho nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch.
- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án phân
bổ quỹ đất.
- Lựa chọn phương án phân bổ quỹ đất hợp lý căn cứ vào kết quả phân
tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường thực hiện ở khoản 7 Điều này.
- Thể hiện phương án quy hoạch SD đất được lựa chọn trên bản đồ quy
hoạch SD đất.
- Xác định các biện pháp SD, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường cần
phải áp dụng đối với từng loại đất, phù hợp với địa bàn quy hoạch.
- Xác định giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch SD đất phù hợp với đặc
điểm của địa bàn quy hoạch.
Ngoài ra quy hoạch sử dụng đất còn phải đáp ứng nhu cầu đất cho các ban
ngành, các chủ sử dụng đất thông qua việc thành lập các đơn vị sử dụng đất mới
hoặc chỉnh lý, hoàn thiện các đơn vị sử dụng đất đang tồn tại.
1.2.7. Thẩm quyền lập và quyết định xét duyệt phương án quy hoạch
sử dụng đất
1.2.7.1. Thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực
hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
- Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng

17
Bước 5: Xây dựng kế hoạch sử dụng đất.
Bước 6: Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp, hoàn chỉnh tài liệu
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình thông qua, xét duyệt và công bố quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1.3. Sơ lƣợc về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới, tại Việt Nam và
tỉnh Tuyên Quang.
1.3.1. Quy hoạch sử dụng đất trên thế giới
Công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm trước
đây với đầy đủ cơ sở khoa học, một số quốc gia ngay từ những năm trước
công nguyên họ đã có quy hoạch xây dựng quốc gia mình theo những mô
hình hoá. Ở một số nước như: Anh, Pháp, Liên Bang Nga đã xây dựng cơ sở
lý luận của ngành quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh và ngày càng tiến bộ.
Các dự án phát triển vùng đều tiến hành trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc – quy
hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu
phát triển của vùng vĩ mô. Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), quy
hoạch sử dụng đất là bước kế tiếp của phương pháp đánh giá đất. Kết quả
của việc đánh giá đất sẽ đưa ra một loại hình hợp lý nhất đối với đất đai
trong vùng. Phương pháp quy hoạch đất đai tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai
của từng nước. Công tác quy hoạch sử dụng đất tại một số nước trên thế giới
như sau:
1.3.1.1. Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Anh
Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947
chính phủ Anh đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn,
trong đó điều thay đổi quan trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền
phát triển và xây dựng chế độ cho phép khai thác. Quy định mọi loại đất đều
phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước
hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác, cơ quan
quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem
liệu có cho phép hay không. Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp

thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc
sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để làm
tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc sử dụng những trang thiết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn19
bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên.
Quy hoạch chi tiết đưa ra phương án sử dụng đất nhằm bảo vệ và khôi
phục độ phì của đất, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất, ngăn chặn việc sử
dụng đất không hiệu quả, làm tăng điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt,
điều kiện nghỉ ngơi của người dân.
1.3.1.4. Quy hoạch sử dụng đất ở Canada
Chính phủ Liên bang đã can thiệp vào quy hoạch cấp trung gian và đưa
ra mục tiêu chung ở cấp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các
hoạt động lập quy hoạch ở các bang. Ngoài ra Chính phủ còn hỗ trợ để có sự
tham gia ở các lĩnh vực khác nhau có liên quan tới quá trình lập quy hoạch
bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp; nhất là vấn đề môi trường
ngày càng được quan tâm và bảo vệ.
1.3.1.5. Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản
Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật bản chia ra: Quy hoạch sử dụng đất tổng
thể và Quy hoạch sử dụng đất chi tiết.
- Quy hoạch sử dụng đất tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh
thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên. Mục tiêu của Quy
hoạch sử dụng đất tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài
hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất cho sự
nghiệp phát triển kinh tế, xã hội. Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch
sử dụng đất chi tiết. Nội dung của quy hoạch này không quá đi vào chi tiết
từng loại đất mà chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp,
đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác.

gặp khó khăn và bế tắc.
1.3.1.7. Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước nằm trong vùng Đông Á có diện tích tự nhiên là
9.597 nghìn km
2
, dân số hơn 1,2 tỷ người. Trung Quốc coi trọng việc phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan
tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế - xã hội. Trong kế
hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn của Nhà nước, của các địa phương đều
được dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ
và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử dụng tiết kiệm và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn21
hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất. Đến nay
Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng thể đến chi tiết
cho các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định
sử dụng đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
1.3.1.8. Quy hoạch sử dụng đất ở Malaysia
Quy hoạch phát triển kinh tế lãnh thổ được tiến hành mạnh từ năm
1972, Quốc hội phê chuẩn thành lập 7 vùng. Cùng với sự chỉ đạo của Bộ Tài
nguyên đất và phát triển vùng ở Trung ương, mỗi vùng có cơ quan phát triển
vùng chỉ đạo trực tiếp các trọng điểm, soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, đưa ra các quyết định ngân sách đảm bảo thực thi các dự án như một động
lực thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối trong công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng xã hội, gắn kết các đô thị lớn thành
mạng lưới các cực tăng trưởng trong phát triển vùng và các điểm dân cư ở các
vùng biên giới.
1.3.1.9. Quy hoạch sử dụng đất ở Thái Lan

đã được đẩy mạnh gắn liền với việc hợp tỉnh huyện và xây dựng thành pháo
đài. Cả nước đi vào sắp xếp lại đất nước, tạo ra các vùng kinh tế lớn.
Hội đồng chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo phân vùng quy hoạch
nông lâm nghiệp. Trung ương để triển khai công tác này trên phạm vi cả
nước. Kết quả là đến cuối 1978 các phương án phân vùng nông lâm nghiệp
công nghệ chế biến nông sản của cả nước trong 7 vùng kinh tế và của tất cả
các tỉnh đã lập và được chính phủ phê duyệt, trong các phương án trên đều đề
cập đến quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp và coi đó là một luận chứng
quan trọng để phát triển ngành.
Tuy nhiên do mục đích đề ra ngay từ đầu là chỉ để phục vụ phát triển
nông, lâm nghiệp cho nên các loại đất khác chưa đề cập đến và còn khoảng 3
triệu ha ở miền núi cao chưa tiến hành phân bổ sử dụng, mặt khác do còn
thiếu nhiều tài liệu điều tra cơ bản, thổ nhưỡng và chưa tính được khả năng
đầu tư nên tính khả thi của các phương án còn thấp.
- Thời kỳ 1981- 1986
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ rõ: „„xúc
tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng hợp sơ đồ phát triển và phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn23
bố lực lượng sản xuất nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch
triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1986 - 1990)‟‟.
Chủ tịch hội đồng bộ trưởng đã yêu cầu các ban ngành, các địa phương, các
cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo triển khai chương trình tổng hợp sơ đồ phát triển
và phân bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến 1986 - 1990 cũng như trong thời kỳ
này hầu hết các của cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể huyện.
Một trong những mục đích và yêu cầu đặt ra đối với tổng sơ đồ phải là
cơ sở cho việc tiến hành quy hoạch xây dựng vùng như xây dựng khu công
nghiệp, khu du lịch, xây dựng thành phố, thị xã, thị trấn

Ngày 14/07/1993 Luật Đất đai được công bố. Trong luật này các điều
khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật Đất đai 1988, và từ
năm 1993 trở đi công tác quy hoạch đã được chú trọng nhiều hơn.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1988 và luật sửa
đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 29/06/2001 cũng như công tác ban
hành. Các điều khoản trong luật này đã khẳng định công tác quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất đai là cần thiết.
+ Nghị định số 04/2000/NĐ-CP quy định về thi hành luật sửa đổi bổ sung
một số điều Luật Đất đai ban hành ngày 02/12/1998.
+ Sau đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, nhà nước ta triển khai công tác
nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội ở hầu hết 53
tỉnh, thành phố trực thuộc TW, 8 vùng kinh tế, các vùng trọng điểm và quy hoạch
phát triển ngành ở hầu hết các bộ, ngành.
+ Các công trình nghiên cứu này tính đến 2020 phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội trong vòng 10 - 15 năm tới. Việc nghiên cứu triển khai quy
hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước đang là vấn đề bức xúc của các ngành
các cấp và mọi thành viên xây dựng hưởng ứng.
+ Đây là cái mốc bắt đầu của thời kỳ công tác quản lý đất đai vào nề
nếp, sau một thời gian dài tuyệt đối hoá về công hữu đất đai ở miền Bắc và
buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía nam dẫn đến tình trạng quá nhiều
diện tích đất không có chủ sử dụng đất.
- Thời kỳ sau Luật Đất đai 2003 đến nay
Sau khi Luật Đất đai 2003 được công bố đã có rất nhiều các văn bản dưới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn25
Luật ra đời, hướng dẫn thi hành Luật như :
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai 2003;
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status