VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN DŨNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
KHÁC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ,
TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN DŨNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
KHÁC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ,
TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 8 38 01 04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.5. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người
khác: ................................................................................................................ 30
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
......................................................................................................................... 33
2.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến thực hành quyền công tố trong điều
tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân
huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. ............................................................................ 33
2.2. Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực hành quyền công tố
trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai: ............................................................ 36
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI.................................................... 59
3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong điều tra
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện
Chư Sê, tỉnh Gia Lai:....................................................................................... 59
3.2. Những giải pháp: ...................................................................................... 60
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS
: Viện kiểm sát nhân dân
CQCSĐT
: Cơ quan cảnh sát điều tra
CQTHTT
: Cơ quan tiến hành tố tụng
NTHTT
: Người tiến hành tố tụng
NQ
: Nghị quyết
TW
: Trung ương
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thực hành quyền
công tố trong điều tra các vụ án hình sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
nhằm thực hiện chức năng của ngành kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều
107 của Hiến pháp năm 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công
hạn chế trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án mà do nhiều nguyên nhân khác
nhau, trong đó nguyên nhân cơ bản là nhận thức về thực hành quyền công tố còn
thiếu đầy đủ toàn diện; nhận thức về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự chưa được nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ toàn
diện; thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án
hình sự nói chung và các tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng
chưa được tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên; tình hình vi phạm, tội phạm xâm
phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn cả nước, địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung
và địa bàn huyện Chư Sê nói riêng đang diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia
tăng, tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm và gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn.
Vì vậy, để góp phần thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố thì việc tiếp
tục nghiên cứu, làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong
tố tụng hình sự là vấn đề cần thiết hiện nay nên em đã lựa chọn đề tài: “Thực hành
quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ
thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Thực hành quyền công tố là một trong những chức năng quan trọng của Viện
kiểm sát nên trong nhiều năm qua đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có
nhiều bài viết liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
trong điều tra các vụ án hình sự, cụ thể như:
Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt
Nam từ những năm 1945 đến nay, của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (năm 1999).
Một số vấn đề về quyền công tố của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Độ, đăng
2
trên Tạp chí Luật học số 03/2001.
Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố của Tiến sĩ Lê Cảm, đăng
trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và thực
tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở thực
tiễn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong 05 năm, từ
năm 2014 - 2018; luận văn tiến hành phân tích, đánh giá việc thực hiện hoạt
động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh
Gia Lai để tìm ra những hạn chế, thiếu sót từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong thời gian tới nhằm góp
phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các
vụ án hình sự đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, không để xảy ra oan sai; với cách tiếp cận và thể hiện như vậy, nội
dung của luận văn không trùng với bất cứ luận văn nào đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn
diện công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác tại VKSND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trên cả hai
phương diện lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở thống nhất về mặt nhận thức, kết
quả nghiên cứu của luận văn nhằm tìm ra những khó khăn vướng mắc, tồn tại,
bất cập và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công tác này.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện cả lý
luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền
công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại VKSND
huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, góp phần cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật
khác đấu tranh phòng, chống hiệu quả hơn với loại tội phạm này trong thời gian
tới.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
Nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận về chức năng thực hành quyền công tố
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn:
Ý nghĩa về lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận
chuyên ngành Luật tố tụng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố của
5
VKSND.
Ý nghĩa về thực tiễn: Luận văn nâng cao hiệu quả công tác thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong
giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng và của
VKS cấp huyện trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung; từ đó học viên thấy việc
nghiên cứu làm sáng tỏ các lý luận về thực hành quyền công tố của Viện kiểm
sát trong điều tra vụ án hình sự là cần thiết, phù hợp với tiến trình cải cách tư
pháp của Đảng và Nhà nước ta. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm
ra những hạn chế, vi phạm để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Thông qua đó giúp Viện kiểm sát ngày một nâng cao hơn vị thế
của mình trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố
trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh
Gia Lai.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công
tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát
nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội.
7
Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên toà”.
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng: “quyền công tố là quyền lực Nhà
Nước, do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền tiến hành trong tố tụng hình sự để truy
cứu trách nhiệm hình sự, truy tố và buộc tội người phạm tội”.
1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố:
Trong thời gian gần đây có một số công trình khoa học nghiên cứu về thực
hành quyền công tố hoặc nghiên cứu về các vấn đề pháp lý khác trong đó có một số
vấn đề liên quan đến thực hành quyền công tố mới chỉ dừng lại ở mức đưa ra được
một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát như kiểm sát
điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát giam, giữ và cải tạo, kiểm sát thi hành án.
Các công trình này vận dụng những nguyên lý của V.I. Lênin về pháp chế xã hội
chủ nghĩa và vai trò của VKS, về vai trò và bộ phận của ủy viên công tố làm cơ sở
lý luận và lấy các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
từ năm 1960 đến nay làm cơ sở pháp lý. Bởi vậy trong nhận thức của không ít
những người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn trong cũng như ngoài ngành
kiểm sát đã nhầm lẫn quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương
diện như đối tượng, nội dung, phạm vi. Đồng thời các công trình này luôn gắn
quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền của VKS. Do đó đã không lý giải được
một số vấn đề là khi một số cơ quan khác (CQĐT, Tòa án...) sử dụng một số biện
pháp như khởi tố vụ án, khởi tố bị can... thì có phải các cơ quan này cũng thực hành
quyền công tố hay không.
Để thực hiện quyền lực nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể thì nhà nước tổ chức
ra một hệ thống cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó. Hệ thống cơ quan này
pháp luật định để ngăn chặn chúng;
2) Chức năng, nhiệm vụ của VKS/KSV Việt Nam trong giai đoạn điều tra,
truy tố vụ án hình sự bao gồm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật, truy tố hình sự,
phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, định hướng và đưa ra yêu cầu điều tra cho
CQĐT. Hai chức năng, nhiệm vụ đầu tiên là cơ bản, hai chức năng tiếp theo có tính
chất bổ sung;
3) Đánh giá về sự đặc biệt trong chế định THQCT của VKS/KSV theo quy
định của BLTTHS Việt Nam trong sự so sánh với chế định THQCT của VKS/KSV
9
Liên bang Nga, thấy rằng: VKS/KSV Việt Nam có sự linh hoạt trong thực hiện các
hoạt động tố tụng và ban hành các quyết định, có quyền hạn lớn để tác động vào
hoạt động tố tụng của CQĐT/ĐTV nhằm bảo đảm việc điều tra đúng quy định của
pháp luật.
Ở nước ta, VKS là cơ quan duy nhất được giao thực hành quyền công tố;
không có cơ quan nào có thể thay Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, bởi lẽ:
Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất về mặt pháp lý có quyền độc lập phát động
quyền công tố như: ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu
CQĐT; các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi
tố, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
VKS có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế; gia hạn các biện pháp trên; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, hủy bỏ
các quyết định tố tụng của CQĐT.
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm đảm bảo đủ các
chứng cứ để truy tố, buộc tội bị can; khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm
tội thì VKS quyết định truy tố người phạm tội ra xét xử trước Tòa án.
Tại phiên tòa, VKS có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội bị cáo là có
căn cứ, đúng pháp luật; bản án kết tội của Tòa án chính là việc chấp nhận lời buộc
Những hoạt động điều tra đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác
gồm: lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, người
tham gia tố tụng khác; hỏi cung bị can; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử
thi (trong trường hợp hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến nạn nhân chết); giám
định tỷ lệ tổn thương của người bị hại; giám định tuổi của người phạm tội, của
người bị hại; đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; khám xét; thu giữ tài liệu,
đồ vật và một số hoạt động điều tra khác. Những hoạt động điều tra này cần nhanh
chóng, đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn.
Những hoạt động điều tra này nhằm thu thập một cách toàn diện, đầy đủ chứng cứ
buộc tội và gỡ tội đối với người phạm tội, các tình tiết khác có liên quan để giải
quyết đúng đắn vụ án hình sự. CQĐT, Điều tra viên có trách nhiệm đánh giá các
chứng. Trên cơ sở đánh giá chứng cứ đó, CQĐT sẽ quyết định: Đình chỉ điều tra vụ
án hình sự, đình chỉ điều tra đối với bị can hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của
vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị
11
can.
Như vậy, điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người
khác là một giai đoạn tố tụng, trong đó cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp
điều tra theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người phạm tội xâm
phạm sức khỏe của người khác, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình
sự.
1.1.4. Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Theo tác giả luận văn thì khi nghiên cứu thực hành quyền công tố trong điều
tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì không thể không nghiên cứu đến
khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Theo đó, thực thành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận
điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định đình chỉ
vụ án hình sự. Đối tượng của thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác là tội phạm và người phạm tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Để làm rõ đối tượng của tội phạm, VKS phải yêu cầu CQĐT làm rõ
mọi tình tiết của vụ án, như thời gian, địa điểm tội phạm xảy ra, hành vi phạm tội,
công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng; lỗi, động cơ, mục đích của người
phạm tội; nhiệm vụ, quyền hạn của người phạm tội (Tội gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); hậu quả
của tội phạm, như thương tật của người bị hại, chi phí cho việc chữa trị thương tích;
nhân thân, tiền án, tiền sự của người phạm tội những tình tiết khác có liên quan đến
việc buộc tội, gỡ tội đối với người phạm tội.
Như vậy, thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác là việc cơ quan công tố/ Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do pháp
luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội, truy tố người phạm các tội
xâm phạm sức khỏe của người khác ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
1.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác là hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm
13
hình sự đối với người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Thực
hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác bắt
đầu từ thời điểm CQĐT khởi tố vụ án hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Tuy nhiên, cần phải xem xét cả các tố giác, tin báo về các tội liên quan
như: Hủy hoại tài sản; cố ý làm hư hỏng tài sản; bắt, giữ người trái pháp luật…
Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
sức khỏe của người khác được bắt đầu từ khi CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết
định đình chỉ vụ án. Trước khi ra quyết định khởi tố vụ án, CQĐT đã phải thực hiện
các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
bằng các hoạt động kiểm tra, xác minh để xác định có tội phạm hay không. Nếu qua
quá trình kiểm tra, xác minh, CQĐT xác định có tội phạm xâm phạm sức khỏe của
người khác thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra. Quyết định khởi tố cùng
toàn bộ hồ sơ vụ án được chuyển cho VKS để thực hành quyền công tố.
1.4. Nội dung thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự về
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên cơ sở các quy định tại Điều 134,
Điều 135, Điều 136, Điều 137, Điều 138, Điều 139 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 (trước đây là Điều 104, Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 108, Điều 109
BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm
2014; Điều 165 Bộ luật TTHS năm 2015; Thông tư liên tịch số: 05/TTLTVKSNDTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 giữa VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng về quan hệ phối hợp giữa VKSND tối cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
“Trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2003”, (Nay là Thông
tư liên tịch số: 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 giữa
VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa VKSND tối
cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng “Trong việc thực hiện một số quy định của Bộ
luật TTHS năm 2015” (TTLT số 04.); Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số
03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
sau đây gọi tắt là Quy chế số 03/2017). Theo các quy định trên thì công tác thực
15
hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
quyết định không khởi tố vụ án hình sự biết về sự đồng ý của VKS.
Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì gửi quyết
định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra và truy tố cho cơ quan ra quyết định; nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án
thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng
cứ để làm rõ; nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định
không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên thụ lý giải
quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra
hủy bỏ quyết định đó. Nếu cơ quan đã ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án hình sự không hủy bỏ thì lãnh đạo Viện trực tiếp ra quyết định
hủy bỏ.
Hai là, thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay
đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can:
Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội về
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì CQĐT ra quyết định quyết
khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can,
CQĐT phải gửi ngay quyết định khởi tố và các tài liệu liên quan đến việc khởi
tố bị can cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi
nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm
sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của
quyết định khởi tố bị can để xử lý như sau: Nếu thấy quyết định khởi tố bị can có
căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để xem xét, quyết định việc khởi tố
bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản
4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu hết thời hạn tạm giữ mà không đủ căn cứ
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Kiểm sát viên
18
thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bị can trả tự do ngay cho
người bị tạm giữ.
Trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ thì Viện
kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và quyết định trả tự do ngay
cho người bị tạm giữ.
Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định
khởi tố bị can ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can, hành vi phạm tội
của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành
vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo
cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra
không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra
trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố bị can theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên thụ lý
giải quyết vụ án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định bổ sung hoặc
thay đổi quyết định khởi tố bị can; trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung tài
liệu, chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ