1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN HÙNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC NINH - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuân
Hà nội - 2014 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Văn Hùng
Tội xâm phạm sức khỏe con người và các dấu hiệu pháp lý
đặc trưng
7
1.1.1.
Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe con người
7
1.1.2.
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sức
khỏe con người
9
1.2.
Khái niệm, đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra
12
1.3.
Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án xâm phạm sức khỏe con người
20
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC
KHỎE CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
28
2.1.
Pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
28
2.2.
Kết quả đạt được trong hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sức khỏe
37
70
3.2.1.
Tổ chức điều hành tốt hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sức khỏe con người
70
3.2.2.
Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra,
gắn công tố với hoạt động điều tra
72
3.2.3.
Chủ động đề ra yêu cầu điều tra
73
3.2.4.
Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra
75
3.2.5.
Nắm vững quan điểm và thực hiện đúng đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
76
3.2.6.
Nâng cao nhận thức về hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sức khỏe con người
77
3.2.7.
Đổi mới công tác tổ chức cán bộ
77
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
So sánh số lượng tố giác, tin báo tội phạm nói chung với
tội xâm phạm sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
43
2.2
So sánh tổng thụ lý KSĐT tội phạm nói chung với tội
xâm phạm sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
44
2.3
So sánh tội phạm VKSND tỉnh Bắc Ninh phải xử lý so
với tội xâm phạm sức khỏe con người
44
2.4
So sánh tổng số tội phạm VKSND tỉnh Bắc Ninh đã giải
quyết nói chung so với tội xâm phạm sức khỏe con người
44 8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
lược cải cách tư pháp đến năm 2020" đặt ra nội dung "Tăng cường trách
nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra" [3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X của Đảng xác định: "Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ;
lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với
hoạt động điều tra" [4]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp
tục khẳng định: "Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra" [5].
Nhận thức và quán triệt nghiêm túc tinh thần nghị quyết của Đảng,
trong những năm qua hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm
sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự của ngành Kiểm sát nhân dân đã có
nhiều chuyển biến tích cực. Với số lượng rất lớn các vụ án hình sự được phát
hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời bảo đảm sự nghiêm minh,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và
trật tự xã hội.
Tuy nhiên, qua áp dụng pháp luật vào thực tiễn còn gặp nhiều những
hạn chế, khó khăn nhất định, như: chưa phát huy hết vai trò, quyền hạn, trách
nhiệm của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT, đồng thời một số quy
định của pháp luật còn mang tính chung, chưa có hướng dẫn cụ thể nên ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động THQCT và KSĐT của VKSND.
Nhằm khắc phục những nhược điểm trên, tác giả làm luận văn này, qua
nghiên cứu mong muốn sẽ góp một phần nhỏ của mình vào việc hoàn thiện các
10
quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT, mở ra một hướng cho việc đào tạo,
tổ chức, sắp xếp cán bộ, Kiểm sát viên trong hoạt động này. Đồng thời nâng cao
hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm, tăng cường kỷ cương trật tự xã hội và
hoàn thiện hơn tổ chức của ngành kiểm sát trong giai đoạn đất nước đang tiến
- Nghiên cứu những quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền
hạn của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT, đặc biệt là kiểm sát các tội
xâm phạm sức khỏe con người.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các tội
xâm phạm sức khỏe trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đồng thời phân tích làm rõ
những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy
định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT,
đặc biệt là trong việc THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sức khỏe con người.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động THQCT và KSĐT
đối với các vụ án xâm phạm sức khỏe con người.
Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là hoạt động THQCT và KSĐT
các vụ án xâm phạm sức khỏe con người trong thời gian từ năm 2008 đến
năm 2012 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp
chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách
tư pháp được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI và các
12
Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQTW ngày
26/5/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả
luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và
tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương
pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri
thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong
các tội xâm phạm sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sức khỏe
con người trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
14
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CON NGƯỜI
1.1. TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CON NGƯỜI VÀ CÁC DẤU HIỆU
PHÁP LÝ ĐẶC TRƯNG
1.1.1. Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe con người
Con người với tư cách là một thực thể của tự nhiên và xã hội, luôn là
đối tượng được quan tâm và bảo vệ hàng đầu trong mọi nhà nước, đặc biệt là
ở các nhà nước hiện đại vấn đề con người càng được quan tâm. Xã hội ngày
càng phát triển thì việc bảo vệ con người và các lợi ích của con người càng
được chú trọng.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng:
Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng
thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn
quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền
làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã
hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và
cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam
giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri
thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh
thần quốc tế chân chính. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc,
thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng,
khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105).
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106).
16
- Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trong khi thi hành công vụ (Điều 107).
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác (Điều 108).
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109).
- Tội hành hạ người khác (Điều 110).
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sức
khỏe con người
Để nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm
phạm sức khỏe, trước hết phải nắm vững các dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Việc
nắm vững các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này là căn cứ để
nghiên cứu đường lối, giải pháp, biện pháp đấu tranh, phòng chống phù hợp,
đồng thời giúp cho cơ quan và người có thẩm quyền có thể xác định, hành vi
đã xảy ra có cấu thành tội phạm hay không, cấu thành tội danh cụ thể nào.
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội xâm phạm sức khỏe được biểu hiện
thông qua các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố cấu thành tội phạm.
Khách thể của tội phạm xâm phạm sức khỏe con người
Con người khi sinh ra, tạo hóa cho họ một cơ thể hoàn thiện hoặc có
thể không hoàn thiện cả về thể chất lẫn tinh thần và đã được pháp luật thừa
nhận bảo vệ, không ai có quyền xâm phạm.
Sức khỏe của con người là vốn quý nhất của từng con người và xã hội.
Con người có sức khỏe thì mới có điều kiện học tập, lao động sáng tạo ra của
cải vật chất nuôi sống bản thân họ, gia đình và xã hội. Vì vậy, xâm phạm làm
tổn thương đến sức khỏe con người đều phải được xử lý nghiêm minh. Hành
- Công cụ, phương tiện phạm tội: để thực hiện hành vi xâm phạm sức
khỏe người khác, người phạm tội dùng công cụ phương tiện gì. Các tội xâm
18
phạm sức khỏe con người, người phạm tội dùng rất nhiều công cụ phương
tiện phạm tội, có thể là công cụ phương tiện được chế tạo tinh vi, cũng có
những công cụ có sẵn trong tự nhiên. Nhưng vấn đề đặt ra là công cụ, phương
tiện nào được coi là hung khí nguy hiểm và đối với vấn đề cấu thành tội phạm
là phải chứng minh được quan hệ nhân quả giữa công cụ, phương tiện gây án
và hậu quả là thương tích, tổn hại để lại trên cơ thể nạn nhân, xác định thương
tích đó là do công cụ, phương tiện đó gây ra.
Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội có thể là lỗi cố ý (như tội quy định tại Điều 104
BLHS) hoặc là vô ý (như tội quy định tại Điều 108 BLHS).
- Đối với lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp, người
phạm tội có thể mong muốn hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức
khỏe nhưng cũng có thể chỉ chấp nhận hậu quả đó. Lỗi cố ý cần phải làm rõ:
+ Vô cớ xâm phạm sức khỏe người khác.
+ Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
+ Phòng vệ chính đáng - vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
- Đối với lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả.
- Động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm của
tội quy định tại Điều 106 BLHS và là dấu hiệu định khung tăng nặng của tội
được quy định tại Điều 104 BLHS.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của nhóm tội này có thể bất kỳ người nào có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định:
- Từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
- Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
20
luật [7]. Điều này có nghĩa ngay cả khi VKS kiến nghị yêu cầu cơ quan nhà
nước sửa chữa những vi phạm trên lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội cũng là
THQCT. Theo tôi đây là hai dạng hoạt động có nội dung hoàn toàn độc lập
với nhau, nếu đồng nhất chúng sẽ không thấy được sự liên hệ, sự khác nhau
về nội dung và phương thức hoạt động giữa chúng.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
VKS truy tố kẻ tội phạm ra trước Tòa án, thực tiện buộc tội tại tòa án. Ý kiến
này thu hẹp nội dung phạm vi quyền công tố (hoạt động khởi tố, điều tra
không đề cấp đến chức năng này) [7]. Tác giả của quan điểm này có lý khi chỉ
ra một số quyền hạn không chỉ riêng biệt của VKS như quyền khởi tố vụ án,
khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn… Quan điểm này đã tồn tại trong
ngành Kiểm sát trước khi có Hiến pháp năm 1980, đến nay vẫn được sự đồng
tình của một số nhà khoa học.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt Nhà
nước bảo vệ lợi ích công, do vậy quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố
tụng hình sự mà có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính (thông qua VKS
thực hiện quyền khởi tố vụ án dân sự, hành chính) [7, tr. 22]. Quan điểm này
đã mở rộng khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố, đồng nhất quyền
công tố với quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự, dân sự, hành chính…Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công
tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh
vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, các ngành luật,
quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và lĩnh vực
tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện,
điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm. Theo tôi quan điểm này
quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố của VKS.
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy
22
ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công. Quyền công tố là quyền lực
công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công
khai bằng con đường Tòa án, vì thế quyền công tố thường gắn với quyền tài
phán của Tòa án [29]. Theo tôi quan điểm trên cũng gần giống với quan điểm
thứ sáu, phạm vi hoạt động quyền công tố của VKS quá rộng, không phù hợp
với thực tiễn ngày nay, phải coi trọng quyền quyết định và tự định đoạt của
đương sự trong lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.
Thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về quyền công tố cũng
như cách giải quyết của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã tiếp
cận gần hơn với quan niệm chung về quyền công tố trên thế giới. Tôi bày tỏ
sự đồng tình với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công tố
được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm
sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để
xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định việc
truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng và bảo vệ sự buộc
tội tại phiên tòa. Vì vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng
hình sự, với đối tượng là tội phạm và người phạm tội [27, tr. 40].
Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKS sử dụng các
quyền năng pháp lý cần thiết theo luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự
người phạm tội, bắt đầu từ khi có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc
việc điều tra, VKS ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án. Theo đó, hoạt
động THQCT trong giai đoạn điều tra được xác định là nhằm bảo đảm phát
hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không làm oan người
vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
24
luật hình thức và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục
tố tụng hình sự.
- Về hình thức hoạt động: THQCT được thực hiện thông qua các hình
thức cơ bản như: VKS ra lệnh, quyết định, cáo trạng, luận tội. Còn KSĐT
thông qua kiến nghị, yêu cầu.
- Về hậu quả pháp lý: Khi VKS THQCT ban hành các văn bản pháp
lý, sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý như: Truy cứu hoặc không truy cứu trách
nhiệm hình sự. Còn khi tiến hành KSĐT thì VKS ban hành các văn bản pháp
lý dẫn đến việc xử lý các vi phạm, thiếu sót trong hoạt động điều tra và cơ
quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy
định của BLTTHS.
Phân biệt sự khác nhau giữa THQCT và KSĐT có ý nghĩa trong việc
làm sáng tỏ hơn nội hàm của từng khái niệm, từ đó, là cơ sở để hoàn thiện lý
luận về công tác THQCT và KSĐT. Đồng thời, hiểu đúng các khái niệm này
cũng là cơ sở để những người làm công tác THQCT và KSĐT thực hiện đúng
đắn và hiệu quả hơn nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên thực tiễn.
Đối tượng, phạm vi THQCT và KSĐT:
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới
nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu này,
đối tượng của quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm và người
phạm tội. Đây cũng chính là đối tượng của hoạt động THQCT nói chung,
THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng.
Khác với THQCT, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
giai đoạn điều tra các vụ án hình sự hướng tới các chủ thể là cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong mối quan
hệ pháp luật tố tụng hình sự. Đối tượng của KSĐT là sự tuân thủ pháp luật
của các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (về thẩm quyền, thời hạn, thủ tục,