VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HOÀNG LY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
Mã số: 8380102
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐING NGỌC VƯỢNG
ĐĂK LĂK - 2019
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU -----------------------------------------------------------------------------------1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ
TỊCH ----------------------------------------------------------------------------------------7
1.1. Hộ tịch -------------------------------------------------------------------------------7
1.2. Quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch ------------------------------------- 10
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH Ở
HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI ------------------------------------------------- 24
2.1. Đặc điểm địa lý, kinh tế-xã hội của huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai -------- 24
2.2. Tình hình quản lý nhà nước về hộ tịch ở Huyện Đức Cơ ----------------- 25
2.3. Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước trên địa bàn huyện --------- 36
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -------------------------------------------------- 43
3.1. Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về hộ tịch ----------------- 43
1
nề nếp, đạt được những kết quả nhất định: Số trẻ em được đăng ký khai sinh đạt
tỷ lệ cao, đăng ký kết hôn đúng quy định….
Mặc dù công tác quản lý hộ tịch đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng
bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế như:
Trình độ, năng lực của một số đội
ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch (nhất là ở cấp xã) chưa đáp ứng được
yêu cầu đặt ra; hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch
chưa thực sự được quan tâm…. Do đó, hiệu quả quản lý Nhà nước về hộ tịch giảm
đi.
Là một huyện biên giới của tỉnh Gia Lai, trong những năm qua, huyện Đức
Cơ đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn
huyện.Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ, các cấp chính quyền (huyện, xã)
quản lý về hộ tịch ở Đức Cơ từng bước được thực hiện nghiêm túc đầy đủ, chính
xác.
Nghiên cứu về quản lý hộ tịch nói chung cũng như ở thực tế của huyện Đức
Cơ nói riêng là một điều cấp thiết hiện nay, nhằm làm rõ hơn nữa về cơ sở lý luận,
thực tiễn của quản lý hộ tịch, từ đó chỉ ra những nguyên nhân còn tồn tại, trên cơ
sở đó, đưa ra những đề xuất góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đức Cơ. Từ những lí do trên, tác giả
chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai”
để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài
báo, tạp chí đề cập đến hộ tịch và công tác quản lý Nhà nước về hộ tịch, có thể kể
trong thời gian qua và nêu những ưu nhược điểm của công việc , đồng thời đưa ra
3
một số quan điểm, phương hướng đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về hộ tịch. Luận văn của Bùi Thị Tư "Quản lý hộ tịch - Qua thực tiễn ở Hải
Phòng" (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) trong đó tác giả đã nói lên
thực trạng trong công tác quản lý hộ tịch, đưa ra những ưu điểm và hạn chế trong
quản lý hộ tịch ở thành phố Hải Phòng và đề xuất phương hướng, giải pháp để
nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch ở thành phố Hải Phòng. Luận văn của Nguyễn
Hữu Đính "Công tác tư pháp - hộ tịch ở cấp xã: những vấn đề lý luận và thực tiễn
ở tỉnh Bắc Giang" (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) trong đó tác giả
trình bày thực trạng công tác tư pháp - hộ tịch, phân tích ưu điểm và hạn chế trong
công tác tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và đưa ra một số giải
pháp tăng cường hiệu quả công tác tư pháp - hộ tịch.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích đầy
đủ những vấn đề liên quan đến công tác đăng ký và quản lý hộ tịch từ lý luận đến
thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong công
tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, hiện nay Luật hộ tịch 2014 có hiệu lực
thì các công trình nghiên cứu trên chưa có tính thời sự. Do đó, trên cơ sở kế thừa
các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật hộ tịch ở huyện
Đức Cơ tỉnh Gia Lai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở lý luận và thực
tiễn của quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và ở huyện Đức Cơ nói riêng. Để
từ đó đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Đức Cơ trong thời
gian qua, đưa ra những kết quả đã đạt được và hạn chế, nguyên nhân của chúng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý hành chính
nhà nước về hộ tịch; những ưu điểm, hạn chế của thực trạng quản lý nhà nước về
hộ tịch trên địa bàn huyện Đức từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đức Cơ hiện
nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để
các cấp chính quyền trong đó có chính quyền địa phương ở huyện Đức Cơ nghiên
cứu, vận dụng vào thực tế quản lý hộ tịch; là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về hộ tịch
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Đức Cơ, tỉnh
Gia Lai
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hộ
tịch ở huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH
1.1. Hộ tịch
1.1.1. Khái niệm hộ tịch
Hộ tịch là một khái niệm đã ra đời từ khi có sự quản lý của nhà nước. Qua
các giai đoạn phát triển của lịch sử cho tới ngày nay, quan điểm nghiên cứu về hộ
tịch có tính khoa học nội hàm, là một nội dung hết sức quan trọng trong quản lý
xã hội. Dưới góc độ ngôn ngữ, khái niệm “Hộ tịch” được giải thích trong nhiều
Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau dưới đây là một số cách giải nghĩa:
cùng với khái niệm “Hộ tịch” kế thừa khái niệm về hộ tịch trong Điều 1 Nghị định
158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định này thay thế cho NĐ số 83 ngày
10/10/1998) quy định: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân
thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”, Luật Hộ tịch năm 2014 ra đời quy
định: “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định
tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” (Khoản 1 Điều 2).
Điều 3 của Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện
hộ tịch gồm: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính
hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử. Ghi vào Sổ hộ tịch
việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi
con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật,
công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người
mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ghi vào Sổ hộ tịch
8
sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con;
xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt
Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Xác nhận hoặc
ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Luật Hộ tịch đã ấn định nội hàm pháp lý đối với thuật ngữ “hộ
tịch” chính là các sự kiện cơ bản xảy ra đối với mỗi cá nhân con người từ khi sinh
ra cho đến khi chết đi, các sự kiện cơ bản này cho phép xác định tình trạng nhân
thân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với sự kiện hộ tịch cụ thể. Với định
nghĩa pháp lý trên hộ tịch không còn là những phương tiện, công cụ để lưu trữ các
thông tin cá nhân của một người nữa, mà nó gắn liền với các quyền và nghĩa vụ
pháp lý tương ứng. Do vậy, hộ tịch với tư cách là sự kiện cơ bản khi xảy ra đòi hỏi
phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nguyên tắc đầy đủ,
Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Rằng pháp luật, nhà
nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt nhà nước
tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước
được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội
dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền
lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công
cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị. Nói cách khác,
quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước.
[31, tr.12]
1.2.2. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch, đăng ký hộ tịch
10
1.2.2.1. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch
Là một phần trong quản lý hành chính nhà nước về hành chính - tư pháp,
nội dung chủ yếu trong công tác quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch tập trung
vào các hoạt động: Tuyên truyền, phổ biến các quy định của nhà nước về quản lý
và đăng ký hộ tịch: thủ tục, thời hạn, giấy tờ đăng ký hộ tịch; giấy tờ, thủ tục ủy
quyền, đăng ký kết hôn, khai sinh, thủ tục nuôi con nuôi, thủ tục thay đổi hộ tịch,
xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính. Tổ chức việc đăng ký hộ tịch bảo đảm
chính xác, kịp thời, thuận lợi cho nhân dân. Kiểm tra việc thực hiện đăng ký hộ
tịch tại các cơ sở, xử lý các vi phạm về hộ tịch. Báo cáo thống kê hộ tịch, lưu trữ
hồ sơ tài liệu về hộ tịch.
Quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang
quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong xã hội hiện đại bao gồm 03 nhánh chủ yế là quyền
Ngoài ra còn có các biện pháp chế tài như xử phạt hành chính bằng tiền
trong trường hợp không thực hiện mệnh lệnh của chủ thể Nhà nước quy định.
Thứ hai, chủ thể của quản lý hành chính nhà nước về hộ là các công chức
trong bộ máy nhà nước.
Hiện nay, thì nhà nước được hiểu là có ba quyền năng : Lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Theo đó, các cơ quan hành chính nhà nước về hộ tịch thực hiện
quyền năng hành pháp. Do đó, có thể kết luận chủ thể quản lý hành chính nhà
nước về hộ tịch là các chủ thể mang quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp,
12
bao gồm các cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban nhân dân,
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, đội ngũ công chức làm công tác tư
pháp- hộ tịch.
Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính thống
nhất, được tổ chức chặt chẽ.
Trong hoạt động hành pháp để bảo đảm tính pháp, bộ máy các cơ quan hành
pháp phải được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương;
nhằm đảm bảo sự điều hành thống nhất và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các địa
phương; đồng thời phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo ra sức
mạnh tổng hợp của cả, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay
vùng miền khác nhau . Tuy nhiên , do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù
riêng về điều kiện kinh tế – xã hội , nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của
từng địa phương , tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành , bộ máy
hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cáp , trao quyền tự quyết , tạo sự
chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành
và điều hành.
Trong mỗi hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tính chấp hành và tính
những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của
pháp luật dân sự hoặc thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã
đăng ký theo quy định của pháp luật [10, Khoản 10, Điều 4].
14
Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác
định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự [10, Khoản 11, Điều
4].
Hai là, căn cứ vào bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để ghi vào sổ hộ tịch các việc: Thay đổi Quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định
lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn
trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy
tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự [10, Khoản 2, Điều 3].
Ba là, ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết
hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi
hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài [10, Khoản 3, Điều 3].
Đây là việc công dân Việt Nam đã thực hiện các việc nêu trên tại các cơ
quan có thẩm quyền ở nước ngoài, khi về nước cư trú được ghi vào Sổ hộ tịch,
nếu tại thời điểm đó các bên đáp ứng đủ điều kiện của Pháp luật Việt Nam về các
việc tương ứng.
Ví dụ: Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, Nam từ đủ 20 tuổi,
nữ từ đủ 18 tuổi thì được quyền kết hôn nếu không bị mất năng lực hành vi dân sự
và không cùng huyệt thống… trường hợp có một số nước trên thế giới cho phép
kết hôn sớm hơn quy định của pháp luật Việt Nam và công dân Việt Nam đã đăng
ký kết hôn tại các cơ quan có thẩm quyền của nước đó thì khi về nước không được
công nhận và không được ghi vào Sổ hộ tịch. Hoặc một số nước trên thế giới cho
16
Khi đăng ký khai sinh Nhà nước cấp cho người dân chứng thư pháp lý là
Giấy khai sinh. Giấy khai sinh góp phần hỗ trợ hoạt động các cơ quan nhà nước
trong việc xác định nhân thân của một người như độ tuổi, giới tính, cha mẹ….,
phục vụ cho các quan hệ khác. Ví dụ: Giấy khai sinh dùng để xác định cha và mẹ
đẻ của một cá nhân, giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc phân
chia di sản thừa kế trong trường hợp người chết không để lại di chúc, phân chia
tài sản theo pháp luật, hay Giấy khai sinh dùng để hỗ trợ cho cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc xác định tuổi của một người để áp dụng chính sách trong tố tụng
cho phù hợp…
Thứ hai, vai trò của đăng ký khai sinh đối với công dân: Đăng ký khai sinh
là quyền của mỗi người được pháp luật quốc tế ghi nhận, đồng thời cũng được ghi
nhận trong pháp luật của quốc gia. Đăng ký khai sinh có vai trò, ý nghĩa là sự ghi
nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra, thông qua
đăng ký khai sinh, cá nhân được cấp Giấy khai sinh, là cơ sở xác định nguồn gốc
các mối quan hệ nhân thân, quan hệ gia đình; là một trong những chứng cứ pháp
lý tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa Nhà nước và công dân và có giá trị
chứng minh đối với các mối quan hệ khác trong xã hội ví dụ như truy nhận cha,
mẹ con, thừa kế di sản, học tập…Đăng ký khai sinh cho một cá nhân là cơ sở đầu
tiên để cá nhân đó trở thành công dân một quốc gia, làm phát sinh quyền của mình,
công dân thực hiện được các quyền của mình được Nhà nước ghi nhận và là cơ sở
để được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Nếu cá nhân
không đăng ký khai sinh, cá nhân sẽ không hưởng được các quyền dành cho công
dân mà Nhà nước quy định, cũng như công dân sẽ không được bảo vệ khi quyền
và lợi ích bị xâm hại. Nếu không có khai sinh thì không có cơ sở chắc chắn để
17
vụ giữa các cấp, tránh sự trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ quản lý giữa các cấp.
Theo đó, thẩm quyền quản lý về hộ tịch ở cấp huyện tập trung chủ yếu vào
các hoạt động: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn, chỉ đạo, hướng
dẫn, kiểm tra về công tác đăng ký hộ tịch tại cấp xã; thực hiện việc đăng ký hộ
tịch có yếu tố nước ngoài theo phân cấp; quản lý, lưu trữ, cập nhật, khai thác Sổ,
hồ sơ hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định; Thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền;
Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của
pháp luật, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật; tổng hợp tình hình và thống kê hộ
tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ; lưu trữ Sổ hộ
tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch.
Ủy ban nhân dân cấp xã: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch
tại địa bàn xã mình; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật về hộ
tịch, quản lý, lưu trữ, bảo quản sổ sách, hồ sơ hộ tịch, đăng ký các việc hộ tịch
trong nước theo thẩm quyền; quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch
điện tử theo quy định...
1.2.5. Các yếu tố tác động đến quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch
1.2.5.1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi tất yếu, khách quan và phù
hợp với xu thế phát triển lịch sử chung của xã hội loài người, bởi nhà nước pháp
quyền là một giá trị chung của nhân loại trên con đường phát triển tiến bộ. Ở nước
ta vẫn đang tồn tại quan niệm xem nhà nước pháp quyền như là một sản phẩm của
chủ nghĩa tư bản, do đó nó là cái đã lỗi thời, không tiến bộ, trái ngược và không
thích dụng với chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như thái độ không đúng trước đây về
19
kinh tế thị trường, quan niệm sai trái như vậy về nhà nước pháp quyền đang gây
cản trở đối với tiến trình phát triển xã hội nói chung, cho việc xây dựng nhà nước
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc, các chủ thể của quá trình này. Toàn cầu
hóa mang tính tất yếu (do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của kinh tế thị
trường, của các tập đoàn xuyên quốc gia...), diễn ra với tốc độ nhanh, nhiều tầng
nấc, tác động đa chiều.
1.2.5.3. Sự phát triển khoa học và công nghệ
Những năm trước, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch thực hiện chủ yếu
bằng phương pháp thủ công, cán bộ tư pháp - hộ tịch phải trực tiếp ghi chép vào
sổ đăng ký để cấp cho công dân, nhiều trường hợp không chính xác, sai chính tả,
thiếu nội dung theo biểu mẫu quy định, gây khó khăn cho công tác quản lý hộ tịch
của UBND các cấp và ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Sau khi đưa phần
mềm hộ tịch vào áp dụng, đến nay, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã khắc
phục được những mặt yếu kém trước đây. Phần mềm có thể liên thông ở cả 3 cấp
(xã, huyện, tỉnh), đáp ứng đầy đủ nghiệp vụ quản lý hộ tịch theo Luật Hộ tịch năm
2014, như: Đăng ký kết hôn, khai sinh, khai tử; đăng ký giám hộ; cải chính hộ
tịch; cấp bản sao... Qua phần mềm, tất cả dữ liệu về hộ tịch đều được cập nhật vào
hệ thống lưu trữ nên cán bộ tư pháp - hộ tịch dễ dàng truy cập dữ liệu, tra cứu
thông tin; xác minh, xử lý về nhân thân và tình trạng công dân; giúp tiết kiệm thời
gian, công sức cho công tác kiểm tra, cấp giấy, sao lục hồ sơ. Đặc biệt, hệ thống
phần mềm còn liên thông với bộ phận một cửa để tiếp nhận hồ sơ đăng ký hộ tịch
trực tuyến.
1.2.5.4. Ý thức pháp luật
21
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan
niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp
luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về
tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như
trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội [30,
một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác thì chính cá nhân mỗi người hoặc người thân
thích tự giác đi đăng ký và đồng thời cơ quan có thẩm quyền đăng ký có tinh thần
trách nhiệm cao trong việc hướng dẫn người đi đăng ký thực hiện được chính xác
hơn.
Kết luận Chương 1
Đăng ký hộ tịch là một trong những quyền nhân thân mà Bộ luật Dân sự
năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 đã quy định cho các cá nhân, là việc cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghi vào sổ đăng ký các thông tin hộ tịch cần
thiết của cá nhân, cấp giấy tờ hộ tịch tương ứng, tạo cơ sở pháp lý để xác lập mối
quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước.
Có thể nói, Hộ tịch là một vấn đề quan trọng trong đời sống xă hội cả dưới
góc độ quản lý xã hội lẫn cá nhân. Với sự nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước
về hộ tịch đã tôn trọng quyền nhân thân của các cá nhân thực hiện việc đăng ký
hộ tịch. Hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động
quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho
mọi mối quan hệ giữa công dân với nhà nước và là một lĩnh vực hoạt động thể
hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước.
23