VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG HỮU LỘC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được sự hướng
dẫn khoa học của GS.TS Phạm Hồng Thái Những số liệu, bảng biểu phục vụ cho
việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập, xử lý là trung thực và
chưa từng được công bố trước đây. Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số
nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều
có trích dẫn và chú thích nguồn gốc. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 8 năm 2017
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND:
Uỷ ban nhân dân
TP-HT:
Tư pháp - Hộ tịch
Nxb:
Nhà xuất bản
CCHC:
Cải cách hành chính
DANH MỤC CÁC BẢNG/ BIỂU
Bảng 2.1: Chất lượng cán bộ, công chức làm công tác tư pháp huyện Ba Vì
Bảng 2.2: Kết quả đăng ký hộ tịch trên địa bàn cấp xã huyện Ba Vì
từ năm 2014 đến nay
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ sinh chia theo giới tính
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ đăng ký sinh chia theo thời gian đăng ký
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ đăng ký việc tử chia theo giới tính
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ đăng ký việc tử chia theo thời gian đăng ký
Biểu đồ 2.5: Đăng ký lại việc tử và đăng ký lại việc sinh
Biểu 2.3: Tổng hợp tình hình lưu trữ sổ hộ tịch trên địa bàn huyện Ba Vì
Bảng 2.4: Công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài từ 01/01/2016 đến hết tháng
UBND cấp huyện là nhiệm vụ mới, phức tạp đòi hỏi công chức tư pháp hộ tịch phải
có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ. Trong khi đó, đội ngũ này từ trước tới nay
hầu như rất ít khi sử dụng đến ngoại ngữ và đang phải kiêm nhiệm nhiều công việc
khác nên dễ dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc; cùng với thực tế biên chế
của phòng tư pháp có giới hạn, để đảm đương được khối lượng công việc trên là
một khó khăn, thách thức và nhiều áp lực. Không chỉ gặp khó khăn về nguồn nhân
1
lực, qua thực tiễn triển khai Luật Hộ tịch, đã xuất hiện những vướng mắc trong các
thông tư, nghị định quy định chi tiết thi hành Luật. Có thể kể đến một số vướng mắc
như: Luật Hộ tịch không quy định về việc cấp giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân
cho người đã chết. Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều giao dịch dân sự hiện nay cần
đến giấy tờ này. Hay những vướng mắc trong cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
cho người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau; về thay đổi hộ tịch... Một khó khăn
nữa khi triển khai Luật trong thực tế là kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị ở một
số đơn vị cấp huyện, cấp xã còn thiếu thốn cũng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện
nhiệm vụ. Trình độ, năng lực của đội ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch
chưa đáp ứng được yêu cầu; việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa
được quan tâm đúng mức cũng là những tồn tại vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu
giải pháp tháo gỡ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ
tịch vẫn còn hạn chế; phần mềm đăng ký hộ tịch chưa có sự thống nhất, đồng bộ
nên mục tiêu cải cách thủ tục hành chính trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
còn gặp khó khăn. Việc cấp số định danh cá nhân; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia
về dân cư để phục vụ công tác quản lý; thí điểm áp dụng Dịch vụ công mức độ ba
cũng bộc lộc nhiều bất cập với khu vực nông thôn, miền núi như Ba Vì - huyện có tỉ
lệ người dân tộc thiểu sổ cao nhất thành phố Hà Nội.
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội,
trong những năm qua, huyện Ba Vì đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà
Nxb Khoa học kỹ thuật năm 2008, khẳng định công tác tư pháp là một bộ phận của
công tác quản lý nhà nước, là nơi triển khai trên thực tế các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước về công tác tư pháp, bảo đảm sự thống nhất quản lý nhà
nước về công tác tư pháp từ trung ương đến cơ sở.
Tài liệu “Hướng dẫn nghiệp vụ tư pháp xã, phường, thị trấn” của Sở Tư pháp
thành phố Hà Nội, Nxb Tư pháp năm 2010. Tài liệu là tập hợp những nghiệp vụ
dành cho công chức Tư pháp- hộ tịch cơ sở trong quá trình thực hiện chức năng,
nhiệm vụ được nhà nước phân công. Tập tài liệu gồm: Nghiệp vụ công tác hộ tịch,
chứng thực, công tác hòa giải ở cơ sở.
Trung tâm thông tin khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội (2013), “Chuyên đề một số vấn đề lý luận và so sách pháp luật về hộ
tịch”. Chuyên đề cập đến dự án luật Hộ tịch, sự biến đổi mô hình quản lý nhà nước
về hộ tịch ở Việt Nam và đưa ra một số mô hình cơ quan quản lý hộ tịch phổ biến
trên thế giới làm đối tượng tham khảo.
Các đề tài khoa học, luận văn cao học:
Nguyễn Thị Vũ Thuỷ (2011), Quản lý nhà nước về đăng ký hộ tịch bằng công
nghệ thông tin của thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Quản lý Hành chính công,
3
Học viện hành chính Quốc gia. Luận văn đã đưa ra những căn cứ về lý luận và phân
tích thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch qua việc ứng dụng công nghệ thông tin
của thành phố Hà Nội, từ đó nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp ứng dụng
công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch.
Vũ Thị Bích Liên (2016), Quản lý nhà nước về hộ tịch tại tỉnh Vĩnh Phúc,
luận văn thạc sỹ quản lý công, Học viện hành chính. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn
tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đã phân tích thực trạng, để ra giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn
- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 (năm ban hành Luật Hộ tịch) cho đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan
điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hộ tịch, quản lý nhà nước về
hộ tịch, để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn, các phương pháp cụ thể được
sử dụng, bao gồm: phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, logic,
phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận, luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về hộ
tịch, quản lý nhà nước về hộ tịch.
6.2. Về thực tiễn, luận văn đề xuất được một số giải pháp có có tính khả thi
nhằm nâng cao chất lượng đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội. Những giải pháp này có giá trị tham khảo cho các cơ quan quản
lý có thẩm quyền trong việc ban hành và thực hiện các chính sách, chương trình
nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội nói riêng. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng về quản lý hộ tịch.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành
3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý quản lý nhà nước về hộ tịch
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch tại huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về hộ tịch
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH
Theo “Đại Nam Quốc âm tự vị” tác giả Huỳnh Tịnh Paulus được biên soạn
năm 1895 với phương pháp “tham dụng chữ Nho và lấy 24 chữ cái phương Tây làm
chữ bộ” thì trong bộ chữ “hộ chưa có từ “hộ tịch” [58]; “Hộ tịch: Quyển sổ của
Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr.
384]; “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng
người” [47, tr. 404]; “Hộ tịch: Sổ biên nhận số địa phương hoặc cả toàn quốc, trong
có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [74. Tr. 296]; “Hộ tịch:
Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã, phường” [49. Tr. 841];
“Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong
một địa phương” [50, tr. 321];
Bên cạnh những cách giải nghĩa của các từ điển Hán – Việt nói trên, một số từ
điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn. Ví dụ: “Hộ tịch: sổ của
cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [59,
tr.442]; “Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của
pháp luật” [85, tr.835]; “Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của
một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng
một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [37, tr. 385];
Như vậy, xét về góc độ ngôn ngữ, từ “hộ tịch” có nhiều cách hiểu khác nhau.
Thực tế có cả cuốn từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn khái niệm “hộ tịch”
và “hộ khẩu”, điều này phản ánh sự nhầm lẫn trong nhận thức hai khái niệm này là
khá phổ biến.
Trong các công trình khoa học cũng có những quan điểm khác nhau về
hộ tịch:
Thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo tình giảng dạy
của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, trong đó nổi lên
quan điểm của một số tác giả sau:
Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm “hộ
tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 như sau: “Hộ tịch - còn
gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong
Xem xét từ khía cạnh pháp lý, khái niệm hộ tịch được định nghĩa trong một số
tài liệu nước ngoài như sau:
Trong tiếng Anh, khái niệm “Civil Registration” được hiểu là “việc đăng ký
đúng hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong thời hạn quy định”
[88, tr. 59]. Trong tiếng Đức, khái niệm “das Personensdsregister” được hiểu là
8
“việc đăng ký công về tình trạng dân sự của mỗi cá nhân được thực hiện bởi các cơ
quan hộ tịch” [86, Tr. 1340]. Trong Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp, chế định hộ
tịch là một trong những chế định hết sức quan trọng. Tuy nhiên, luật dân sự Pháp
không đưa ra khái niệm về hộ tịch mà chỉ đưa ra khái niệm chứng thư hộ tịch.
Khái niệm “Civil Registration” được Liên hợp quốc định nghĩa trong tài liệu
“Principles and recommendation for a Vital Statistics System” xuất bản năm 2002
như sau: “Đăng ký dân sự là việc ghi nhớ liên tục đặc điểm về sự tồn tại và tình
trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật
hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia” [87. Tr. 52].
Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ “hộ tich” được sử dụng là một thuật ngữ
chuyên môn, được định nghĩa trong văn bản pháp luật. Theo đó định nghĩa về “hộ
tịch” được duy trì từ Nghị định số 83/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10-10-1998,
Nghị định 158/NĐ-CP năm 2005 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch cho đến Luật
Hộ tịch 2014, các định nghĩa này thực chất vẫn là một sự ước định. Về giá trị biểu
đạt, với cách định nghĩa như vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa cho
thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “Hộ tịch”.
Từ những trình bày nêu trên, có thể hiểu: Hộ tịch là các sự kiện dân sự xác
định về tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết được Nhà
nước đăng ký nhằm bảo đảm cá nhân có các quyền công dân, quyền lợi và lợi ích
hợp pháp khác, đồng thời cũng là cơ sở để Nhà nước bảo hộ các quyền và lời ích
này, giúp cho Nhà nước quản lý dân cư một cách chính xác để hoạch định các
chứng nhận nhân khẩu tập thể và một số việc khác. Sổ hộ khẩu gia đình được cấp
cho từng hộ gia đình để đăng ký hộ khẩu thường trú trên địa bàn trong cả nước. Khi
thay đổi chỗ ở, người dân phải thực hiện thủ tục thay đổi hộ khẩu.
+ Mục đích của đăng ký hộ khẩu là để chính quyền kiểm tra, theo dõi người
dân; sổ tạm trú khi người dân cư trú tạm thời trong thời gian ngắn ở địa phương
khác nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.
- Hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi và lưu lại
các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân từ khi sinh ra đến khi chết.
+ Các sự kiện về hộ tịch được đăng ký để nhận biết người này với người khác
trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hoặc có lý do chính đáng mới được thay
đổi, cải chính nội dung đã thực hiện đăng ký;
10
+ Giấy tờ hộ tịch do cơ quan cấp giấy tờ hộ tịch quản lý, khi đăng ký mỗi
người được cấp một loại giấy tờ hộ tịch ví dụ khi đăng ký khai sinh được cấp giấy
khai sinh…
Nội dung đăng ký hộ tịch là cơ sở để thực hiện đăng ký hộ khẩu, mục đích
quản lý hộ khẩu là để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để giúp nhà nước quản lý dân cư một
cách chính xác, xây dụng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính
sách dân số, kế hoạch hóa gia đình…
1.1.2 Đăng ký hộ tịch
Ở nước ta, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có lịch sử lâu đời từ thời phong
kiến nhà Trần và các triều đại phong kiến tiếp theo. Tuy nhiên, việc quản lý hộ tịch
được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học chỉ được bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc.
Điểm nổi bật trong hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch của thời kỳ Pháp thuộc là có
một đội ngũ hương chức chuyên làm công tác hộ tịch, gọi là Hộ lại. Hộ lại là người
nắm giữ sổ sách hộ tịch và trực tiếp đăng ký các việc hộ tịch trong địa bàn cấp xã do
vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo
hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư [65].
Nội dung đăng ký hộ tịch gồm:
1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ;
Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông
tin hộ tịch; Khai tử.
2. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con;
Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy
việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố
hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành
vi dân sự.
3. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn;
giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch;
khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài.
4. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của
pháp luật.
12
Như vậy có thể thấy, với mỗi vấn đề hộ tịch thì có các loại giấy tờ về vấn đề
đó, gọi là giấy tờ về hộ tịch. Giấy tờ về hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực
tế thân trạng của mỗi công dân.
Giấy tờ về hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Đó là cơ sở pháp
lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch. Do
tính chất quan trọng như vậy của các giấy tờ về hộ tịch cho nên pháp luật có quy
định chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, thủ tục, trình tự đăng ký và cấp các loại giấy tờ
về hộ tịch.
sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia công dân làm việc bên ngoài
lãnh thổ quốc gia.
Thứ ba, quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao;
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ
pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội;
Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn
định và phát triển của toàn xã hội.
Như vậy, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính
quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của
cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển
của xã hội.
1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch
Là một nội dung trong quản lý hành chính nhà nước về hành chính – tư pháp,
quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch tập trung chủ yếu vào các hoạt động: ban
hành hoặc trình cơ quan quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt
động hộ tịch; phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch; quản lý hệ thống tổ chức và
hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động hộ tịch; đào tạo, bồi dưỡng,
hướng dẫn nghiệp vụ về đăng ký hộ tịch, kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi
phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng ký hộ tịch; đảm bảo kinh
phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho một số hoạt động hộ tịch; tổng kết hoạt động hộ
tịch; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động đăng ký hộ tịch.
Quản lý nhà nước đối với hộ tịch ở nước ta có nhưng đặc điểm sau đây:
14
Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang tính
Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện
kinh tế, xã hội nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng dịa phương, tạo
sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý hộ còn được tổ chức
theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính
quyền địa phương.
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành và điều hành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện
trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục
đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản
lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, trên cơ sở quy định pháp luật
nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc
chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Trong quá
trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn
cả là chúng đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan,
đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên
quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên
trong quan hệ quản lý.
Thứ năm, quản lý nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang tính liên tục,
kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội.
Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy
định về tổ chức và hoạt động, quy chế làm việc của công chức trong bộ máy
quản lý nhà nước về hộ tịch; tạo sự gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội
ngũ công chức làm công tác hộ tịch năng động, sáng tạo dám chịu trạch nhiệm
đối với hoạt động của mình.
Như vậy, có thể hiểu quản lý hành nước về hộ tịch là một hình thức hoạt động
của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan
hành chính nhà nước, người có thẩm quyền) thực hiện trên cơ sở pháp luật và đảm
pháp, do vậy chủ thể quản lý cao nhất trong lĩnh vực hoạt động này đó là Chính phủ
- cơ quan hành chính cao nhất của nước ta. Nhiệm vụ quyền hạn của chính phủ
trong quản lý hộ tịch được quy định tại Khoản 3 Điều 6 Luật Tổ chức Chính phủ năm
2015: “Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục hiến pháp và
pháp luật; đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực và các nguồn lực khác để thi
hành hiến pháp và pháp luật; thống nhất quản lý hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp,
bồi thường nhà nước thi hành án” .
Luật Hộ tịch ra đời và có hiệu lực đã thực hiện sự phân cấp mạnh mẽ theo
hướng chuyển giao một số loại việc trước đây thuộc thẩm quyền đăng ký hộ tịch
18
của UBND cấp tỉnh, Sở tư pháp cho UBND cấp huyện và UBND cấp xã. Thẩm
quyền quản lý hộ tịch gồm: Chính phủ; bộ Tư pháp, bộ Ngoại giao, bộ Công an; ủy
ban nhân dân (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã).
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 71 Luật Hộ tịch năm 2014: “UBND cấp xã
thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn:
thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch. Căn cứ quy định của
UBND cấp trên, bố trí công chức TP-HT thực hiện việc đăng ký hộ tịch. Tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch; quản lý, sử dụng sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch
theo quy định; quản lý, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản
sao trích lục hộ tịch theo quy định. Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo
UBND cấp huyện theo quy định của chính phủ; lưu trữ sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ
tịch. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền”.
Luật cũng quy định rõ tiêu chuẩn công chức làm công tác hộ tịch – đối tượng
được trao quyền thực hiện công tác quản lý nhà nước về hộ tịch: công chức TP-HT
phải có trình độ từ trung cấp luật trở lên, được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch và có
trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc.
1.2.4.2 Chủ thể thực hiện đăng ký hộ tịch
Tất cả các đặc điểm nhân thân của cá nhân nói trên đều là đối tượng quản lý
của hoạt động quản lý nhà nước về căn cước của cá nhân. Trong đó, hoạt động quản
lý hộ tịch giới hạn phạm vi quản lý trong các nhóm đặc điểm nhân thân có các thuộc
tính sau: Tính ổn định cao; Tính công khai; Có khả năng phổ biến thông tin.
Nhìn từ góc độ quản lý thì vi phạm quản lý hộ tịch không chỉ giới hạn trong
đối tượng công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không
quốc tịch. Phạm vi quản lý đó được thực hiện thông qua các nội dung quản lý đã
được nêu trong Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014, bao gồm:
- Quản lý các sự kiện sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; nhận cha, mẹ, con,
giám hộ;
- Quản lý việc thay đổi hộ tịch; cải chính hộ tịch; bổ sung hộ tịch điều chỉnh
hộ tịch; bổ sung hộ tịch điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân
tộc;
- Quản lý sự thay đổi các đặc điểm nhân thân do các sự kiện ly hôn; xác định
cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; chấm dứt nuôi con nuôi.
20