1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú là bệnh ung th ư ph ổ bi ến nh ất ở ph ụ n ữ nhi ều n ước
trên thế giới và là nguyên nhân gây t ử vong hàng đ ầu trong s ố các
nguyên nhân gây t ử vong do ung th ư ở n ữ. Theo GLOBOCAN năm 2012,
thế giới có khoảng 1670000 ca UTV m ới m ắc, chi ếm 25% t ổng s ố ca
ung thư và có 522000 ca t ử vong, đ ứng th ứ 5 trong s ố t ử vong do ung
thư [1]. Theo ghi nhận tại Vi ệt Nam năm 2010 có 12.533 tr ường h ợp
mới mắc UTV với tỷ lệ mắc chuẩn theo tu ổi là 29,9/100.000 dân [2].
Điều trị ung thư vú là sự phối hợp điển hình giữa các ph ương pháp
điều trị tại chỗ, tại vùng (phẫu thuật, tia xạ) và toàn thân (hóa tr ị, n ội
tiết, miễn dịch). Với quan điểm UTV là một bệnh lý toàn thân, các
phương pháp điều trị hệ thống ngày càng đóng vai trò quan tr ọng. Điều
trị hoá chất bổ trợ trước hay còn gọi là hoá ch ất tân bổ tr ợ là ph ương
pháp sử dụng hoá chất trước mổ để làm giảm lượng tế bào u tại ch ỗ, tại
vùng tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật. Hóa chất bổ trợ trước
mang lại hiệu quả tương đương về sống thêm khi so sánh v ới hóa ch ất
bổ trợ sau [3]. Đồng thời hóa chất bổ trợ trước có một số mặt l ợi th ế
hơn so với điều trị bổ trợ sau như chuyển giai đoạn từ không th ể ph ẫu
thuật được thành phẫu thuật được, tăng tỷ lệ BN được ph ẫu thuật bảo
tồn, theo dõi được đáp ứng của khối u. Đối với hóa ch ất tân b ổ tr ợ, các
bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học (pCR) cải thiện cả v ề
sống thêm không bệnh (DFS) và sống thêm toàn bộ (OS), vì th ế pCR là
một yếu tố quan trọng để tiên lượng cũng như so sánh hiệu quả c ủa các
phác đồ hóa chất.
2
gây tử vong thứ hai sau ung thư phổi ở phụ nữ trên toàn th ế gi ới. Theo
GLOBOCAN 2012, hàng năm trên thế giới có khoảng 1,7 tri ệu ca m ới
mắc (25% tất cả các ung thư ở nữ). Tỷ lệ mắc UTV có sự khác biệt nhau
theo các vùng địa lý khác nhau trên toàn thế gi ới. T ỷ lệ mắc UTV thấp
nhất ở Trung Phi với 26,8/100.000 dân, trong khi đó ở Bắc Mỹ t ỷ l ệ này
là cao nhất với 91,6/100.000 dân [1].
Tại Việt Nam, theo số liệu ghi nhận của GLOBOCAN 2012, trong số
các bệnh ung thư ở nữ giới, tỷ mắc mới của ung thư vú là cao nh ất v ới
23/100.000 dân và tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ 3 với 9,9/100.000 dân
sau ung thư phổi và ung thư gan [1]. Trong khi đó, theo số liệu của 6
trung tâm ghi nhận ung thư (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Huế, TP.
Hồ Chí Minh và Cần Thơ) trong giai đoạn 2004 – 2008: ung th ư vú đ ứng
đầu ở nữ giới tại tất cả các vùng ghi nhận, ở Hà Nội có t ỷ l ệ m ới m ắc
cao nhất 39,4/100.000; TP. Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 26/100.00; C ần Th ơ
là 22,6/100.000; Thừa Thiên Huế: 20,7/100.000; ở Hải Phòng là
16,1/100.000; và Thái Nguyên tỷ lệ mới mắc là 14,5/100.000 dâ n [10].
4
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ mắc và chết của ung thư vú (tính trên 100.000 phụ n ữ)
tại các khu vực trên thế giới (Nguồn GLOBOCAN 2012) [1]
Nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán sớm và trong điều trị, đặc biệt
là điều trị hệ thống, tỷ lệ mắc tăng nhưng tử vong vẫn giữ được ở m ức
độ ổn định. Tuy nhiên, UTV vẫn đứng thứ 5 trong các nguyên nhân tử
vong chung, và đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong do ung th ư
ở phụ nữ tại cả các nước phát triển và các nước đang phát triển [1].
5
dính tổ chức xung quanh, di động hạn chế.
-
Có thể khám thấy hạch thượng đòn.
-
Biểu hiện ung thư vú giai đoạn muộn: tại chỗ có thể xâm lấn gây l ở loét,
hoại tử ra ngoài da gây chảy dịch, mùi hôi thối, xâm lấn thành ng ực gây
đau nhiều. Có thể di căn xa như xương, não, phổi, gan... Bệnh nhân có th ể
gây gầy sút mệt mỏi, đau nhiều.
1.2.2. Cận lâm sàng
Chẩn đoán hình ảnh
- Chụp X quang tuyến vú (mammography)
+ Đây là phương pháp hữu hiệu với độ chính xác t ừ 80-90%. C ần
chụp cả vú đối bên để phát hiện các tổn thương nếu có.
6
+ Các hình ảnh ung thư vú trên phim: đám m ờ bờ không đều v ới
đuôi sao, co kéo tổ chức xung quanh, vi lắng đọng canxi.
-
Chụp X quang ngực: phát hiện di căn phổi, màng ph ổi.
-
Chụp cộng hưởng từ tuyến vú (MRI): được chỉ định trong các trường
- Sinh thiết là một phương pháp quan trọng giúp chẩn đoán mô bệnh
học.
- Có thể sử dụng sinh thiết kim có hoặc không có hướng dẫn siêu âm,
có thể sinh thiết mở lấy khối u hoặc có thể mổ lấy khối u làm sinh thiết tức
thì.
Các xét nghiệm khác:
7
- Chất chỉ điểm u CA 153 và CEA: có giá trị trong theo dõi diễn bi ến
bệnh trong và sau điều trị.
- Phản ứng lai tại chỗ huỳnh quang (fluorescene in situ
hybridization- FISH) xác định khuyếch đại gen HER-2/neu n ếu c ơ s ở có
điều kiện. Được chỉ định khi nhuộm hóa mô miễn dich kết quả HER2/neu (++). Nếu FISH (+) thì khẳng định có bộc lộ quá m ức HER-2/neu.
- Các xét nghiệm thường quy đánh giá bilan toàn thân trước điều
trị.
1.2.3. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán ung thư vú dựa trên 3 phương pháp kinh đi ển có tính
chất định hướng, đó là:
-
Lâm sàng
-
Tế bào học
-
T1b: 0,5 cm < U có đường kính ≤ 1 cm.
T1c: 1 cm < U có đường kính ≤ 2 cm.
T2: 2 < đường kính u ≤ 5 cm.
T3: U có đường kính > 5 cm.
T4: U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực
hoặc da (thành ngực bao gồm xương sườn, cơ liên s ườn, c ơ răng tr ước
không tính cơ ngực lớn).
T4a: U xâm lấn tới thành ngực.
T4b: Thâm nhiễm sần da cam, loét da vú hoặc có nhiều u nh ỏ d ạng
vệ tinh ở vú cùng bên.
T4c: Bao gồm cả T4a và T4b
T4d: Ung thư vú dạng viêm.
N (Hạch vùng theo lâm sàng)
Nx: Không xác định được hạch vùng.
N0: Không di căn hạch vùng.
N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.
9
N2 : Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau ho ặc
dính vào mô xung quanh hoặc lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên
nhưng không có di căn hạch nách.
N2a: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc
dính vào mô xung quanh.
N2b: Lâm sàng có di căn h ạch vú trong cùng bên nh ưng không có
di căn hạch nách.
N3: Di căn h ạch h ạ đòn hoặc di căn h ạch nách cùng v ới h ạch vú
trong cùng bên hoặc di căn h ạch th ượng đòn.
N3a: Di căn hạch hạ đòn.
pN1c: Di căn tới 1-3 hạch nách cùng bên và di căn vi th ể hoặc đ ại th ể
hạch vú trong phát hiện thông qua phẫu tích h ạch c ửa song không bi ểu
hiện rõ trên lâm sàng.
pN2: Di căn 4-9 hạch nách hoặc di căn hạch vú trong bi ểu hi ện rõ trên
lâm sàng nhưng không có di căn hạch nách.
pN2a: Di căn 4-9 hạch nách.
pN2b: Lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nh ưng không có di căn
hạch nách.
pN3: Di căn ≥ 10 hạch nách hoặc di căn hạch dưới đòn hoặc h ạch vú
trong cùng bên rõ trên lâm sàng đi kèm 1 hay nhiều h ạch nách d ương
tính hoặc di căn >3 hạch nách và di căn hạch vú trong vi thể hoặc đại thể
qua sinh thiết hạch cửa không biểu hiện rõ trên lâm sàng hoặc di căn hạch
thượng đòn cùng bên.
pN3a: Di căn ≥ 10 hạch nách (ít nhất 1 hạch >2mm) hoặc di căn h ạch h ạ
đòn.
pN3b: Di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng đi kèm 1 hay nhi ều
hạch nách dương tính hoặc di căn >3 hạch nách và di căn h ạch vú trong
vi thể hoặc đại thể qua sinh thiết hạch cửa không biểu hiện rõ trên lâm
sàng.
pN3: Di căn hạch thượng đòn cùng bên
Bảng 1.1. Phân loại giai đoạn theo TNM
Giai đoạn
U
Hạch vùng
Di căn xa
T3
N2
T4
No
IIIb
T4
N1
T4
N2
IIIc
Bất kì T
N3
IV
Bất kì T
Bất Kì N
1.2.6. Chẩn đoán mô bệnh học, hóa mô miễn dịch
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Mo
Nhóm Luminal A
- Her-2 âm tính
- Ki67 ≤ 14%
- Yếu tố nguy cơ thấp dựa trên xét
nghiệm bộc lộ gen (nếu làm được)
ER dương tính và có ít nhất một trong
các tiêu chuẩn:
Her-2 âm
tính
Nhóm Luminal B
- Ki67 cao > 14%
- PR âm tính hoặc dương tính dưới 20%
- Yếu tố nguy cơ cao dựa trên xét
Her-2
nghiệm bộc lộ gen (nếu làm được)
- ER dương tính
dương
- Ki67 bất kỳ
tính
Nhóm Her-2 dương tính
Nhóm basal-like (dạng
Fisher (1928) và F. Keynes (1938) là những tác giả đầu tiên đề xuất
xạ trị trong UTV. Đây là phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng đóng vai
trò quan trọng trong việc phòng ngừa tái phát tại chỗ.
Chỉ định xạ trị trong UTV [15]:
- Sau phẫu thuật bảo tồn.
- Diện cắt sau mổ dương tính.
- Khối u từ giai đoạn T3 trở lên.
- Từ 3 hạch di căn trở lên hoặc hạch có hiện tượng phá v ỡ v ỏ.
- Xạ trị triệu chứng: chống đau, chống chảy máu.
1.3.3. Điều trị toàn thân
14
Ban đầu điều trị toàn thân được áp dụng đối với các trường h ợp
bệnh di căn mà điều trị tại chỗ không còn khả năng kiểm soát. Sau này
nhiều nghiên cứu đã cho thấy các ổ vi di căn tồn tại ngay cả UTV giai
đoạn sớm. Do vậy hiện nay điều trị toàn thân được áp d ụng cho h ầu h ết
các giai đoạn.
1.3.3.1. Điều trị hóa chất
Sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính
trong cơ thể người bệnh. Hóa chất có thể được sử dụng theo những cách
sau:
- Hóa chất bổ tr ợ sau ph ẫu thu ật: giúp tiêu di ệt các vi di căn còn
tồn tại trên cơ thể bệnh nhân, làm gi ảm nguy c ơ tái phát, di căn sau
này, giúp tăng tỉ lệ sống thêm toàn b ộ và s ống thêm không b ệnh cho
bệnh nhân UTV.
- Hóa chất trong ung th ư vú di căn: gi ảm l ượng t ế bào u trên c ơ
thể bệnh nhân, giảm kích th ước các t ổn th ương, do đó làm ch ậm quá
trình tiến triển của bệnh. Hóa ch ất giai đo ạn này v ới m ục đích đi ều
dụng rộng rãi trong điều trị bổ tr ợ UTV giai đoạn s ớm sau ph ẫu thu ật
hoặc điều trị giai đoạn di căn ở bệnh nhân có Her-2 d ương tính làm
tăng thời gian sống thêm không bệnh và s ống thêm toàn b ộ [17], [18].
1.4. Hóa trị bổ trợ trước phẫu thuật trong ung th ư vú
1.4.1 Ưu và nhược điểm của hóa chất bổ trợ trước
Điều trị hóa chất bổ trợ trước có cả ưu điểm và nhược điểm, được
trình bày trong bảng 1.2. Nhiều nghiên cứu đã ch ứng minh hóa ch ất b ổ
trợ trước hay sau phẫu thuật không làm tăng biến ch ứng hay tác d ụng
không mong muốn của phác đồ, đặc biệt thời gian sống thêm toàn bộ
không khác biệt [8][19] [20].
Bảng 1.3. Các ưu nhược điểm của hóa chất bổ trợ trước
Ưu điểm
Nhược điểm
16
Bắt đầu điều trị hệ thống sớm
Làm chậm điều trị tại chỗ với
Ngăn hiện tượng bùng phát bệnh những người không đáp ứng
sau phẫu thuật
Sinh ra hiện tượng kháng thuốc
Đưa hóa chất tới u, hạch qua hệ Phải dùng hóa chất cho một khối
thống mạch còn nguyên vẹn
Các hệ thống phân loại đáp ứng mô bệnh học
Hiện nay tổn tại nhiều hệ thống đánh giá đáp ứng mô bệnh học
trong điều trị tân bổ trợ UTV với các định nghĩa khác nhau v ề đáp ứng
hoàn toàn về mô bệnh học (pCR).
- Các phân loại đáp ứng mô bệnh học chỉ dựa trên mô vú
GEPARDUO và hiệp hội ung thư vú Nhật Bản định nghĩa pCR là hoàn
toàn không còn tổ chức ung thư trên bệnh phẩm vú sau phẫu thuật [23],
[24] . Trong nghiên cứu NSABP B18, pCR được định nghĩa là không còn t ổ
chức ung thư xâm nhập trong mô vú, nếu còn ung th ư tại chỗ v ẫn đ ược
coi là đạt được pCR, tuy nhiên trong nghiên cứu này ch ỉ xét pCR sau khi
đã đạt đáp ứng hoàn toàn trên lâm sàng [25]. Trong khi đó hệ thống
đánh giá đáp ứng mô bệnh học Miller and Payne được sử d ụng trong
nghiên cứu Aberdeen tách riêng đáp ứng trên mô vú và mô hạch, định
nghĩa pCR là không còn tổ chức ung thư xâm nhập tại v ị trí u nguyên
phát [26]. Rouzier và cs định nghĩa pCR là không còn tổ ch ức u xâm nh ập
hoặc số lượng tế bào ung thư xâm nhập còn lại dưới 5% kh ối u và không
có tế bào u đang phân chia. Trong phân loại này ung th ư tại chỗ đ ược
phân loại riêng thành một nhóm khác [27].
- Các phân loại đáp ứng mô bệnh học dựa trên cả mô vú và h ạch
Định nghĩa về pCR trên cả mô vú và hạch được Feldman và cs đ ưa ra
đầu tiên, là khi không còn bằng chứng trên đại th ể của bệnh ph ẩm sau
khi cắt toàn bộ tuyến vú [28]. Sau đó, Honkoop và cs đưa ra định nghĩa
pCR khác là không còn tổ chứng ung thư tồn dư sau đi ều tr ị trên c ả mô
18
vú và hạch [29]. Hệ thống phân loại của Chevallier và cs phân thành 4
19
Trong khi nhóm UTV grade 3, pCR cải thiện cả DFS (HR= 0,27; 95% CI:
0,14-0,5) và OS (HR= 0,29; 95% CI:0,13-0,65).
- Nhóm Her2 dương tính
Điều trị kháng Her2 kết hợp hóa chất giúp tăng đáng kể tỷ lệ BN
đạt pCR. Với nhóm BN Her2 dương tính, các nghiên c ứu kh ẳng đ ịnh vai
trò pCR trong tiên lượng sống thêm với giá trị p dao đ ộng t ừ 0,01 t ới
0,001 [35], [36], [37]. Phân tích dưới nhóm BN Her2 dương tính, Von
Minckwitz và cs cho thấy pCR có giá trị dự báo cải thiện DFS và OS trong
nhóm HR(-) [35]; trong khi với nhóm HR(+), pCR không có giá trị tiên
lượng sống thêm. Những nghiên cứu gần đây nh ư NeoALTTO, CTNeoBC
cũng cho kết quả tương tự [31] [38].
- Nhóm bộ ba âm tính
Trong tất cả nghiên cứu, pCR có giá trị tiên lượng rõ ràng về cải thiện
sống thêm với nhóm bộ ba âm tính. Nghiên cứu của Cortazar và cs, đánh giá
trên những BN UTV bộ ba âm tính, đạt được pCR giúp giảm 76% nguy cơ
bệnh tái phát và giảm 94% nguy cơ tử vong [31]. Trong nghiên cứu của
Liedtke, nhóm bệnh nhân còn tổn thương tồn dư sau điều trị (không đạt
pCR), tiên lượng xấu nhất ở nhóm bệnh nhân UTV có bộ ba âm tính; ngược
lại, trong nhóm đạt được pCR, tiên lượng tốt nhất ở nhóm UTV bộ ba âm
tính [39].
1.4.3. Các nghiên cứu về hóa trị bổ trợ trước trong ung thư vú
Các thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về hóa trị bổ trợ trước được bắt
đầu từ những năm 1970. Trước thời điểm đó các bệnh nhân UTV không
mổ được do bệnh tiến triển tại chỗ được điều trị bằng tia xạ và p hẫu
thuật mặc dù kiểm soát tại chỗ, tại vùng có thể đạt được nhưng hầu hết
đều thất bại do di căn. Năm 1978, De Lena và CS tiến hành nghiên cứu
trên 110 bệnh nhân UTV giai đoạn T3b-T4, sử dụng phác đồ AV
21
đáp ứng ở nhóm phối hợp taxan có xu hướng cao hơn, đáp ứng toàn bộ là
72% so với 64%, ĐƯHT trên lâm sàng là 11% so với 9 m ặc dù p ch ưa có
ý nghĩa thống kê, p = 0,11 [42]. Năm 2002, Smith và CS tiến hành nghiên
cứu pha III trên 162 bệnh nhân UTV giai đoạn tiến tri ển t ại ch ỗ đ ược
điều trị 4 đợt hóa trị CVAP (Cyclophosphamid- Vincristin- AdriamycinPrednisolone), đánh giá đáp ứng lâm sàng sau 4 đ ợt. Nh ững b ệnh nhân
không đáp ứng 4 đợt CVAP được điều trị tiếp 4 đợt docetaxel, nh ững
bệnh nhân đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn sau 4 đợt CVAP đ ược chia
ngẫu nhiên thành 2 nhóm, một nhóm tiếp tục điều trị 4 đ ợt CVAP, m ột
nhóm điều trị 4 đợt docetaxel. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm điều
trị 4 CVAP- 4 Docetaxel cho tỷ lệ đáp ứng toàn bộ trên lâm sàng cao h ơn
nhóm điều trị 8 CVAP, 94% so với 66%, sự khác biệt có ý nghĩa th ống kê
p=0,001, ĐƯHT trên mô bệnh học cũng cao hơn ở nhóm điều tr ị v ới
docetaxel, 34% so với 16% và sự khác biệt cũng có ý nghĩa th ống kê v ới
p= 0,04 [43].
1.4.4 Hóa trị bổ trợ trước liều dày trong ung thư vú
1.4.4.1 Khái niệm hóa trị liều dày
Hóa trị liều dày (hay hóa trị liều mau) là điều trị phác đồ hóa ch ất
với chu kì rút ngắn hơn so với chu kì tiêu chuẩn (th ường là 3 tu ần) v ới
liều hóa chất vẫn giữ nguyên trong mỗi chu kì.
1.4.4.2 Cơ sở lý thuyết về hóa trị liều dày
Các nghiên cứu in vivo cho thấy giảm liều hóa chất sẽ giảm số
lượng tế bào ung thư bị tiêu diệt. Trong thực hành lâm sàng, n ếu gi ảm
liều hóa chất có thể ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị [44]. Ngược lại,
nếu tăng liều hoặc rút ngắn thời gian giữa các chu kì hóa ch ất (hóa tr ị
liều dày) có thể làm các tế bào khối u không đủ thời gian để phân chia và
phát triển trở lại dẫn đến tăng hiệu quả điều trị trên lâm sàng.
bổ trợ, tân bổ trợ liều dày trên bệnh nhân ung thư vú.
Nghiên cứu AGO-1 là một nghiên cứu pha III đánh giá hiệu qu ả c ủa
hóa trị liều dày bổ trợ trước trên bệnh nhân ung th ư vú giai đoạn sớm,
bao gồm 668 bệnh nhân được tuyển chọn từ năm 1998 tới 2002 [50].
Trong nghiên cứu này hiệu quả của phác đồ EP (epirubicin và paclitaxel)
chu kì 2 tuần được so sánh với phác đồ kinh điển 3 tuần. Nhóm BN đi ều
trị liều dày được tiêm dự phòng hạ bạch cầu với filgrastim 5mg/kg t ừ
ngày 3 tới ngày 10 của mỗi chu kì hóa chất. Sau ph ẫu thu ật, t ất c ả BN
được điều trị thêm 3 chu kì CMF. Tỷ lệ đạt được pCR (ypT0/isNx) cao
hơn trong nhóm điều trị EP chu kì 2 tuần (18% so với 10%, p=0,008).
Theo dõi trong 55 tháng, tỷ lệ đạt pCR trong nhóm điều tr ị phác đ ồ li ều
dày giúp tăng DFS (70% so với 59% tại th ời đi ểm 5 năm, HR= 0,71;
95%CI: 0,54-0,92;p=0,011) và OS ( 83% so với 77% tại th ời đi ểm 5 năm,
HR=0,83; 95%CI 0,69-0,99;p=0,041). Nhóm BN điều trị li ều dày có t ỷ l ệ
độc tính ngoài hệ tạo huyết cao hơn, tuy nhiên tỷ lệ h ạ bạch c ầu trung
tính và nhiễm trùng tương tự nhau ở hai nhóm. Nghiên cứu này đã đ ưa ra
bằng chứng về hiệu quả điều trị hóa chất liều dày bổ tr ợ trước cho BN
ung thư vú.
Nghiên cứu GeparDuo là một nghiên cứu pha III, phân nhóm ngẫu
nhiên, đa trung tâm tuyển chọn BN từ tháng 6 năm 1999 tới tháng 12
năm 2001 với 913 bệnh nhân ung thư vú không th ể ph ẫu thuật ngay t ừ
đầu. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào 2 nhánh, một nhánh điều trị
24
với 4 chu kì phác đồ ADOC mỗi 14 ngày (doxorubicin và docetaxel), một
nhánh điều trị với phác đồ 4AC-4DOC chu kì 3 tuần (4 chu kì doxorubicin,
cyclophosphamide theo sau bằng 4 chu kì docetxel). Kết quả của nghiên
cứu đã không chứng minh ưu thế của hóa trị liều dày phác đồ ADOC so với
BN dung nạp tốt hơn với paclitaxel hàng tuần.
96 BN được tuyển chọn từ năm 2000 t ới năm 2002 trong nghiên
cứu của Walker và cs [55]. Các BN phân ngẫu nhiên điều trị với
docetaxel chu kì 7 ngày hoặc docetaxel chu kì 3 tu ần. C ả hai nhánh đi ều
trị đều cho tỷ lệ pCR gần tương đương (20% với nhóm hàng tu ần, 27%
trong nhóm 3 tuần, p=0,43) tuy nhiên độc tính tăng hơn ở nhóm BN đi ều
trị docetaxel 3 tuần (p=0,008).
Nghiên cứu SWOG 0012 đánh giá hiệu quả khi thay đổi chu kì đi ều
trị của anthracycline [56].BN phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn được phân
vào hai nhóm: doxorubicin (60mg/m2) mỗi 3 tuần trong 5 chu kì và
doxorubicin (24mg/m2) hàng tuần trong 12 tuần; nhóm điều trị hàng
tuần được tiêm dự phòng hạ bạch cầu G-CSF. Tất cả BN đ ược đi ều tr ị
tiếp bằng paclitaxel hàng tuần trong 12 tuần trước khi ph ẫu thuật. K ết
quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ pCR không khác biệt giữa hai nhóm
(p=0,42). Tương tự, DFS và OS cũng không khác biệt gi ữa hai phác đ ồ
(tương ứng p=0,37 và p=0,87).
Các nghiên cứu về phác đồ hóa chất liều dày đang được tích c ực
tiến hành để tìm ra được phác đồ điều trị hiệu quả cho BN UTV đ ồng
thời với giảm tối đa độc tính trên bệnh nhân.
1.5. Các thuốc dùng trong nghiên cứu
1.5.1. Doxorubicin
Sindroxocin hàm lượng 50mg, 10mg. Nhà sản xuất: Actavis, Roumania