MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
3. Sử dụng thí nghiệm đối chứng ở một số bài trong chương trình
hóa học THCS
a. Thí nghiệm thực hành thứ nhất
b. Thí nghiệm thực hành thứ hai
4. Nội dung thực hiện thí nghiệm thực hành cụ thể với bài: Thực
hành số 6. Tính chất hóa học của nước
4.1. Mục tiêu của bài học
4.2. Phương pháp
4.3. Khởi động
4.4. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
*. Thí nghiệm phản ứng với nát ri (Na)
*Thí nghiệm phản ứng can xi ôxít ( CaO) và điphopentaoxit
* Thí nghiệm 3: Nước tác dụng với điphotpho pentaoxit
e. Hướng dẫn viết bài thu hoạch theo mẫu
g. Kết quả thực hiện
PHẦN III. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1. Kiến nghị
2. Kết luận
Trang
1
3
3
3
3
4
4
4
4
4
20
2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khoa học tự nhiên luôn đề cao và coi trọng kết quả thực nghiệm. Trong quá
trình dạy học hóa học thí nghiệm hóa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy,
có thể nói thí nghiệm là cơ sở của việc học hóa học và rèn luyện kĩ năng thực hành.
Theo quan điểm của triết học Mac - Lênin khẳng định “ Mọi lý thuyết chỉ là màu
xám chỉ có cây đời mãi xanh tươi ”. Hóa học là rèn luyện kĩ năng thực hành, ngoài
ra còn góp phần quan trọng tạo hứng thú học tập cho học sinh. Vì vậy xu hướng
chung của việc đổi mới chương trình dạy - học bộ môn hóa học ở trong nước và
Thế giới là tăng tỉ lệ giờ cho thí nghiệm và nâng cao chất lượng.
Sử dụng thí nghiệm thực hành thường là giáo viên làm thí nghiệm hoặc
hướng dẫn thí nghiệm cho học sinh làm, hướng dẫn cho học sinh quan sát các hiện
tượng xảy ra, dẫn dắt để học sinh phát hiện những kiến thức cần lĩnh hội. Tuy vậy,
để sử dụng thí nghiệm thực hành có hiệu quả, còn phụ thuộc vào nội dung bài học,
tính chất của vấn đề cần nghiên cứu. Trong quá trình dạy học tôi đã kết hợp với các
phương pháp dạy học khác như thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm chứng minh, học
sinh quan sát đồ dùng dạy học (tranh ảnh, mẫu vật...) đàm thoại... kết quả cho thấy
số học sinh làm việc tích cực, chủ động nhiều hơn. Giáo viên có điều kiện để rèn
luyện kỹ năng hoá học cho học sinh. Đặc biệt là kỹ năng tư duy logic, phán đoán
hiện tượng và giải thích các hiện tượng sâu sắc hơn. Qua đó hiệu quả giờ dạy cao,
học sinh rất hứng thú khi học hoá học.
Với những ưu điểm và hiệu quả đạt được khi sử dụng thí nghiệm thực hành
trong dạy học. Vì vậy tôi xin mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm:
Sử dụng thí nghiệm thực hành trong giảng dạy hóa học 8 vào bài "Thực
- Thí nghiệm của học sinh:
- Thí nghiệm nghiên cứu bài mới.
- Thí nghiệm thực hành
- Thí nghiệm luyện tập trong quá trình vận dụng những kiến thức mới lĩnh
hội.
- Thí nghiệm ngoại khoá: các thí nghiệm ở nhà, vườn trường, hay trong các
buổi chuyên đề vui hoá học...
5
II. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH TRONG
TRƯỜNG THCS VÀ HÓA HỌC LỚP 8
1. Thuận lợi
Trường ở địa bàn nông thôn vùng đông bằng, học sinh có truyền thống hiếu
học, chăm chỉ nên đa số các em chăm chỉ, thích học.
Là giáo viên đã qua thực tế nhiều năm công tác giảng dạy bộ môn. Tham gia
đầy đủ các lớp tập huấn về đổi mới, dạy học, sử dụng thiết bị thí nghiệm. Bên cạnh
đó tôi được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường và các đồng nghiệp tạo điều kiện
trau dồi nghiệp vụ, sinh hoạt chuyên môn.
Nhà trường đã có phòng học bộ môn nên các giờ học có thí nghiệm thực hành
được tiến hành thường xuyên.
2. Khó khăn
- Học sinh: mới bắt đầu làm quen với thí nghiệm hoá học nên còn bỡ ngỡ, lúng
túng, các thao tác chưa chính xác, chưa biết cách quan sát hoặc sợ làm thí nghiệm,
mất nhiều thời gian hướng dẫn. Một số học sinh còn lơ là gây mất trật tự trong giờ
học. Học lực của học sinh ở các lớp cuối đa số là trung bình yếu, nên quá trình
nhận thức của các em rất chậm.
- Bộ thiết bị thí nghiệm môn hoá được trang bị từ lâu, đến nay một số dụng, hoá
chất đã hư hỏng và đã hết, chưa được bổ sung .
dục của quá trình dạy học. Thông qua thí nghiệm học sinh nắm vững kiến thức một
cách vững chắc và sâu sắc hơn. Thí nghiệm hóa học được sử dụng với tư cách là
nguồn gốc, là xuất xứ của kiến thức để dẫn lí thuyết, hoặc với tư cách kiểm tra lí
thuyết. Thí nghiệm hóa học còn có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới
quan duy vật biện chứng và cũng cố niềm tin khoa học của học sinh, giúp hình
thành cho học sinh những đức tính tốt: thận trọng, ngăn nắp, trật tự, gọn gàng. Sử
dụng thí nghiệm được coi là phương pháp tích cực gây hứng thú, có hiệu quả nhất
vì khi thí nghiệm học sinh được khắc sâu kiến thức một cách nhanh nhất.
Trong các tiết dạy có sử dụng thí nghiệm thì không nhất thiết giáo viên phải
tự tay làm, để từ đó tạo nên sự hứng thú cho HS. Những thí nghiệm thực hiện theo
hướng chứng minh cho lời giảng của giáo viên là ít tích cực hơn là những thí
nghiệm được thực hiện theo hướng nghiên cứu từ phía HS.
-Mức 1: (ít tích cực) GV hoặc 1 HS thực hiện thí nghiệm biểu diễn.HS quan
sát thí nghiệm nhưng chỉ để chứng minh cho phản ứng đã xảy ra hoặc một tính
chất một quy luật mà giáo viên đã nêu.
- Mức 2: (tích cực) HS nghiên cứu thí nghiệm do GV hoặc một HS biểu
diễn.
+ HS nắm được mục đích thí nghiệm
+ Quan sát mô tả hiên tượng
+ Giải thích hiện tượng
- Mức 3: (rất tích cực). Nhóm HS làm trực tiếp làm thí nghiệm.
+ HS nắm được mục đích thí nghiệm
+ HS làm thí nghiệm mô tả hiện tượng
+ Giải thích hiện tượng
+ Rút ra kết luận.
Chính bởi vai trò quan trọng của thí nghiệm bên cạnh sự cần thiết phải đầu
tư và cung cấp một số thiết bị thí nghiệm hiện đại thì việc nghiên cứu, thiết kế và
thực hiện các thí nghiệm đơn giản để các em có thể tiến hành được trên lớp, hay ở
nhà.
2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Ví dụ 1.
Tiết 55 - Bài 36: NƯỚC (Tiết 2)
Tác dụng với kim loại
Dụng cụ: cốc thuỷ tinh 250ml, phễu thuỷ tinh, ống nghiệm.
Hoá chất: Quì tím , Na, Cu, nước, dung dịchphenolphtalêin.
Chọn kim loại điển hình là Natri
- Học sinh sờ vào bên ngoài cốc nước để cho HS biết đây là cốc nước ở điều
kiện nhiệt độ bình thường -> nhúng quì tím vào nước yêu cầu HS quan sát và
nhận xét.
8
Thí nghiệm 1:
Cho mẩu Na (nhỏ bằng ½ hạt đậu xanh) vào cốc nước 1 đã nhỏ sẵn 1-2 giọt
dung dịch phenolphtalein, đặt phễu đậy trên miệng cốc nước -> nhận xét.
Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét hiện tượng, giải thích và viết phương trình
phản ứng.
- Hiện tượng: Mẩu Na nóng chảy thành giọt tròn lăn nhanh trên mặt nước và tan
dần. Đồng thời dung dịch xuất hiện màu đỏ.
- Giải thích: Do Na tác dụng mạnh với nước tạo ra dung dịch NaOH. Dung dịch
NaOH làm đổi màu phenolphtalein thành đỏ
PTHH:
2Na(r) + 2H2O(l) → 2NaOH(dd) + H2 (k)
GV đặt ra vấn đề? Có phải tất cả kim loại đều tác dụng với nước hay không?
GV thực hiện thí nghiệm đối chứng cho học sinh kiểm chứng lại kiến thức vừa
rút ra.
Thí nghiệm 2: Cho một mẩu Cu vào cốc nước 2 đã nhỏ sẵn 1-2 giọt dung dịch
phenolphtalein.
GV yêu cầu HS nhận xét, giải thích, so sánh với thí nghiệm 1
thí nghiệm cũng dùng để hướng dẫn học sinh ở nhà các thí nghiệm của các bài sau.
Ví dụ 2.
Khi dạy bài : Không khí – Sự cháy ( Bài 28, Hóa học 8 ). Phần thí nghiệm
xác định thành phần của không khí .
Một số khó khăn gặp phải như khi GV muốn tiến hành thí nghiệm theo
nhóm HS, khi đốt photpho đỏ nếu khói P 2O5 bay ra nhiều dễ gây ô nhiễm, HS có
thể bị ho, sặc. Khói P2O5 có màu trắng dễ gây mờ ống thủy tinh dẫn đến HS khó
quan sát mức nước dâng lên đúng vạch. Bên cạnh đó nếu GV tiến hành thí nghiệm
theo nhóm trong nhiều lớp qua nhiều năm dễ gây tốn kém photpho. Với những khó
khăn trên trong những năm qua tôi đã có một sáng kiến, nhằm cải tiến thí nghiệm
để đem lại hiêu quả thiết thực. Cụ thể .
a. Dụng cụ thí nghiệm:
- Cốc thủy tinh có chia vạch 6 phần bằng nhau.
- Chậu thủy tinh cỡ bé.
- Môi sắt có gắn sẵn nút cao su.
b. Hóa chất:
- Mẫu nến nhỏ.
- Dung dịch nước vôi trong (thay cho nước) có nhỏ vài giọt phenolphtalein
để dung dịch có màu hồng nhạt giúp HS dễ quan sát hơn.
c. Tiến hành: Chia học sinh thành các nhóm nhỏ (4 em một nhóm). GV
hướng dẫn để HS tự làm thí nghiệm:
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
- Hướng dẫn HS thực hiện thí nghiệm. - Đặt ống thủy tinh vào trong chậu nước.
- Cho nước vôi trong từ từ vào chậu và
cốc sao cho đến vạch mức số 1 thì dừng
lại.
? Trong ống thủy tinh còn lại mấy + Trong ống thủy tinh chỉ còn 5 phần
phần bằng nhau?
bằng nhau.
đổi như thế nào? (khi nhiệt độ trong
ống thủy tinh bằng nhiệt độ bên
ngoài).
? Vì sao mức nước dâng lên và dâng
đến vạch số 2 thì dừng lại?
? Vậy oxi chiếm bao nhiêu phần về
thể tích không khí trong ống thủy
tinh?
- Khí còn không duy trì sự cháy, sư
sống, không làm đục nước vôi đó là
khí nitơ
? Vậy khí nitơ chiếm bao nhiêu phần
thể tích trong không khí?
6
5
4
3
2
1
Hoạt động của HS
+ HS tiến hành thí nghiệm.
+ Ngọn nến cháy yếu dần rồi tắt hẳn
+ Mực nước trong ống thủy tinh dâng
lên đến vạch số 2 thì dừng lại.
+ Mực nước dâng lên để chiếm chổ
phần thể tích khí oxi mất đi do nến đốt
cháy?
+ Oxi chiếm 1/5 về thể tích trong
Câu 2: Nêu cách nhận biết dung dịch axit, dung dịch Bazơ bằng chất chỉ thị
màu ?
* Đáp án:
- Dung dịch axít làm quỳ tím chuyển màu đỏ.
- Dung dịch Bazơ làm quỳ tím chuyển màu xanh, phenolphtalein thành đỏ
4.4 Chuẩn bị và kiểm tra dụng cụ hóa chât:( Theo nhóm)
* Dụng cụ:
Tên dụng cụ
Số lượng
Bát sứ
1
Ống hút dung dịch
1
Bình hình nón
1
Kẹp hóa chất
1
Dao con hoặc kéo
1
Giấy lọc
2
Muỗng sắt
1
12
Đèn cồn
Đũa thủy tinh
Diêm hoặc bật lửa
Cốc nước
- Tấm kính
- Nước cất
- Dao hoặc kéo
- Hãy nêu các bước làm thí nghiệm 1?
* Lưu ý khi làm thí nghiệm 1
- kim loại Na phản ứng với H 2O rất mãnh liệt,tỏa nhiều nhiệt,phải làm với
lượng Na ít,thực hiện phản ứng trên giấy lọc thấm nước an toàn.
- Tuyệt đối không được dùng tay cầm Na, không được ghé mắt gần tấm kính
khi phản ứng xảy ra.
d. Sử dụng thí nghiệm thực hành:
* Nghiên cứu phản ứng kim loại Na vớ H2O. Nước tác dụng với vôi sống
CaO. Nước tác dụng với điphotpho pentaoxit.
Đây là một trong những nội dung trọng tâm của bài học, khi giảng phần này
tôi đã sử dụng thí nghiệm thực để học sinh tự lập củng cố kiến thức vì các em được
trực tiếp làm thí nghiệm thực hành và độc lập nhận xét kết quả nên các em sẽ nắm
vững kiến thức một cách sâu sắc. Tuy nhiên sự dẫn dắt của giáo viên để các em
nghiên cứu đúng hướng.
Khi dạy phần này tôi thực hiện các bước sau:
Bước 1: Giáo viên quy định về an toàn thí nghiệm trước khi cho học
sinh nghiên cứu theo nhóm
- Tuyệt đối làm theo đúng hướng dẫn của giáo viên.
13
- Nghiêm túc, trật tự ghi lại những hiện tượng quan sát được vào phiếu học
tập
- Không tự ý đổ hoá chất này vào hoá chất khác.
- Khi làm thí nghiệm xong phải sắp xếp dụng cụ, hoá chất gọn gàng.
Bước 2: Học sinh làm thí nghiệm nghiên cứu theo nhóm
Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm, giao cho các nhóm dụng cụ, hóa chất cần
theo dõi so sánh với kết quả của nhóm mình và nhận xét, rút ra kết luận.
Giáo viên chỉnh lý, bổ sung thêm một vài kiến thức mà học sinh chưa phát
hiện được. Sau đó chỉ ra những kiến thức cơ bản mà học sinh cần lĩnh hội và khắc
sâu.
Bước 4: Giáo viên khắc sâu kiến thức
- Vì sao người ta phải bỏ kim loại Na,K,Ba,Ca vào trong các lọ dầu hỏa,chứ
không để lọ bình thường như các kim loại khác như: Al,Fe,Cu,Zn ?
14
+ Vì các kim loại ( Na, K,Ba,Ca) rễ dàng tác dụng với hơi nước có trong
không khí để tạo ra hợp chất mới.Do đó trong thực tế để giữ gìn để bảo quản các
kim loại trên người ta để vào lọ dầu hỏa nhằm không cho kim loại đó tiếp xúc với
không khí.
+ Ngược lại các kim loại (Al,Fe,Cu,Zn) không tác dung với nước,do đó
trong thực tê người ta chỉ cho các kim loại này vào lọ để cất giữ bảo quản một cách
đơn giản.
* Thí nghiệm 2: Nước tác dụng với vôi sống CaO
Trong thí nghiệm 2 chúng ta cần sử dụng những dụng cụ và hóa chất gì ?
Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 2.
Dung cụ
Hóa chất
- Bát sứ
- CaO vôi sống .
- Ống nhỏ giọt
- phenolphtalein hoặc quỳ tím
- Muỗng lấy hóa chất
- Nước cất
- Đũa thủy tinh
- Kẹp hóa chất
quả sẽ như thế nào?
Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả thí nghiệm
Hiện tượng
Giải thích
Viết PTHH
- Mẩu vôi nhão ra
- CaO tác dụng với nước tạo PTHH:CaO+
- Phản ứng tỏa nhiều nhiệt thành dung dịch Canxihi 2H2O -> Ca(OH)2
nước bốc hơi
đroxit. Chất này tan trong
- Làm dung dịch quỳ tím
nước tạo thành dung dịch Ba
chuyển thành màu xanh.
Zơ.
phenolphetalein (không
- Làm đổi màu chất chỉ thị.
màu) chuyển sang màu đỏ
Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm đọc báo cáo kết quả của 1 ý, các nhóm khác
theo dõi so sánh với kết quả của nhóm mình và nhận xét, rút ra kết luận.
Bước 4: Giáo viên khắc sâu kiến thức
- Dựa vào tính chất hóa học này của CaO thực tế người ta dùng CaO (vôi
sống) để làm gì ?
- Lợi dụng tính chất hóa học này của vôi sống ( CaO) người ta dùng làm
chất hút ẩm (chống ẩm) trong các hộp đựng bánh kẹo,các hộp đựng thực phẩm rễ
thiu mốc.
* Thí nghiệm 3: Nước tác dụng với điphotpho pentaoxit
Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 3.
Dung cụ
Hóa chất
-
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
Nhóm:.............................
* HS đọc thí nghiệm 1: ( SGK trang 133)
1 - Quan sát thí nghiệm, nhận xét hiện tượng xảy ra ?
2 - Em hãy giải thích thí nghiệm?
3 - Viết phương trình phản ứng xảy ra?
4 - Nếu thay dung dịch dung dịch phenolphetalein bằng giấy quỳ tím thì kết
quả sẽ như thế nào?
Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả thí nghiệm 3
Hiện tượng
- Phốt pho cháy sinh ra
khói màu trắng.
- Khói trắng tan trong
nước.
- Sau cho quỳ tím vào
dung dịch thì giấy quỳ
tím chuyển sang màu
đỏ.
Giải thích
Viết PTHH
t
- P tác dụng với O2 tạo PTHH: 4P + 5O →
2P2O5
thành P2O5
PTHH: P2O5 + 3 H2O ->
- P2O5 tác dụng với 2H3PO4
Nước tạo thành dung
dịch axít phôtphoric
- Axit này tan trong
* Củng cố
Câu 1: Qua bài học hôm nay em hãy cho biết muốn bảo quản những kim loại
như; Na, K, Ba, Ca … ta làm như thế nào ?
A. Ngâm trong nước.
C. Chỉ cần đậy kín.
B. Ngâm trong dầu hỏa.
D. Để nơi khô ráo
Câu 2: Ghép các câu ở cột A với các câu cột B cho thích hợp:
Cột A
Cột B
Dung dịch axit làm quỳ tím
Hóa xanh
Dung dịch Bazơ làm quỳ tím
Hóa đỏ
Dung dịch Bazơ làm dung dịch phenolphetalein không màu
Hóa hồng
Câu 3: Tại sao người ta bón vôi CaO trên ruộng để khử chua ?
- Vì vôi là CaO mà CaO tác dụng với nước trên ruộng tạo thành dung dịch
Ca(OH)2,đây là dung dịch có tính baZơ nên đã trung hòa tính axit của đất chua vì
thế mà đất hết chua.
* Về nhà
- Hoàn thành bản tường trình giờ sau nộp.
- Chuẩn bị bài mới.
g. Kết quả thực hiện
18
Trong những năm qua, việc sử dụng thí nghiệm nghiên cứu trong giờ học
19
PHẦN III: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1. KIẾN NGHỊ
a. Đối với nhà trường
- Tăng cường dụng cụ thí nghiệm: đảm bảo đủ số lượng và cả chất lượng.
Trong đó có cả dự phòng và thay thế. Bổ sung kịp thời những hoá chất hết hoặc hết
hạn sử dụng.
- Đầu tư trang thiết bị thông tin.
- Khi có thiết bị mới, cần tập huấn cho giáo viên. Đào tạo đội ngũ cán bộ
thiết bị để có đủ năng lực hỗ trợ cho giáo viên.
b. Đối với giáo viên bộ môn
- Tăng cường sử dụng thiết bị, thí nghiệm thường xuyên để học sinh “học đi
đôi với hành”.
- Tăng cường thí nghiệm ảo… đối với các thí nghiệm khó.
2. KẾT LUẬN
Trên đây là một số kinh nghiệm giảng dạy hoá học bằng thí nghiệm nghiên
cứu của tôi trong những năm qua. Tôi nghĩ rằng những kinh nghiệm của mình còn
rất nhỏ bé và mới chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp tại trường THCS Trung Kiên.
Xong phần nào đó cũng có kết quả cao hơn so với trước kia khi chưa có phương
tiện dạy học trong mỗi giờ học. Tạo cho học sinh có hứng thú học tập bộ môn rèn
luyện nhiều kỹ năng cho học sinh đồng thời thông qua bộ môn, học sinh hiểu thêm
về những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, giáo dục cho học sinh thế giới quan
khoa học, giúp phần nào phát triển toàn diện cho học sinh.
Với kết quả trên, tôi đã mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm giảng dạy
bộ môn của mình ở trường THCS, theo tôi chất lượng học tập của học sinh có cao
hay không phụ thuộc nhiều vào việc giảng dạy của giáo viên. Giáo viên không nên
áp dụng tuyệt đối một phương pháp nào mà phải biết kết hợp linh hoạt tổng thể các
kinh nghiệm của bạn bè, đồng nghiệp, chọn ra cách dạy phù hợp với đối tượng học