Phong tục tập quán Việt: Tục thờ cá voi ven biển Nam bộ - Pdf 56

TỤC THỜ CÁ VOI VEN BIỂN NAM BỘ
Cá voi đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân vùng
biển Nam Bộ. Vì thế ở hầu hết các làng ven biển đều có tục thờ cá voi thậm chí, ngay
cả những vùng nằm sâu trong đất liền cũng có lăng thờ loài cá này.
Theo Đại Nam nhất thống chí thì cá Voi được gọi là Đức Ngư. Cuốn sách này còn ghi rõ
“Đức Ngư đầu tròn, nơi trán có lỗ phun nước ra, sắc đen trơn láng, không có vảy, đuôi có
mảng như đuôi tôm, cá tánh từ thiện hay giải cứu cho người khi qua biển mắc cạn. Đầu niên
hiệu Minh Mạng vua đặt cho tên là Nhân Ngư, đầu niên hiệu Tự Đức đổi lại tên này (Đức
Ngư). Loại cá này trong Nam Hải thì linh, còn ở biển khác thì không linh”.
Bộ xương cá voi ở đình ông Nam Hải.
Nếu như các quốc gia ở phương Tây coi cá voi là một nguồn lợi lớn có giá trị kinh tế cao, thì
các dân tộc ở vùng Đông Nam Á lại coi cá voi như linh vật, ân nhân cứu mạng của mình. Cá
voi là một Phúc thần của biển cả mà họ luôn tôn kính và được dân gian thành kính gọi bằng
nhiều danh xưng trang trọng như: ông Khơi, ông Lộng, ông Nam Hải... và được các vua nhà
Nguyễn sắc phong là Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần. Cá voi ở vùng Đông
Nam Á không hề bị giết hại, thậm chí ý thức bảo vệ cá voi còn được ngư dân nâng lên gần
như là một phong tục một tín ngưỡng mà đa phần những người làm nghề biển đều phải tuân
theo.
Cho đến nay, có rất nhiều truyền thuyết, giai thoại, truyện kể trong dân gian liên quan
đến tục lệ thờ cá ông. Tục truyền rằng, cá voi là tiền thân của đức quan thế âm Bồ Tát
đã có lần hóa thân để cứu khổ chúng sinh. Ngài hóa thân thành cá voi đi tuần du biển
Nam Hải.
Một hôm, trên tòa sen nhìn lướt qua sóng gió đại dương, ngài không khỏi đau lòng khi
thấy muôn vàn sinh linh gặp cơn phong ba bão táp phải bỏ mình vì giông tố, mà những
nạn nhân đáng thương này chỉ là những ngư dân hiền lành lấy nghề đánh cá để nuôi
thân. Trước cảnh tượng đau lòng đó, Bồ Tát liền cởi chiếc pháp y, xé tan thành từng
mảnh nhỏ ném xuống mặt biển mênh mông.
Mỗi mảnh vụn theo nguyện ý của Bồ Tát đã biến thành một con cá voi với trách nhiệm cứu
nguy đám ngư dân lâm nạn trước bão tố của Nam Hải đại dương. Kể từ đó, cá voi là ân nhân
của đám thuyền chài sống trên biển cả.
Tuy nhiên, hình vóc cá voi lúc đó tương đối nhỏ không đủ sức chống chọi với sóng to gió

người. Sau đó, đủ ba năm thì cải táng, lấy xương xếp vào quách, khạp đưa vào lăng đã
xây sẵn để thờ. Lăng ông có người trông coi, hương khói, có một hội đồng quản lý lăng.
Ngày lễ cúng ông diễn ra giữa các nơi không đồng nhất, điều này phụ thuộc vào ngày cá
ông lụy. Hễ cá ông lụy vào ngày nào thì người ta lấy ngày đó làm ngày cúng. Nhưng
thông thường, cá ông thường lụy vào những tháng có biển động, có gió bão nhiều. Vì
vậy, ở Bình Đại, Bến Tre thì lấy ngày 16/6 âm lịch để cúng còn ở Sông Đốc, Cà Mau lấy
các ngày 14, 15, 16 tháng 2 âm lịch; Cầu Ngang, Trà Vinh thì cúng vào ngày 10,11,12
tháng 5 âm lịch.
Lễ cũng tổ chức quy mô lớn hay nhỏ cũng phụ thuộc vào tình hình kinh tế của từng địa
phương. Năm nào, địa phương nào làm ăn khấm khá, đi biển đánh bắt được nhiều cá
tôm... thì năm đó địa phương đó sẽ cúng lớn, còn ngược lại thì cúng nhỏ. Duy có điều,
vật phẩm dùng để cúng trong ngày lễ này thì gần như không có sự khác biệt lớn giữa
các địa phương.
Về cơ bản, nghi thức cúng cá ông không khác mấy so với nghi thức cúng ở đình làng,
gồm nhiều nghi lễ và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thường thì, lễ hội nghinh
ông được bắt đầu từ lúc rạng sáng. Một đoàn thuyền được chuẩn bị sẵn để ra khơi.
Hằng trăm chiếc tàu đánh cá của ngư dân trong và ngoài tỉnh được trang trí cờ hoa, neo
đậu ken đặc dưới bến sông. Mặc dù vậy, các ghe này đều đậu một cách rất trật tự, có
hàng có lối và trông rất đẹp mắt. Đi đầu là chiếc ghe chính có trọng tải lớn, chủ lễ trực
tiếp rước lư hương lên tàu. Tàu được trang trí rất công phu, lộng lẫy và lớn nhất. Có khi
người ta kết từ ba chiếc tàu lại. Trên tàu có kết hoa, treo cờ, có bàn hương án và bài vị
thủy tướng, có trang bị dàn nhạc ngũ âm và một số người biết hát múa ăn mặc chỉnh tề,
hướng thẳng ra biển.
Ra tới cửa biển, nhiều tàu khác tiếp tục được nhập vào đoàn diễu hành. Hàng trăm đến
hàng ngàn tàu đủ mọi kích cỡ, công suất, kiểu trang trí tạo ra một khung cảnh đầy màu
sắc sống động cả một vùng cửa biển rộng lớn. Tiếng sóng nước, tiếng động cơ ầm ầm
vang xa. Hàng ngàn người đủ mọi sắc áo đứng ngồi trên boong tàu vẫy cờ hoa lung linh
trong cảnh non nước mây trời xanh ngắt pha lẫn khói tàu lan tỏa trên mặt biển. Trong khi
đó, ở trên bờ, tiếng kèn, tiếng trống, tiếng nhạc nổi lên rộn rã.
Trên đường diễu hành, nếu gặp cá ông phun nước (ông dọi) thì đoàn tàu quay trở về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status