BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO ĐẠI ĐOÀN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO ĐẠI ĐOÀN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
công tác hỗ trợ đào tạo trong suốt khoá học đã giúp đỡ tôi học tập và nghiên
cứu, cùng với các bạn đồng môn đã luôn đồng hành, quan tâm, giúp đỡ cho
tôi trong suốt khoá học.
Xin trân trọng cảm ơn người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn này.
Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
CAO ĐẠI ĐOÀN
“Quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay”
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT CỦA ĐỀ TÀI
Ký hiệu tắt
Nội dung đầy đủ
CCĐB
Cơ chế đảm bảo
PLVN
Pháp luật Việt Nam
QLNN
Quản lý Nhà nước
1.4.1. Nhóm yếu tố khách quan ....................................................................... 21
1.4.2. Nhóm yếu tố chủ quan ........................................................................... 23
Kết luận chương 1 ........................................................................................... 24
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .... 26
2.1. Các văn bản quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo .......................... 26
2.2. Thực trạngquản lý Nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam ...................................................................................................... 36
2.2.1. Hoạt động ban hành các văn bản pháp luật quản lý về tín ngưỡng,
tôn giáo ........................................................................................................... 36
2.2.2.Tổ chức thực hiện các quyết định hành chính về tôn giáo..................... 41
2.2.3. Kiểm tra đánh giá việc thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo .... 53
2.2.4. Xử lý đối với các vi phạm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ......... 58
2.3. Đánh giá chung về thực trạng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay ...................................................... 61
2.3.1. Thành tựu .............................................................................................. 61
2.3.2. Những hạn chế ...................................................................................... 62
Kết luận chương 2 ........................................................................................... 64
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ KINH
NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ....................................................... 65
3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia về nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước
đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ........................................................... 65
3.1.1. Cộng hòa Pháp ...................................................................................... 65
3.1.2. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ....................................................................... 65
3.1.3. Một số quốc gia Hồi giáo ...................................................................... 67
3.1.4. Trung Quốc ........................................................................................... 68
3.1.5. Bài học đối với Việt Nam ...................................................................... 70
phạm pháp luật thể hiện tại các điều luật cơ bản như: Hiến pháp, bộ luật, pháp
lệnh, nghị định, thông tư… điều này tạo hành lang pháp lý cho đảm bảo thực
thi các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, gắn kết, hòa hợp giữa
những người có tôn giáo và không có tôn giáo, giữa những người có tôn giáo
với nhau. Kết quả là đã có nhiều văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành
về lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo trong đó có văn bản có giá trị pháp lý cao
nhất: Luật tín ngưỡng, tôn giáo, được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016
tại kỳ họp thứ II khóa XIV chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
Trước những biến đổi nhanh chóng của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo,
dưới tác động của toàn cầu hóa, chính sách quản lý của Nhà nước về tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần có những điều chỉnh để ngày càng phù hợp,
đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được thực thi tốt
nhất. Theo đó, từ những năm 1990 đến nay, chính sách, pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thường xuyên được bổ sung, chỉnh sửa cho phù
2
hợp với thực tế cũng như nhu cầu, nguyện vọng, quyền chính đáng của nhân
dân, cụ thể như: Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo ban tôn giáo Chính
phủ và các ban ngành có liên quan soạn thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Năm
2015, Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng đã yêu cầu các cấp, các ngành tiến
hành tổng kết Nghị quyết số 25/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng về công tác tín ngưỡng tôn giáo đồng bộ từ cơ sở đến Trung ương nhằm
khẳng định những nội dung còn giá trị, những nội dung cần sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu trong quá trình hội
nhập, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Gần đây, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) đã khẳng định: Tiếp tục hoàn thiện về
chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương và
điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của
cần làm tốt công tác đoàn kết, giáo dục đối với các nhân sĩ tôn giáo, nhất là
các nhân sĩ tôn giáo trẻ, một mặt cần quan tâm và tăng cường bồi dưỡng,
giáo dục ý thức chính trị, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, tinh thần bảo vệ
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa, mặt
khác cần bồi dưỡng và làm phong phú thêm tri thức văn hóa cho đội ngũ
này [1;345]. Bên cạnh đó kiên trì nguyên tắc “đoàn kết, hợp tác về chính trị,
tôn trọng lẫn nhau về tín ngưỡng, tôn giáo” mà nền tảng chung là chủ nghĩa
yêu nước và chủ nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến
nội dung này. Tác giả Đỗ Quang Hưng [17], trong nghiên cứu: Vấn đề tôn
giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn đề cập đến tín ngưỡng,
tôn giáo và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo ở Việt
Nam, qua đó, tác giả đã có cái nhìn toàn diện, hệ thống về chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ lịch sử, nhất là sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 đến nay.
4
Cuốn “Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam” [32], đã
cung cấp cho tác giả những thông tin khái quát về một số vấn đề cơ bản vê tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá
cách mạng của các thế lực thù địch và quan điểm, chính sách tín ngưỡng, tôn
giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Một số bài viết của các tác giả như: Đặng Tài Tính [28], Nguyễn Thanh
Xuân [33], Ban Tôn giáo Chính phủ [5]… đề cập đến quan điểm, đường lối của
Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, các bài viết đưa ra bức tranh khá
toàn diện về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo, chỉ ra quan điểm nhận thức tư duy
lý luận mới của Đảng về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên các nghiên cứu về quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng,
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cần lưu ý mối
quan hệ giữa các chủ thể gồm bên quản lý: là cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền; đối tượng quản lý (các tổ chức tôn giáo và các tín đồ) , cùng các yếu tố
liên quan đến hoạt động tôn giáo. Đặc biệt là hoạt động quản lý Nhà nước về
tín ngưỡng, tôn giáo cần đảm bảo yêu cầu hợp pháp và hợp lý, nghĩa là quản
lý cần phải bám sát các chủ trương, chính sách, hoạch định về vấn đề liên
quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nhưng cũng cần bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của người dân được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Ngoài
ra, cần chú ý đến tình hình thực tiễn để đảm bảo sự hài hòa, thống nhất giữa
các chủ thể hướng tới sự phát triển và ổn định trong xã hội.
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn có
những bất cập nhất định, điều này giảm đi hiệu quả quản lý đối với hoạt
động này. Do đó cần có sự đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà
nước về tín ngưỡng, tôn giáo, những vấn đề còn tồn tại, và những nguyên
nhân, để có những giải pháp điều chỉnh, đổi mới phù hợp hơn trong quản lý
Nhà nước.
6
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận, các căn cứ pháp lý về
quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay. Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn hệ thống chủ chương chính sách
của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp luật, đánh giá thực trạng quản lý
Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn hiện
nay, nguyên nhân, đề tài đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
hoạch định về vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời bảo đảm
quyền tự do về tín ngưỡng, tôn giáo của công dân được thực hiện hiệu quả
trên thực tế. Ngoài ra, cần phải chú ý đến tình hình thực tiễn để đảm bảo hiệu
quả trong sự hài hòa, thống nhất giữa các chủ thể hướng tới sự phát triển và
ổn định trong xã hội.
Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn có
những bất cập nhất định, khi đó giảm đi hiệu quả quản lý đối với hoạt động
này. Khi đó cần có sự đánh giá những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản
lý, xem nguyên nhân để có những giải pháp đổi mới phù hợp hơn trong quản
lý là yêu cầu cấp thiết.
Tổng hợp và phân tích các tài liệu lí luận khoa học có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, từ đó xây dựng những nội dung phù hợp về lý luận, thực tiễn
và các đề xuất mới của đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận hệ thống: Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều khâu khác
nhau, bằng hệ thống các công cụ và biện pháp khác nhau, vì vậy cần nhìn
nhận hiệu quả quản lý theo tiếp cận hệ thống đảm bảo có tính tổng thể, lô gic,
8
kế thừa cũng như phát huy các giá trị tích trong quản lý điều hành của Nhà
nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
- Tiếp cận logic - lịch sử: Hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn hiện nay luôn được xem trong mối quan
hệ biện chứng với tiến trình phát triển lịch sử, phù hợp với những yêu cầu, đòi
hỏi mới của thực tiễn, phù hợp với quy luật “vô thường” của Phật giáo. Tiêu chí
quản lý hiệu quả của Nhà nước đôi với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cần phải
bắt kịp với xu thế của thời đại phát triển và hội nhập, tri thức ngày càng có vị trí
và phụ lục, luận văn được gồm 3 chương cơ bản:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động tín
ngƣỡng, tôn giáo.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động tín
ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay;
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nƣớc đối với
các hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo từ kinh nghiệm một số quốc gia.
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
1.1. Những khái niệm và đặc điểm cơ bản của đề tài
1.1.1. Tín ngưỡng, tôn giáo sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo
- Khái niệm tín ngưỡng:
Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào thế giới siêu
nhiên mà họ cho rằng đã chi phối thế giới và con người, niềm tin này khộng
nhận biết được.
Trước đây, khái niệm tín ngưỡng đã bao gồm cả tôn giáo nên khi nói các
loại hình tôn giáo sơ khai trong các dân tộc thiểu số, tôn giáo trong người
Kinh người ta gọi là tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng nguyên thủy). Vì vậy,
khái niệm tín ngưỡng ở Việt Nam dược hiểu theo hai nghĩa: Một là chỉ niềm
tin của con người vào thế giới siêu nhiên (tín ngưỡng). Hoặc hai là chỉ các
loại tôn giáo nguyên thủy/tôn giáo truyền thống/tín ngưỡng dân gian.
Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực từ
01/01/2018 có quy định:
- Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những
lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an
một hình thái xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin và sùng
bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có lực lượng siêu nhiên quyết định
số phận con người, con người phải phục tùng, tôn thờ” [16;8].
Tác giả Mai Thanh Hải, trong Từ điển Tôn giáo xuất bản năm 2001, đưa
ra định nghĩa “tôn giáo là một hình thái nhận thức xã hội, phản ánh hiện thực
khách quan qua các khái niệm, hình ảnh mang tính chất ảo ảnh, ảo vọng. Nói
chung đó là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, vô hình mà con người cho là
12
linh thiêng, được sùng bái và cầu khấn để nhờ cậy, che chở hoặc ban phát
điều tốt lành”.
Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn tôn giáo ở Việt Nam” xuất bản năm 1998 cho rằng: “Tôn giáo là thế giới
siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại hư
ảo giữa con người và thế giới đó nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế,
cũng như thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau
của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau”.
PGS.TS Nguyễn Thanh Xuân đưa quan niệm: Tôn giáo là những hành vi
của con người để thực hiện niềm tin vào thế giới siêu nhiên
Theo quan điểm của Mácxít, bản chất của tôn giáo được khái quát trong
những luận điểm sau đây [15;242]: Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, tôn giáo là
một hình thái ý thức xã hội, là sự tự ý thức, tự cảm giác của con người về thế
giới xung quanh mình và về chính bản thân họ.
Về nguồn gốc của tôn giáo, theo quan điểm Mácxít [15;288], tôn giáo có
3 nguồn gốc cơ bản: nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồn gốc nhận thức, nguồn
gốc tâm lý tình cảm.
Về tính chất của tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin [15;244] chỉ rõ tôn giáo
có những tính chất cơ bản sau: Tính lịch sử; Tính quần chúng; Tính Chính trị.
lượng tín đồ đông đảo, có tôn giáo số lượng tín đồ chỉ vài trăm người. Do đó,
tôn giáo ở Việt Nam cũng có những đặc điểm đặc thù như sau:
Thứ nhất, tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta rất đa dạng: sự đa dạng về tín
ngưỡng, tôn giáo đã góp phần làm đa dạng văn hóa Việt Nam nhưng cũng đặt
ra nhiều khó khăn thách thức trong quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Các tổ chức tôn giáo truyền đạo, phát triển tín đồ, tổ chức bằng việc đề
nghị các cơ quan quản lý có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp
luật. Hình thức truyền đạo đa dạng hơn thông qua hệ thống kinh sách, trực tiếp
14
qua giáo sĩ, qua phương tiện truyền thông của tôn giáo, có áp dụng công nghệ
internet trong hoạt động, có website của tổ chức.
Thứ hai, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với đường lối chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước: Theo đó, các tổ chức tín ngưỡng, tôn
giáo tiếp nhận hệ thống các văn bản quản lý thông qua các hội nghị, hội đàm,
trao đổi, qua các phương tiện truyền thông... mà cơ bản là qua các hội nghị
phổ biến chính sách, pháp luật. Thông qua hội nghị phổ biến pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo, giúp tiếp nhận chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn
giáo để thực hiện đúng pháp luật từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện. Tuy nhiên việc tiếp nhận và thực
hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức còn ở mức độ
khác nhau trong đó đa phần thực hiện đúng thì còn một bộ phận chưa hiểu
thấu đáo hoặc cố tình xuyên tạc các quy định của pháp luật, chia rẽ, kích động
đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo. Cũng cần phải kể đến quy định
của pháp luật, các văn bản quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo còn
thiếu đồng bộ, tồn tại nhiều bất cập khiến cho việc áp dụng trong thực tế còn
thiếu thống nhất.
Với chính sách tôn giáo cởi mở, hành lang pháp lý ổn định, các sinh
Bên cạnh các hoạt động trong khuôn khổ chương trình, các tôn giáo đã tăng
cường các chương trình thuyết giảng, tham gia sinh hoạt tôn giáo, hướng
dẫn bà con ở nước ngoài tu học, tạo dựng quan hệ đoàn kết, gần gũi trong
kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, giúp họ hiểu hơn về chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta. Trong quan hệ với Đảng và Nhà nước, tổ chức
tôn giáo là một kênh góp phần đưa các chủ trương đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào thự tiễn cuộc sống. Bên cạnh việc
chăm lo việc đạo, đảm bảo đời sống tinh thần cho tín đồ, các tổ chức tôn
giáo có vai trò quan trọng tổ chức cho các tín đồ tham gia cuộc vận động,
các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, tích cực tham gia các hoạt
16
động xã hội hóa về y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo bằng hình thức thường
xuyên và không thường xuyên. Như vậy, trong quản lý Nhà nước về tôn giáo
thì việc thực hiện pháp luật về tôn giáo của các tổ chức tôn giáo là một minh
chứng thực tiễn cho việc tiếp nhận tích cực hay tiêu cực các quy định về
pháp luật tôn giáo.
1.2. Quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo ở
Việt Nam
Quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo: Quản lý Nhà nước
nói chung và quản lý Nhà nước về tôn giáo nói riêng là hoạt động theo quy
định của pháp luật để tác động điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động tôn giáo
diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được các mục tiêu của chủ thể quản lý.
Theo nghĩa hẹp: là quá trình chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật
của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt
động các tín ngưỡng, tôn giáo trong quy định của pháp luật. Như vậy, quản lý
Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động của các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và
nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý
- Đối tượng quản lý: Đó chính là hoạt động của các tổ chức tôn giáo,
chức sắc, người tu hành, tín đồ.
Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam hiện nay
Một là, Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do
không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì
lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Hai là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân.
18
Ba là, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ pháp luật của
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời cần có quan điểm
lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
Bốn là, khắc phục mọi ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo, cần
phân biệt nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, phải
gắn liền các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với quá trình cải tạo xã hội cũ,
xây dựng xã hội mới. Vì vậy, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước
Việt Nam, ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp
đoàn kết toàn dân, làm tổn hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc và hoạt
động mê tín dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật.
Năm là, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác trong giải quyết các
vấn đề tôn giáo
1.3. Sự cần thiết phải quản lý Nhà nƣớc về tôn giáo
Có quan điểm cho rằng, hoạt động tôn giáo là công việc nội bộ của tôn