SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN DẠNG VÀ GIẢI
BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG PHẦN DUNG DỊCH
Ở TRƯỜNG THCS NGA THẠCH.
Người thực hiện: Nguyễn Mạnh Hùng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Thạch
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Hóa học
THANH HÓA, NĂM 2019
I. MỞ ĐẦU
0
1. Lý do chọn đề tài:
Bộ môn Hoá học ở phổ thông có mục đích trang bị cho học sinh hệ thống
kiến thức cơ bản. Việc nắm vững các kiến thức cơ bản góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo ở bậc phổ thông, chuẩn bị cho học sinh tham gia các hoạt động
sản xuất và các hoạt động khác của xã hội.
Để đạt được mục đích trên, ngoài hệ thống kiến thức về lý thuyết thì hệ
thống bài tập Hoá học giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc dạy và
học Hoá học. Bài tập hóa học có tác dụng làm cho học sinh hiểu và khắc sâu các
khái niệm đã học. Học sinh có thể học thuộc lòng các định nghĩa của khái niệm
nhưng nếu không thông qua việc giải bài tập, học sinh chưa thể nào nắm vững
được cái mà học sinh đã thuộc.
Bài tập hoá học tạo điều kiện để tư duy phát triển, khi giải một bài toán hoá
b) Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin, phương pháp
thống kê, xử lý số liệu...được thực hiện theo các bước:
- Xác định đối tượng: Là học sinh trường THCS Nga Thạch.
- Phát triển mảng và đúc kết kinh nghiệm: Khi nhận nhiệm vụ dạy môn hóa
học 8 và lớp 9, Tôi thật sự thấy khó khăn khi thấy học sinhcủa mình bế tắc trong
khi giải các bài tập về dung dịch, đa số học sinh không giải được. Trước thực
trạng đó, tôi đã mạnh dạn áp dụng thực hiện mảng kinh nghiệm này.
Để áp dụng đề tài vào trong công tác giảng dạy học sinh trong giờ học, tôi
đã thực hiện một số khâu quan trọng như sau:
- Tìm hiểu thái độ của học sinh về nội dung của dạng bài tập này; điều kiện
học tập của học sinh. Đặt ra yêu cầu về bộ môn, hướng dẫn cách sử dụng sách
tham khảo và giới thiệu một số sách hay của các tác giả để những học sinh có
điều kiện tìm mua; các học sinh khó khăn sẽ mượn sách bạn để học tập.
- Xác định mục tiêu, chọn lọc và nhóm các bài toán theo dạng, xây dựng
nguyên tắc áp dụng cho mỗi dạng, viết soạn bài tập mẫu có hướng dẫn, các bài
tập vận dụng và nâng cao.
- Chuẩn bị kế hoạch về thời lượng cho mỗi dạng toán, cách phân bố và đưa
ra bài theo kế hoạch phù hợp với nội dung bài học, giao bài sau mỗi tiết học cho
học sinh làm tự luyện theo mỗi dạng mà giáo viên dạy, có kiểm tra hoặc phân
công kiểm tra.
2
- Trong quá trình vận dụng, tôi đã suy nghĩ tìm tòi, học hỏi và áp dụng
nhiều biện pháp. Ví dụ như: trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp, trò chuyện cùng
học sinh, thể nghiệm, kiểm tra và đánh giá kết quả dạy và học những nội dung
trong mảng kinh nghiệm.
Trên cơ sở đó tôi đã trình bày các bước làm của tôi để nâng cao khả năng,
trí tuệ của học sinh.
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
học trong nhà trường.
d. Chuyên môn nhà trường: Được nhà trường quan tâm, đội ngũ giáo viên
trong tổ có chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, luôn giúp đỡ đồng nghiệp.
2.2 Khó khăn:
a. Giáo viên: Để áp dụng đề tài vẫn còn rất nhiều khó khăn, cụ thể: Điều
kiện nhà trường còn khó khăn, học sinh lại không được học tăng thêm buổi, chỉ
học 2 tiết/ tuần theo phân phối chương trình, nên rất khó khăn cho việc hướng
dẫn thêm cho học sinh trong việc phân dạng và giải quyết các bài tập. Mặt khác,
3
học sinh lại toàn con nhà nông nên việc tập chung cho việc học chưa thật sự có
thời gian, phụ huynh lại chưa thật sự quam tâm. Nên việc áp dụng đề tài vẫn còn
nhiều hạn chế.
b. Học sinh: Khi chưa áp dụng đề tài này, nhận thấy các em làm bài tập rất
khó khăn không xác định được vấn đề, các em không biết phân dạng, vận dụng
kiến thức để giải quyết các bài tập luôn bế tắc, giáo viên phải thường xuyên
hướng dẫn, dẫn đến kết quả học tập thấp.
- Cụ thể, chỉ chọn được 1 học sinh giỏi tham dự kỳ thi cấp huyện. Kết quả
chỉ được giải khuyến khích( nguyên nhân là không làm được bài tập phần dung
dịch).
Qua bài khảo sát bài tập phần dung dịch trước khi triển khai đề tài ở khối 8,
9 trường THCS Nga Thạch.
Khối
K8
K9
TS
61
56
mới phương pháp dạy học. Khả năng vận dụng những kiến thức đã học của học
sinh vào thực tế khách quan còn nhiều hạn chế.
c. Trong quá trình dạy học chưa chú ý đúng mức tới dạy phương pháp học
cho học sinh, chưa thực hiện dạy học cá thể nên kết quả dạy và học chưa cao.
Từ thực trạng trên, bước vào năm học mới tôi đã có kế hoạch đổi mới
phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy, rèn cho học sinh để
khắc phục những hạn chế trên.
3. Một số giải pháp cụ thể hướng dẫn học sinh phân dạng và giải bài tập
định lượng phần dung dịch ở trường Nga Thạch .
Khi dạy chương dung dịch ở lớp 8, bước đầu sẽ yêu cầu học sinh nắm vững
kiến thức và một số các công thức, đồng thời trong quá trình dạy sẽ lồng vào
phân dạng các bài tập để học sinh tiếp cận dần, đặc biệt các đối tượng học sinh
khá giỏi, lên đến lớp 9 chương trình đã xuyên suốt các bài tập về dung dịch nên
học sinh sẽ được tiếp cận vận dụng để làm bài tập ở mức độ nhiều và khó hơn.
- Để giải quyết các bài tập về dung dịch yêu cầu học sinh phải nắm vững
các công thức :
a. Công thức tính độ tan:
b. Công thức tính nồng độ %:
St
0C
mct
chất
= m . 100
dm
mct
1000.n(mol )
CM = V (lit ) =
V (ml )
Hoặc S =
Từ công thức suy ra các đại lượng tính liên quan: số mol, thể tích dd (V)
e. Mối liên hệ giữa nồng độ % và nồng độ mol/lit.
Công thức liên hệ: C% =
10 D.C %
C M .M
Hoặc CM =
M
10 D
Trong đó:
- mct là khối lượng chất tan( đơn vị: gam)
- mdm là khối lượng dung môi( đơn vị: gam)
- mdd là khối lượng dung dịch( đơn vị: gam)
-V là thể tích dung dịch( đơn vị: lit hoặc mililit)
- D là khối lượng riêng của dung dịch( đơn vị: gam/mililit)
- M là khối lượng mol của chất( đơn vị: gam)
- S là độ tan của 1 chất ở một nhiệt độ xác định( đơn vị: gam)
- C% là nồng độ % của 1 chất trong dung dịch( đơn vị: %)
- CM là nồng độ mol/lit của 1 chất trong dung dịch( đơn vị: mol/lit hay M).
* Một số dạng bài tập về dung dịch và cách giải quyết các bài tập:
Phân dạng 1: Bài toán về độ tan và liên quan giữa độ tan của một chất với
nồng độ phần trăm dung dịch bão hoà của chất đó.
Ví dụ 1: Xác định độ tan của muối Na 2CO3 trong nước ở 180C. Biết rằng ở
- Các bài toán loại này thường cho tinh thể cần lấy và dung dịch cho sẵn có
chứa cùng loại chất tan.
Ví dụ 1: Để điều chế 560g dung dịch CuSO 4 16% cần phải lấy bao nhiêu
gam dung dịch CuSO4 8% và bao nhiêu gam tinh thể CuSO4.5H2O.
Hướng dẫn giải
- Cách 1: Vận dụng các công thức tính
toán để tính:
+ Tính khối lượng chất tan trong 560g
dung dịch CuSO4 16%.
+ Gọi mCuSO4.5H2O = x(g)
+ Theo bài ra lập PT đại số .
Cách giải
* Cách 1:
Trong 560g dung dịch CuSO4 16% có
chứa.
m
ct CuSO4(có trong dd CuSO4 16%)
=
560.16
2240
=
= 89,6(g)
100
25
Đặt mCuSO4.5H2O = x(g)
250g CuSO4.5H2O chứa 160g CuSO4
Vậy x(g)
= 89,6
Giải phương trình được: x = 80.
* Cách 2: Giải hệ phương trình bậc Vậy cần lấy 80g tinh thể
CuSO4.5H2O và 480g dd CuSO4 8%
nhất 2 ẩn.
* Cách 3: Tính toán theo sơ đồ đường để pha chế thành 560g dd CuSO4
16%.
chéo.
Bài tập áp dụng:
Tính lượng tinh thể CuSO4.5H2O cần dùng để điều chế 500ml dung dịch
CuSO4 8%(D = 1,1g/ml).
Đáp số: Khối lượng tinh thể CuSO4.5H2O cần lấy là: 68,75g
Phân dạng 3: bài toán tính lượng chất tan tách ra hay thêm vào khi thay
đổi nhiệt độ một dung dịch bão hoà cho sẵn.
6
Phương pháp chung:
- Bước 1: Tính khối lượng chất tan và khối lượng dung môi có trong dung
dịch bão hoà ở t1(0c)
- Bước 2: Đặt a(g) là khối lượng chất tan A cần thêm hay đã tách ra khỏi
dung dịch ban đầu, sau khi thay đổi nhiệt độ từ t 1(0c) sang t2(0c) với t1(0c) khác
t2(0c).
- Bước 3: Tính khối lượng chất tan và khối lượng dung môi có trong dung
dịch bão hoà ở t2(0c).
- Bước 4: áp dụng công thức tính độ tan hay nồng độ % dung dịch bão
hoà(C% dd bh) để tìm a.
Lưu ý: Nếu đề yêu cầu tính lượng tinh thể ngậm nước tách ra hay cần thêm
vào do thay đổi nhiệt độ dung dịch bão hoà cho sẵn, ở bước 2 ta phải đặt ẩn số là
- Tính số gam chất tan có trong 150g - ở 90 c: Cứ 100g H2O hòa tan được
dung dich CuSO4
50g CuSO4 tạo thành 150 g dung dịch
số gam chất tan có trong 600g 150g dung dich CuSO4 có chứa 50g
dung dịch CuSO4
CuSO4
600g dung dịch CuSO4 có chứa x g
CuSO4
x = 200g
Số gam H2O = 600-200= 400g
+ Gọi số mol của CuSO4 .5H2O là a Gọi số mol của CuSO4 .5H2O là a
mol
mol thì:
- số gam CuSO4 là 160a
7
- số gam H2O kết tinh là 90a
Số gam nước còn lại 400-90a
Số gam CuSO4 còn lại 200-160a
ở 100c cứ 100g nước hòa tan được
15g CuSO4
+ lập phương trình đại số mối quan hệ vậy 400-90a gam nước hòa tan được
giữa khối lượng chất tan và khối 200-160a
lượng dung môi.
15.(400-90a) = 100.(200-160a)
=> a= 0,9556 mol
Vậy khi gạ nhiệt độ từ 900c xuống
100c thì có : 250 . 0,9556 = 238.9
gam
x
2x
x
x
mol
2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2 (2)
y
3y
y
1,5y mol
Do các phản ứng xảy ra hoàn toàn, theo
các phương trình
nHCl phản ứng = 2nH2 = 0,8 mol
nHCl phản ứng = 0,8 mol < nHCl (ban đầu) = 1
mol
Vậy axit dư, hỗn hợp kim loại phản
ứng hết. nHCl phản ứng = 0,8 mol < nHCl (ban
8
= 1 mol
Vậy axit dư, hỗn hợp kim loại phản
ứng hết.
Gọi x,y lần lượt là số mol của Fe, Al
trong hỗn hợp. Ta có:
56x + 27y = 11 (I)
- Gọi số mol các chất p/ư lần lượt là Theo phương trình (1),(2) ta có:
x,y. Từ PTHH và bài cho lập hệ nH2 = x + 1,5y = 0,4 (II).
phương trình đại số.
Từ (I) và (II) suy ra x= 0,1; y = 0,2.
a)
Đặc điểm của bài toán:
- Khi pha loãng, nồng độ dung dịch giảm. Còn cô dặc, nồng độ dung dịch
tăng.
- Dù pha loãng hay cô đặc, khối lượng chất tan luôn luôn không thay đổi.
b)
Cách làm:
Có thể áp dụng công thức pha loãng hay cô đặc
TH1: Vì khối lượng chất tan không đổi dù pha loãng hay cô đặc nên.
mdd(1).C%(1) = mdd(2).C%(2)
TH2: Vì số mol chất tan không đổi dù pha loãng hay cô dặc nên.
9
Vdd(1). CM (1) = Vdd(2). CM (2)
Nếu gặp bài toán bài toán: Cho thêm H 2O hay chất tan nguyên chất (A)
vào 1 dung dịch (A) có nồng độ % cho trước, có thể áp dụng quy tắc đường chéo
để giải. Khi đó có thể xem:
- H2O là dung dịch có nồng độ O%
- Chất tan (A) nguyên chất cho thêm là dung dịch nồng độ 100%
+ TH1: Thêm H2O
Dung dịch đầu C1(%)
C2(%) - O
mdd .dau
m H 2O
C2(%)
O(%)
C1(%) – C2(%)
2. Bài toán hoà tan một hoá chất vào nước hay vào một dung dịch cho sẵn.
a/ Đặc điểm bài toán:
- Hoá chất đem hoà tan có thể là chất khí, chất lỏng hay chất rắn.
- Sự hoà tan có thể gây ra hay không gây ra phản ứng hoá học giữa chất
đem hoà tan với H2O hoặc chất tan trong dung dịch cho sẵn.
10
b/ Cách làm:
- Bước 1: Xác định dung dịch sau cùng (sau khi hoà tan hoá chất) có chứa
chất nào: Cần lưu ý xem có phản ứng giữa chất đem hoà tan với H 2O hay chất
tan trong dung dịch cho sẵn không? Sản phẩm phản ứng(nếu có) gồm những
chất tan nào? Nhớ rằng: Có bao nhiêu loại chất tan trong dung dịch thì có bấy
nhiêu nồng độ.
Nếu chất tan có phản ứng hoá học với dung môi, ta phải tính nồng độ của
sản phẩm phản ứng chứ không được tính nồng độ của chất tan đó.
- Bước 2: Xác định lượng chất tan(khối lượng hay số mol) có chứa trong
dung dịch sau cùng.
+ Lượng chất tan( sau phản ứng nếu có) gồm: sản phẩm phản ứng và các
chất tác dụng còn dư.
+ Lượng sản phẩm phản ứng( nếu có) tính theo ptpư phải dựa vào chất tác
dụng hết( lượng cho đủ), tuyệt đối không được dựa vào lượng chất tác dụng cho
dư (còn thừa sau phản ứng)
- Bước 3: Xác định lượng dung dịch mới( khối lượng hay thể tích)
Để tính thể tích dung dịch mới có 2 trường hợp( tuỳ theo đề bài)
Nếu đề không cho biết khối lượng riêng dung dịch mới( Dddm)
+ Khi hoà tan 1 chất khí hay 1 chất rắn vào 1 chất lỏng có thể coi:
Thể tích dung dịch mới = Thể tích chất lỏng
+ Khi hoà tan 1 chất lỏng vào 1 chất lỏng khác, phải giả sử sự pha trộn
trộn các dung dịch chứa cùng loại hoá chất)
Nguyên tắc chung để giải là theo phương pháp đại số, lập hệ 2 phương trình
toán học (1 theo chất tan và 1 theo dung dịch)
Các bước giải:
- Bước 1: Xác định dung dịch sau trộn có chứa chất tan nào.
- Bước 2: Xác định lượng chất tan(mct) có trong dung dịch mới(ddm)
- Bước 3: Xác định khối lượng(mddm) hay thể tích(Vddm) dung dịch mới.
mddm = Tổng khối lượng( các dung dịch đem trộn )
+ Nếu biết khối lượng riêng dung dịch mới( Dddm)
mddm
Vddm = D
ddm
+ Nếu không biết khối lượng riêng dung dịch mới: Phải giả sử sự hao hụt
thể tích do sự pha trộn dung dịch là không đáng kể, để có.
Vddm = Tổng thể tích các chất lỏng ban đầu đem trộn
+ Nếu pha trộn các dung dịch cùng loại chất tan, cùng loại nồng độ, có thể
giải bằng quy tắc đường chéo.
m1(g) dd C1(%)
C2 – C3
C3(%)
m2(g) dd
C2(%)
C3 – C1
(Giả sử: C1< C3 < C2 ) và sự hao hụt thể tích do sự pha trộn các dd là không đáng
kể.
m1
m2
=
D3(g/ml)
V2(l) dd D2(g/ml)
D3 – D1
(Giả sử: D1< D3 < D2) và sự hao hụt thể tích do sự pha trộn các dd là không đáng
kể.
V1
V2
=
D2 D3
D3 D1
TH2: Khi trộn có xảy ra phản ứng hoá học cũng giải qua 3 bước tương tự
bài toán loại 2 (Hoà tan một chất vào một dung dịch cho sẵn). Tuy nhiên, cần
lưu ý.
- Ở bước 1: Phải xác định công thức chất tan mới, số lượng chất tan mới.
Cần chú ý khả năng có chất dư(do chất tan ban đầu không tác dụng hết) khi tính
toán.
- Ở bước 3: Khi xác định lượng dung dịch mới (mddm hay Vddm)
Tacó: mddm = Tổng khối lượng các chất đem trộng – khối lượng chất kết tủa
hoặc chất khí xuất hiện trong phản ứng.
- Thể tích dung dịch mới tính như trường hợp 1 loại bài toán này.
Thí dụ: áp dụng phương pháp đường chéo.
Một bài toán thường có nhiều cách giải nhưng nếu bài toán nào có thể sử
dụng được phương pháp đường chéo để giải thì sẽ làm bài toán đơn giản hơn rất
nhiều.
Bài toán 1: Cần bao nhiêu gam tinh thể CuSO4 .5H2O hoà vào bao nhiêu
gam dung dịch CuSO4 4% để điều chế được 500 gam dung dịch CuSO4 8%.
Bài giải: Giải Bằng phương pháp thông thường:
250
100
=> 0,64x + 20 - 0,04x = 40.
Giải ra ta được:
X = 33,33g tinh thể
Vậy khối lượng dung dịch CuSO4 4% cần lấy là:
500 - 33,33 gam = 466,67 gam.
+ Giải theo phương pháp đường chéo
13
Gọi x là số gam tinh thể CuSO 4. 5 H2O cần lấy và (500 - x) là số gam dung
dịch cần lấy ta có sơ đồ đường chéo như sau:
x
500 x
69
8
4 - 8
=>
64 - 8
4
x
m1
3
m1 10 8
=> m 10
8 3
m2 2
8
10 - 8
8 - 3
Vậy tỷ lệ khối lượng cần lấy là:
m1 2
m2 5
Bài tập áp dụng:
Bài 1: Cần pha chế theo tỉ lệ nào về khối lượng giữa 2 dung dịch KNO 3 có
nồng độ % tương ứng là 45% và 15% để được một dung dịch KNO 3 có nồng độ
20%.
Đáp số: Phải lấy 1 phần khối lượng dung dịch có nồng dộ 45% và 5 phần
khối lượng dung dịch có nồng độ 15% để trộn với nhau.
Bài 2: Trộn V1(l) dung dịch A(chứa 9,125g HCl) với V 2(l) dung dịch
B(chứa 5,475g HCl) được 2(l) dung dịch D.
Coi thể tích dung dịch D = Tổng thể tích dung dịch A và dung dịch B.
a) Tính nồng độ mol/lit của dung dịch D.
b) Tính nồng độ mol/lit của dung dịch A, dung dịch B (Biết hiệu nồng độ
3 x 4 y 0,5
3 y x 1
Giải hệ phương trình này ta được x = 1,1 và y = 0,7.
Vậy, nồng độ ban đầu của dung dịch H2SO4 là 0,7M của dung dịch NaOH
là 1,1M.
Bài tập áp dụng:
Bài 1: Tính nồng độ mol/l của dung dịch NaOH và dung dịch H 2SO4. Biết
nếu lấy 60ml dung dịch NaOH thì trung hoà hoàn toàn 20ml dung dịch H 2SO4.
Nếu lấy 20ml dung dịch H2SO4 tác dụng với 2,5g CaCO3 thì muốn trung hoà
lượng axit còn dư phải dùng hết 10ml dung dịch NaOH ở trên.
Đáp số: Nồng độ mol/l của dd H2SO4 là 1,5M và của dd NaOH là 1,0M.
Bài 2: Tính nồng độ mol/l của dung dịch HNO3 và dung dịch KOH. Biết
- 20ml dung dịch HNO3 được trung hoà hết bởi 60ml dung dịch KOH.
- 20ml dung dịch HNO3 sau khi tác dụng hết với 2g CuO thì được trung hoà
hết bởi 10ml dung dịch KOH.
Đáp số: Nồng độ của dung dịch HNO3 là 3M và của dung dịch KOH là 1M.
Bài 3: Có 2 dung dịch H2SO4 là A và B.
a) Nếu 2 dung dịch A và B được trộn lẫn theo tỉ lệ khối lượng 7:3 thì thu
được dung dịch C có nồng độ 29%. Tính nồng độ % của dd A và dd B. Biết
nồng độ dd B bằng 2,5 lần nồng độ dd A.
b) Lấy 50ml dd C (D = 1,27g/ml) cho phản ứng với 200ml dd BaCl 2 1M.
Tính khối lượng kết tủa và nồng độ mol/l của dd E còn lại sau khi đã tách hết kết
tủa, giả sử thể tích dd thay đổi không đáng kể.
Hướng dẫn:
15
a/ Giả sử có 100g dd C. Để có 100g dd C này cần đem trộn 70g dd A nồng
0,1879 = 0,0121 mol BaCl2 còn dư.
Vậy nồng độ của dd HCl là 1,5M và của dd BaCl2 là 0,0484M
Bài 4: Trộn dd A chứa NaOH và dd B chứa Ba(OH) 2 theo thể tích bằng
nhau được dd C. Trung hoà 100ml dd C cần hết 35ml dd H 2SO4 2M và thu được
9,32g kết tủa. Tính nồng độ mol/l của các dd A và B. Cần trộn bao nhiêu ml dd
B với 20ml dd A để hoà tan vừa hết 1,08g bột Al.
Đáp số: nH2SO4 = 0,07 mol; nNaOH = 0,06 mol; nBa(OH)2 = 0,04 mol.
CM(NaOH) = 1,2M; CM(Ba(OH) 2 ) = 0,8M.
Cần trộn 20ml dd NaOH và 10ml dd Ba(OH) 2 để hoà tan hết 1,08g bột
nhôm.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân đồng nghiệp và với nhà trường.
Đề tài này được tôi áp dụng trong dạy học cho học sinh lớp 8 và lớp 9 năm
học 2018-2019 tại trường THCS Nga Thạch huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
1. Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm đến chất lượng dạy và bản thân:
- Đối với học sinh:
+ Đối với học sinh lớp 8: Các em đã từng bước tiếp cận được với kiến thức,
biết sơ đẳng trong việc phân dạng và giải các bài tập về dung dịch. Dần các em
thấy được niềm tin vào khoa học và yêu thích bộ môn. Đặc biệt đối với đối
tượng học sinh khá giỏi chuẩn bị cho kì thi học sinh giỏi cấp huyện lớp 8 năm
học 2018-2019 các em sau khi được hướng dẫn học đã lĩnh hội được kiến thức
vận dụng giải quyết tốt các bài tập về dung dịch: độ tan, nồng độ dung dịch và
các bài tập liên quan... giúp các em vững tin trong kỳ thi học sinh giỏi tới.
+ Đối với học sinh lớp 9 năm học 2018-2019: Các em đã trang bị cho mình
một lượng kiến thức tốt khi học chương trình lớp 8, 9 về các loại hợp chất vô cơ.
Trong qúa trình vận dụng giải pháp giáo viên nhận thấy học sinh cũng đã
từng bước học tập tốt hơn đối với bộ môn, các em cũng đã hứng thú học tập đối
với bộ môn nhiều hơn.
Kết quả các bài kiểm tra, bài thi các em đã có những kết quả khả quan hơn,
tốt hơn rõ rệt. Cụ thể:
SL
0
0
%
0
0
- Đối với bản thân: Tạo niềm vui và hứng thú khi dạy học, học sinh biết vận
dụng và giải quyết các bài tập góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
- Đối với nhà trường: góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong
điều kiện của trường hiện nay, đặc biệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
III . KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Trong quá trình dạy học sinh, tôi đã vận dụng đề tài này và rút ra một số
kinh nghiệm thực hiện như sau:
- Giáo viên phải chuẩn bị thật kỹ nội dung cho mỗi dạng bài tập cần dạy
cho Học sinh phù hợp với từng bài học để có thể vận dụng vào gải ngay các bài
tập trong bài học. Xây dựng được nguyên tắc và phương pháp giải các dạng bài
toán đó.
- Tiến trình bồi dưỡng kỹ năng được thực hiện theo hướng đảm bảo tính kế
thừa và phát triển vững chắc. Tôi thường bắt đầu từ một bài tập mẫu, hướng dẫn
phân tích đầu bài cặn kẽ để học sinh xác định hướng giải và tự giải, từ đó các em
có thể rút ra phương pháp chung để giải các bài toán cùng loại. Sau đó tôi tổ
chức cho học sinh giải bài tập tương tự mẫu; phát triển vượt mẫu và cuối cùng
nêu ra các bài tập tổng hợp .
- Mỗi dạng bài toán tôi đều đưa ra nguyên tắc nhằm giúp các em dễ nhận
dạng loại bài tập và dễ vận dụng các kiến thức, kỹ năng một cách chính xác; hạn
chế được những nhầm lẫn có thể xảy ra trong cách nghĩ và cách làm của học
viết, không sao chép nội dung của người
khác
Người viết
Nguyễn Mạnh Hùng
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Tên tài liệu tham khảo
SGK hóa học 8
SGK hóa học 9
Bài tập Hoá học nâng cao 8
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên : Nguyễn Mạnh Hùng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường THCS Nga Thạch
TT
1
1
2
3
Cấp đánh giá
xếp loại
Tên đề tài SKKN
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh...)
Một số phương pháp cân Sở giáo dục đào
bằng PTHH
tạo Thanh Hóa
Sử dụng các hiện tượng thực Ngành GD cấp
tiễn nhằm tăng hứng thú học huyện Nga Sơn
tập môn Hóa học cho học
sinh lớp 9 tại trường THCS
Nga Thạch
Rèn luyện kỹ năng nhận biết Ngành GD cấp
B
2015-2016
20
MỤC LỤC
I.
1.
2.
3.
4.
II
1.
2.
3.
4.
III.
1.
2.
Trang
MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
1
Đối tượng nghiên cứu