Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS xuân cẩm, thường xuân - Pdf 56

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở
TRƯỜNG THCS XUÂN CẨM, THƯỜNG XUÂN

Người thực hiện: Cầm Bá Quý
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Cẩm
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý

THANH HOÁ NĂM 2019


MỤC LỤC
TT

Nội dung

Trang

1

1.Mở đầu

1


7

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2

8

2.2. Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn ở trường trung
học cơ sở Dân tộc nội trú

3

9

2.3. Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn
Ngữ văn ở trường trung học cơ sở Dân tộc nội trú

7

10

2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động dạy học

16

11

3. Kết luận, kiến nghị

GVCN
GVCNL
THPT
ĐTNTPHCM
ĐTNCSHCM

Nội dung
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trung học cơ sở
Học sinh
Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm lớp
Trung học phổ thông
Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

CN

Chủ nhiệm

HĐGGNGLL

THCS
HS
GV


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.

nhận thức về vị trí vai trò của công tác CN lớp của một số GV và một số cán bộ
quản lí chưa được đúng tầm. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lí toàn
diện nhà trường đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ GVCN giỏi, có tâm huyết, có
trình độ, năng lực, làm lực lượng nòng cốt. Vậy làm như thế nào để xây dựng
được đội ngũ GVCN lớp đúng tầm của giáo dục trong giai đoạn hiện nay? Là
trách nhiệm của người hiệu trưởng. Trong quá trình quản lí chỉ đạo tại nhà
trường, tôi nhận thấy chất lượng chung của nhà trường có được nâng lên hay
không? Thì đội ngũ GVCN đống góp một phần không nhỏ. Song dể có được đội
ngũ GVCN nhiệt tình, tâm huyết, có năng lực, có kinh nghiệm trong công tác
chủ nhiệm thì hiệu trưởng phải có các biện pháp nhằm kích thích được tính tích
cực, lòng nhiệt tình, tâm huyết, năng lực, trình độ của đội ngũ GV làm công tác
1


GVCN lớp. Từ những lí do trên vì vậy tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Xuân
Cẩm, Thường Xuân” nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ GVCN lớp góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường nói riêng và
ngành giáo duc nói chung.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là
công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Xuân Cẩm..
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Giáo viên, học sinh trường THCS Xuân Cẩm, Thường Xuân.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp toán học.


cố vấn cho các hoạt động tự quản của HS, là người phối hợp các lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường. Là một thành viên quan trọng trong mạng lưới
thông tin của nhà trường. Những thông tin này giúp hiệu trưởng nắm được tình
hình thực hiện kế hoạch và các thông tin khác để có những quyết định đúng đắn
và chính xác.
2.2. Thực trạng công tác GVCN lớp ở trường THCS Xuân Cẩm
Thường Xuân.
Hiện nay chất lượng giáo dục của huyện nói chung của trường THCS
Xuân Cẩm nói riêng có nhiều khởi sắc về chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại
trà, nhiều năm liền trường được xếp ở tốp hai của huyện, HS giỏi, HS đỗ vào đại
học, vào THPT công lập. Ý thức đạo đức của HS có chuyển biến tích cực. Thực
tế cho thấy những năm qua công tác giáo dục nói chung và công tác CN lớp và
quản lý đội ngũ CN lớp của các nhà trường THCS Xuân Cẩm nói riêng đã có
những tiến bộ và có hiệu quả. Đội ngũ GVCN đa số có nhiều kinh nghiệm, có
tay nghề vững vàng và tinh thần trách nhiệm cao, tích cực đổi mới phương pháp,
yêu nghề, tâm huyết với nghề, có uy tín trong phụ huynh và HS.
Phần lớn HS có ý thức kỷ luật, chấp hành tốt nội quy, kỷ luật của trường
có tinh thần cầu tiến, tích cực học tập và hăng hái tham gia các hoạt động tập
thể…
Đa số các CBQL, GV đều cho rằng công tác GVCN có vai trò quan trọng,
có ảnh hưởng lớn đối với kết quả học tập văn hóa và rèn luyện đạo đức của HS.
Bên cạnh những mặt mạnh vẫn còn có hạn chế đó là:
- Một số GV trẻ mới ra trường chưa chuẩn bị tốt kiến thức, kĩ năng làm
công tác GVCN lớp nên trong thực tế công tác nhiều thầy cô còn lúng túng, khó
khăn. Cá biệt còn có một số GVCN tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu sự
quan tâm, giáo dục HS.
- Giáo viên lớn tuổi có kinh nghiệm quản lý lớp tốt nhưng phương pháp
không phù hợp với những hoạt động đổi mới trong sinh hoạt và hoạt động tập
thể hiện nay. GV trẻ có nhiều hình thức đổi mới trong hoạt động sinh hoạt tập

2.1. Qua khảo sát đầu năm học 2016 - 2017 cho thấy cụ thể thực trạng như
sau:
Để tiến hành “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
GVCN lớp trong nhà trường THCS Xuân Cẩm” đạt kết quả tốt, tôi đã thực hiện
các biện pháp khảo sát ở trường tôi phụ trách trong năm học 2016 - 2017 và kết
quả như sau:
2.1.1: Kết quả khảo sát về nhận thức của giáo viên:

Số GV

Hiểu nhưng chưa đầy
Hiểu sâu sắc về vai
Không hiểu về vai
đủ về vai trò, tầm
trò, tầm quan trong
trò, tầm quan trong
quan trong của công
của công tác CN lớp
của công tác CN lớp
tác CN lớp

SL
20

%
0

SL
0


HS
HS
CN

Giáo
Mối quan hệ
dục
giữa GVCN
HS
với HS và

phụ huynh
biệt

Tốt
Khá
T.b
Yếu

2
2
2
2
2
1
3
3
2
2
3

Lớp có HS sôi nổi,

Lớp có HS chưa hứng

đạt hiệu quả cao

thú, hiệu quả hạn chế

SL

%

SL

%

SL

%

8

100

3

37,5

5


cho mình đó là luôn đối đầu với tập thể lớp mà không xây dựng được quan hệ
thân thiện.
2.1.4: Kết quả khảo sát trên HS:
5


Lớp
Khối 6
Khối 7
Khối 8
Khối 9
TS

Số HS
51
65
75
60
251

Hứng thú

Không Hứng thú

Sôi nổi, rất hứng
thú

SL

%

13.33
20.32

7
2
7
4
19

13.7
3.08
9.33
6.67
7.57

Kết quả trên cho thấy số HS hứng thú là 180 chiếm 71.71%, không hứng
thú là 51 chiếm 20.3%, sôi nổi hứng thú là 19 chiếm 7.57 %. Đa số HS đã hứng
thú với các hoạt động của GVCN nhưng số HS có tâm lý sôi nổi và thật sự hứng
thú với hoạt động của GV chưa nhiều. Ngoài ra qua quá trình theo dõi quá trình
tham gia các hoạt động tập thể của HS, qua các hoạt động của HS trong việc
chấp hành nội quy của lớp, Đội TNTPHCM, trường và qua trò chuyện với HS
tôi nhận thấy:
- Về kỹ năng: Một số HS đã có kỹ năng chủ động chọn được các hình
thức hoạt động phù hợp với năng khiếu, sở trường của mình. Lễ phép với thầy
cô, người lớn tuổi, có tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong học tập
và cuộc sống. Nhưng chưa có các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như kỹ
năng phòng tránh ứng phó với một số thảm họa thiên tai như mưa, lũ, cháy nổ,
đuối nước…
- Về thái độ: Đa số HS chưa tự tin, mạnh dạn chủ động tham gia các hoạt
động sinh hoạt tập thể và chia sẻ với người lớn khi xảy ra các thảm họa thiên tai

Thường Xuân”
2.3. Một số giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Từ những thuận lợi và khó khăn trên, là một hiệu trưởng tôi đã thực hiện
những giải pháp sau và đạt được hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng đội
ngũ GVCNL góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại nhà trường
nói riêng và ngành giáo dục nói chung.
2.3.1. Đổi mới việc xây dựng kế hoạch hoạt động CN lớp, việc tổ chức
thực hiện kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch.
- Đổi mới việc xây dựng kế hoạch và hướng dẫn, định hướng cho GVCN
xây dựng kế hoạch CN:
Tôi lập kế hoạch trong đó trú trọng tới công tác CN. Bởi vì lập kế hoạch
CN là lựa chọn của một trong những phương án hành động trong tương lai để
đạt được mục tiêu mong đợi trên cơ sở khả năng hiện tại và cũng để làm cơ sở
để định hướng cho GVCNL xây dựng kế hoạch CN cho lớp CN của mình.
Trong kế hoạch tôi giao chỉ tiêu phấn đấu cho từng khối lớp, từng lớp về
từng mặt phấn đấu cụ thể như: chỉ tiêu về mặt đạo đức, mặt học tập, chỉ tiêu về
phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu, chỉ tiêu về phụ đạo HS yếu và
giáo dục HS cá biệt… hướng dẫn GVCN xây dựng kế hoạch theo mẫu sổ CN và
cụ thể chi tiết. Duyệt kế hoạch công tác của đội ngũ GVCN. Tổ chức góp ý, rút
kinh nghiệm về những ưu khuyết điển và bổ sung những nội dung còn thiếu,
giao cho các tổ chuyên môn tổ chức cho các GVCN thực hiện ký cam kết về
việc thực hiện kế hoạch và các chỉ tiêu giáo dục trong kế hoạch của năm học.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch:
Sau khi có kế hoạch cụ thể, tôi tổ chức họp tổ CN, phân công rõ ràng từng
nội dung công việc đến từng thành viên thực hiện. Sự phân công phải cụ thể về:
Nội dung công việc, thời gian hoàn thành, chất lượng sản phẩm. Đặc biệt tôi xác
lập cơ cấu phối hợp giữa các bộ phận chức năng để công việc được tiến hành
đồng bộ, toàn diện, đúng với tiến độ của kế hoạch chung
Trong quá trình thực hiện kế hoạch, tôi luôn trú trọng đến công tác nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý lớp của GVCN bằng cách rút kinh

trương chính sách của Đảng, đặc biệt là các chủ trương, chính sách trong thời kỳ
đổi mới, chú trọng chủ trương đổi mới công tác quản lý giáo dục. Nắm vững hệ
thống các mục tiêu quản lý của trường THCS, trong đó có mục tiêu quản lý công
tác CN lớp trong giai đoạn mới. Người GV phải thấy được vị trí, vai trò của
GVCNL đối với việc thực nhiệm vụ chính trị của nhà trường, của bậc học, với
việc thực hiện nhiệm vụ năm học. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, để nâng
cao chất lượng giáo dục đòi hỏi phải có đội ngũ GVCNL có trình độ chuyên
môn, có kinh nghiệm trong ứng xử sư phạm và lòng nhiệt tình, ý thức trách
nhiệm với HS.
8


Để làm được điều đó, ngay từ đầu năm học, tôi đã tổ chức cho cán bộ,
GV, nhân viên trong toàn trường tìm hiểu các tài liệu, các văn bản của ngành,
của Sở quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của GVCNL. Có nhiều
hình thức có thể tập huấn tập chung, có thể in ấn các tài liệu giao cho các cán bộ,
GV, nhân viên tìm hiểu theo nhóm, khối và yêu cầu viết thu hoạch hoặc tổ chức
hội thảo chuyền đề về “ vai trò và tầm quan trọng của người GVCNL trong giai
đoạn hiện nay”. Trong các buổi họp, thảo luận chuyên đề tôi giao cho các nhóm
GV, các cá nhân, Đoàn, Đội…chuẩn bị một số tham luận hướng đến chủ đề “vai
trò và tầm quan trọng của người GVCNL”. Đối tượng tham gia không chỉ có tất
cả các cán bộ, GV và nhân viên trong nhà trường mà cần mời đại diện các lực
lượng giáo dục ngoài nhà trường tham dự nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

Buổi họp, thảo luận chuyên đề công tác chủ nhiệm lớp của tập thể CBGV trường
THCS Xuân Cẩm

- Bồi dưỡng nâng cao năng lực làm GVCN và xây dựng đội ngũ GVCNL.
Tôi đã phối kết hợp với các bộ phận chức năng xây dựng kế hoạch chiến
lược về công tác bồi dưỡng, đào tạo GVCN cụ thể trong kế hoạch Bồi dưỡng đội

biết HS về tâm lý lứa tuổi; Năng lực giao tiếp với HS và phụ huynh HS; Năng
lực tổ chức các hoạt động tập thể; Khả năng cảm hóa, thuyết phục HS theo từng
cá tính HS; Điều kiện, hoàn cảnh của từng GV và một trong những yếu tố không
thể thiếu là đảm bảo tính kế thừa, khoa học, phù hợp với đăc điểm, tình hình của
nhà trường và chương trình dạy học.
Song song với việc bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ GVCN tôi luôn quan
tâm tới việc thành lập tổ CN. Tôi trực tiếp làm tổ trưởng hoặc giao cho phó hiệu
trưởng phụ trách. Để tổ CN hoạt động theo đúng chức năng của mình, tôi đã chỉ
đạo việc xây dựng các quy định, quy chế hoạt động như: quy định về vị trí,
chức năng và nhiệm vụ của tổ CN; quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của tổ trưởng, tổ phó khối phó CN; Xây dựng quy chế làm việc, quy
chế hội họp, quy chế thông tin báo cáo…nhằm tạo một hành lang pháp quy cho
tổ CN.
- Thực hiện quản lý công tác GVCN lớp một cách khoa học.
Trong thời gian qua tôi đã quản lý công tác CN lớp một cách có hệ thống,
tạo nên một thể thống nhất, hoàn chỉnh và đảm bảo cho quá trình đó đạt được
hiệu quả tối ưu. Hay nói cách khác, phải nhìn nhận quá trình đó ở trong trường
dưới góc độ bao quát và toàn diện. Phải xác định được các thành tố trong quản
lý công tác CN lớp gồm: Quản lý các thầy, cô giáo làm CN lớp; quản lý những
công việc cụ thể; Quản lý các mối quan hệ giữa GVCN lớp với HS, mối quan hệ
giữa GVCN lớp với GV khác, giữa GVCN với phụ huynh HS, với xã hội; Quản
lý hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nền nếp của HS, đánh giá xếp loại
hạnh kiểm HS; Quản lý hồ sơ của CN lớp; quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng
đội ngũ GV. Để quản lý tốt công tác CN lớp, đảm bảo hệ thống vận hành đúng
yêu cầu người hiệu trưởng cần hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho GV làm CN lớp
10


một cách rõ ràng, có kế hoạch kiểm tra thường xuyên việc thực hiện các nhiệm
vụ đã giao, có hệ thống công cụ để theo dõi, kiểm tra đánh giá tiến độ thực hiện

yêu cầu đối với GV làm công tác CN lớp về nội dung phương pháp và kỹ năng
thực hiện công tác của GVCN lớp. Những kinh nghiệm công tác của GVCN lớp.
Phương hướng, giải pháp tăng cường năng lực làm công tác CN cho GV. GVCN
lớp với việc triển khai có hiệu quả phong trào thi đua" Xây dựng trường học
thân thiện, HS tích cực"
Các nội dung hội thảo trên được phân công cho một số đồng chí GV
chuẩn bị trước, mỗi đồng chí chuẩn bị một đến hai nội dung và mỗi nội dung có
hai đến ba đồng chí chuẩn bị.
- Thành phần tham gia hội thảo: Toàn bộ GV nhà trường vì ai cũng có thể
phải làm GVCN không tham gia CN tại thời điểm hiện tại thì cũng có thể tham
gia trong thời gian tiếp theo. Chủ trì hội thảo: một đồng chí trong ban giám hiệu
thường có thể là tôi hoặc là Phó hiệu trưởng chuyên môn.
Sau hội thảo tôi có văn bản chỉ đạo thống nhất các vấn đề mà hội thảo
đã thảo luận mà chưa có trong các văn bản quy định của cấp trên để triển khai
thực hiện thống nhất trong nhà trường.

Hội thảo về công tác chủ nhiệm của tập thể CBGV trường THCS Xuân Cẩm

+ Tổ chức thi GVCN giỏi:
- Đối tượng dự thi: Là những GVCN được xếp loại GVCN giỏi trong học
kì hoặc trong năm.
- Nội dung dự thi: Một sáng kiến đổi mới về công tác CN lớp. Thực hiện
02 tiết hướng dẫn hoặc chỉ đạo lớp thực hiện các hoạt động như: Sinh hoạt lớp
cuối tuần, GV CN họp với ban cán sự lớp, GVCN lớp làm công tác tuyên truyền
với HS...
- Tiêu chuẩn GVCN giỏi: Xếp loại cuối năm là GVCN Giỏi. Sáng kiến
12


được xếp loại. Hai tiết làm công tác CN với lớp xếp 1 tiết loại khá, 1 tiết loại

tập, sắp xếp chỗ ngồi. luân chuyên cán bộ lớp…
Kiểm tra việc thực hiện nền nếp của lớp hàng ngày như: đi học, trực nhật,
vệ sinh, tập thể dục giữa giờ, trang trí lớp, bảo vệ của công; kiểm tra việc thu chi
của các lớp, kiểm tra việc đánh giá HS của GVCN. Căn cứ vào những quy định
cụ thể của trường để đánh giá cho điểm; công bố công khai trước toàn trường.
Kiểm tra việc ghi lý lịch của HS vào sổ kiểm tra đánh giá HS. Căn cứ vào
kế hoạch được giao, GVCN phải ghi đầy đủ thông tin vào sổ. Trong quá trình
kiểm tra tôi nghe GVCN báo cáo về hoàn cảnh đặc biệt của HS, diện con thương
binh liệt sĩ, bệnh binh, hộ nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt, nghe giải pháp của
GVCN trong việc giúp đỡ HS cá biệt, HS có hoàn cảnh khó khăn.
Kiểm tra việc đánh giá, xếp loại hạnh kiểm, học lực HS cuối kỳ, cuối
năm theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, xét lên lớp, thi lại ở lại lớp rèn luyện
trong hè, đề nghị các danh hiệu thi đua cuối kì và cuối năm...Căn cứ vào yêu cầu
13


nội dung các môn học, kiểm tra việc đánh giá của GVCN có đúng không.
Kiểm tra việc GV CN lớp làm công tác phối hợp với gia đình HS, với GV
bộ môn của lớp, với Đội thiếu niên để giáo dục HS...và làm công tác giáo dục
HS cá biệt, công tác tuyên truyền, vận động sĩ số…
Kiểm tra kết quả và hình thức GVCN lớp tổ chức các phong trào thi đua
cho lớp thực hiện, tổ chức các hoạt động vui chơi, sinh hoạt lớp, sinh hoạt ngoài
giờ lên lớp theo chủ điểm, phổ biến các kĩ năng sống, ứng xử cho HS trong lớp.
+ Hình thức, phương pháp kiểm tra.
Trong quá trình chỉ đạo tôi luôn luôn vận dụng linh hoạt các hình thức và
phương pháp kiểm tra sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Có thể trực tiếp kiểm tra,
hoặc giao cho Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, tổng phụ trách Đội, bí
thư Đoàn thanh niên hoặc thành lập các tổ kiểm tra công tác CN lớp.
Kiểm tra định kì công tác CN và phong trào lớp. Có thể kiểm tra hai tháng
một lần. Ngoài ra có thể lồng trong kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ khi GV đảm

báo kịp thời với GVCN về tình hình học tập, diễn biến tư tưởng hành vi của con
em mình ở gia đình để từ đó phối hợp chặt chẽ với gia đình trong công tác giáo
dục đạo đức HS.
Tạo mối quan hệ mật thiết với chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế
đoàn thể đẻ tổ chức cho HS tham gia vào các hoạt động xã hội và huy động các
nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất.

Buổi sinh hoạt HĐNGLL truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trương của trường THCS
Xuân Cẩm

GVCN phải báo cáo thường xuyên và định kỳ với tôi về tình hình mọi mặt
của lớp. Khi có thay đổi GVCN lớp hoặc HS chuyển lớp thì GVCN cũ phải bàn
giao cụ thể tình hình mọi mặt của lớp cho GVCN mới. Lồng ghép công tác CN
lớp trong quy chế khen thưởng chung của nhà trường nhằm khuyến khích các
lực lượng tham gia công tác CN lớp
Xây dựng quy chế quản lý đội ngũ GVCN lớp gắn với công tác thi đua. Tôi
15


tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ các văn bản, thông tư về quy chế quản lý GV, quản
lý HS và tổng hợp thành văn bản của đơn vị. Trong văn bản đó cần cụ thể hoá
những chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên trong nhà trường, ghi
rõ nội dung công việc, đề ra yêu cầu cụ thể. Tổ chức cho GV thảo luận để đi đến
thống nhất thành nghị quyết chung trong hội đồng sư phạm nhà trường. Tổ chức
thực hiện theo quy trình quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh
giá, điều chỉnh, làm cơ sở rút kinh nghiệm qua các lần đánh giá. Xây dựng các
tiêu chí đánh giá thi đua, đánh giá hoạt động CN lớp; thi GV CN giỏi hằng năm.
Xây dựng tiêu chí đánh giá GVCN giỏi.
Với các biện pháp tôi trình bày trên đây có mối quan hệ chặt chẽ, tác
động, hỗ trợ và bổ sung cho nhau.Việc đổi mới việc xây dựng kế hoạch hoá hoạt

trò, tầm quan trong đủ về vai trò, tầm trò, tầm quan trong
của công tác CN lớp
quan trong của công của công tác CN lớp
tác CN lớp

16


SL

%

SL

%

SL

%

9/2016

0

0

4

50


0

5/2018

8

100

0

0

0

0

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy đã có sự thay đổi đáng khích lệ số GV
hiểu sâu sắc về vấn đề này đã tăng lên rõ rệt từ tỷ lệ rất thấp là 0% đã tăng thành
100%. Số GV hiểu còn chưa đầy đủ về vai trò, tầm quan trong của công tác CN
lớp đã giảm xuống còn 25 %. Đặc biệt là không có GV nào không hiểu biết về
vấn đề này. GVCN của nhà trường đã hiểu sâu sắc về tầm quan trọng của công
tác CN lớp. Từ đó, họ ý thức được nhiệm vụ tự học, tự bồi dưỡng để trau dồi
cho mình những kinh nghiệm và phương pháp CN tốt. Qua đó, tạo điều kiện
phát huy khả năng sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạt hiệu
quả.
- Kết quả khảo sát về thực hiện công tác CN lớp của đội ngũ GV CN lớp
+ Cuối năm 2016 - 2017.
Số GV 8

Đánh giá Kỹ năng


7

6

Khá

3

2

0

1

1

2

T.b

0

0

0

1

0

HS
HS
CN

Mối quan hệ
Giáo
giữa GVCN
dục HS
với HS và
cá biệt
phụ huynh

Tốt

8

8

8

7

8

7

Khá

0


0

0

0

0

Qua bảng khảo sát cho thấy đội ngũ GVCN lớp có kỹ năng, kinh nghiệm làm
công tác CN tốt đã tăng lên đáng kể . Việc giáo dục HS cá biệt tiến bộ vượt bậc
từ tỉ lệ GV thực hiện tốt thời điểm năm 2018 là 8 đồng chí. Đặc biệt không có
GV nào không có khả năng giáo dục HS cá biệt . Mối quan hệ giữa GVCN với
17


HS và phụ huynh đã gần gũi, HS đã thực sự tin tưởng vào GVCN. Sự phối kết
hợp giữa GVCN với gia đình HS thường xuyên hiệu quả hơn.
- Kết quả dự giờ tiết sinh hoạt, tiết tổ chức HĐGDNGLL của GV CNL
Số GV: 5

HS sôi nổi, đạt hiệu HS chưa hứng thú,

Tổng số giờ dự
SL

quả cao

%

hiệu quả hạn chế


75

2

25

9/2017

8

100

7

87,5

1

12,5

5/2018

8

100

8

100

Khối 9
TS

Số HS
51
65
75
60
251

Sôi nổi, rất hứng
thú
SL
%
50
55
66
54
225

98.04
84.62
88
90
89.64

Hứng thú

Không hứng thú


1.59

18


+ Năm học 2017 – 2018
Lớp
Khối 6
Khối 7
Khối 8
Khối 9
TS

Số HS
51
65
75
60
251

Sôi nổi, rất hứng
thú
SL
%
51
65
75
60
251


0
0
0
0
0

0
0
0
0
0

Kết quả trên cho thấy số HS sôi nổi hứng thú đã tăng vượt bậc là 251
HS chiếm 100 %. Đa số HS đã sôi nổi hứng thú với các hoạt động của GVCN.
Qua quá trình thực hiện các giải pháp trên tại nhà trường, từ kết quả trong
các bảng thống kê trên tính đến nay, cho thấy tỉ lệ GVCN có kinh nghiệm, có kỹ
năng phương pháp CN tốt tăng cao so với những năm học trước. Với các biện
pháp chỉ đạo cụ thể của bản thân tôi, các GVCN đã có kế hoạch hoạt động cụ
thể, rõ ràng phù hợp yêu cầu chung của nhà trường và thực tế của lớp CN. Năng
lực làm công tác CN lớp, phương pháp, kĩ năng thực hiện công tác CN lớp của
đội ngũ GV nhà trường được nâng cao, đáp ứng đúng vai trò chức năng GVCN
là cầu nối giữa ban giám hiệu các tổ chức đoàn thể và đội ngũ GV bộ môn của
lớp với HS. GVCN là người thay mặt và chịu trách nhiệm toàn diện về lớp của
mình trước Ban giám hiệu trực tiếp thay mặt nhiệu trưởng quản lí lớp HS. Khi
được phân công làm CN lớp GV sẵn sàng và thoải mái, vui vẻ nhận nhiệm vụ.
Không còn tình trạng tránh né, đùn đẩy, thắc mắc. Đội ngũ GVCN đã thiết tha
gắn bó với lớp và HS của mình. Các hoạt động của tổ CN ngày càng có chất
lượng, không còn mang tính chất hình thức giải quyết sự vụ, sự việc của công
việc hành chính đơn thuần mà tập trung chủ yếu vào bàn các giải pháp để nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức HS và đa dạng hóa các hình thức hoạt động và

ham thích đến trường, thi đua học tập, nhiệt tình tham gia các phong trào của
nhà trường. Ý thức học tập của các em nghiêm túc hơn. Chất lượng dạy học
của trường ngày càng được nâng cao và củng cố vững chắc. Tỉ lệ HS giỏi, HS
tiên tiến, HS lên lớp thẳng, HS xếp loại hạnh kiểm khá tốt tăng dần.Tỉ lệ HS
yếu, kém và hạnh kiểm trung bình giảm dần không có HS vi phạm kỷ luật xếp
hạnh kiểm yếu. Tinh thần, ý thức học tập của HS được nâng cao, tỉ lệ HS bỏ
học giảm.
Đặc biệt hiệu quả hơn là kết quả của phong trào thi đua "Xây dựng
trường học thân thiện, HS tích cưc". Trường lớp luôn luôn được giữ gìn xanh,
sạch và đẹp. Quan hệ thầy trò luôn đảm bảo đúng mực, thân thiện tôn trọng và
công bằng. HS đã chủ động tích cực học tập, mạnh dạn, lễ độ hơn khi tiếp xúc
với thầy cô giáo và nhân viên cán bộ nhà trường. Nhiều kĩ năng kiến thức cuộc
sống, cách ứng xử văn minh có văn hoá... và các trò chơi được GVCN tổ chức
triển khai cho lớp và HS thực hiện. Môi trường sư phạm trong nhà trường lành
mạnh và có văn hóa. Kết quả phong trào " Xây dựng trường học thân thiện, HS
tích cực của nhà trường được đoàn kiểm tra của xã, huyện đánh giá loại tốt
trong các năm qua.
Qua thực tế, tôi thấy một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với
công tác CN lớp có thể áp dụng đối với tất cả các trường THCS. Nhưng để đạt
được hiệu quả như thế nào phụ thuộc vào sự tâm huyết, nhiệt tình, sáng tạo của
đội ngũ cán bộ quản lý và GV CN lớp. Từ thực tế nghiên cứu thử nghiệm tại nhà
trường THCS Xuân Cẩm, tôi thấy để sáng kiến mang lại hiệu quả thì: Người
hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch hoạt động từ đầu năm học, triển khai tới các
bộ phận, các GVCN và có yêu cầu cụ thể về việc triển khai, kiểm tra đánh giá
mức độ hoàn thành trong từng thời điểm của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân. GVCN
phải có năng lực quản lý, điều hành, có tâm huyết với các hoạt động của lớp, các
hoạt động tập thể của trường. Phải có sự vào cuộc, phối hợp chặt chẽ của các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đặc biệt là Hiệu trưởng nhà trường.
Nhà trường phải có đủ những điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho
giảng dạy, học tập của thầy và trò, phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt tập thể,

chân thành từ quý thầy cô và đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện và được
vận dụng hiệu quả, thiết thực hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Xuân Cẩm, ngày 06 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Người viết SKKN

Cầm Bá Quý

Tài liệu tham khảo
21


1. Điều lệ trường trung học - Ban hành kèm theo thông tư số 12/2011/TTBGDĐT ngày 28/03/2011.
2. Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THCS,
trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học ban hành kèm theo thông tư số
13/2012/ TT-BGDĐT ngày 06/04/2012.
3. Quy chế đánh giá xếp loại HS THCS, THPT ban hành kèm theo thông
tư số 58/2011/TT - BGDĐT ngày 12/12/2011
4. Thông tư số 30/2009/TT-BGD&ĐT ngày 22/10/2009 qui định chuẩn
nghề nghiệp GV THCS và THPT.
5. Công văn 660/BGD&ĐT-NGCBQLGD 9/02/2010 v/v hướng dẫn
đánh giá xếp loại GVTHCS và THPT theo TT số 30/2009/TT-BGD&ĐT ngày
22/10/2009.
6. Lý luận đại cương về quản lý – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí
7. Giáo trình GD học - Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) – NXB ĐHSPHN


Một số biện pháp giáo
1.

dục học sinh chậm tiến
ở trường THCS Xuân

Phòng GD&ĐT
Thường Xuân

C

2012-2013

Phòng GD&ĐT
Thường Xuân

C

2014-2015

Phòng GD&ĐT
Thường Xuân

B

2016-2017

Cẩm
Một số biện pháp nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status