Khoá luận tốt nghiệp tổ chức hoạt động học cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản vợ nhặt (ngữ văn 12) - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

NGUYỄN MINH KHUÊ

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC
HIỂU VĂN BẢN VỢ NHẶT
(NGỮ VĂN 12)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI, 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

NGUYỄN MINH KHUÊ

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC
HIỂU VĂN BẢN VỢ NHẶT
(NGỮ VĂN 12)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học


CT : Chương trình
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
PT

: Phổ thông

SGK : Sách giáo khoa
THPT: Trung học phổ thông
TPVC: Tác phẩm văn chương
CH : Câu hỏi


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ......................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ...............................................................................................5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................................5
5. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................5
6. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................5
7. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................5
NỘI DUNG .................................................................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .....................................................7
1.1. Hoạt động học ......................................................................................................7
1.1.1. Khái niệm hoạt động học ..................................................................................7
1.1.2. Bản chất của hoạt động học ..............................................................................7
1.1.3. Sự hình thành hoạt động học của học sinh........................................................8
1.1.4. Tổ chức hoạt động học của HS .........................................................................9
1.2. Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu ............................................................................11

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ xu thế xã hội hiện nay: toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và việc
đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phù hợp đòi
hỏi của xã hội trong giai đoạn mới.
Để đáp ứng được nhu cầu cùng với những thay đổi nhanh chóng của thời đại
mà nền Giáo dục ở Việt Nam đã có những sự thay đổi kịp thời để thích ứng với những
biến đổi như vũ bão của khoa học công nghệ mới và sự toàn cầu hóa.
Nền giáo dục của nước ta đã yêu cầu có những đổi mới từ chương trình giáo
dục phổ thông. Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc
hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là: “ Xây dựng nội dung chương
trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt
Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và
trên thế giới” đồng thời văn bản yêu cầu “đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học,
cấp học quy định trong Luật Giáo dục; khắc phục những mặt hạn chế của chương
trình sách giáo khoa; tăng cường tình thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học;
coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh”.
Trong những năm vừa qua, nước ta đã có nhiều thay đổi và sự biến chuyển
không chỉ trong việc dạy học mà cả trong thi cử. Một giờ học có hiệu quả hay không
thì phương pháp dạy học là rất quan trọng, Talleyrand (một nhà chính trị, một nhà
ngoại giao thời cận đại có ảnh hưởng to lớn trên vũ đài chính trị nước Pháp và thế
giới ) đã nói: “ Phương pháp là thầy của các thầy”. Không chỉ trong các môn học
khác, ngay trong bản thân môn Ngữ Văn cũng đã có nhiều biến chuyển. Nếu như theo
phương pháp truyền thống, thì GV là “trung tâm” của giờ học, mọi cảm thụ Văn Học
đều theo định hướng của GV đề ra, còn HS chỉ là đối tượng tiếp nhận mà không được

phổ thông hiện nay.
“Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân là một văn bản được đưa vào CT SGK Ngữ
Văn lớp 12 từ năm 2008. Đây là một trong những văn bản trọng tâm trong chương
trình bởi đây là một văn bản mang tính nhân văn, giá trị nhân đạo sâu sắc và những
thông điệp ý nghĩa mà tác giả gửi gắm. Mỗi GV sẽ có những hướng tiếp cận văn bản
và hướng giảng dạy khác nhau để truyền tải kiến thức đến HS nhưng vẫn đơn thuần
là chú trọng về nội dung chứ chưa có cách tiếp cận nào thống nhất trong việc khám
phá văn bản để hình thành và phát triển kỹ năng, năng lực HS mặc dù được giảng dạy
trong nhà trường PT cụ thể là lớp 12 cho đến nay gần 10 năm. Tổ chức và thiết kế
hoạt động học trong dạy học văn bản “Vợ nhặt” nói riêng và văn bản nói chung để

2


làm sao cho “HS tích cực hóa trong giờ học”, sau mỗi giờ học HS đã hình thành được
những kỹ năng, năng lực cơ bản, cần thiết, trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh
hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tổ chức hoạt động học cho học
sinh trong dạy đọc hiểu văn bản Vợ nhặt (Ngữ Văn 12)” làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Một số công trình nghiên cứu về Kim Lân và tác phẩm “Vợ nhặt”:
Nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá khác nhau đã bàn về cuộc đời và sự
nghiệp của Kim Lân từ trước đến nay. Đông đảo bạn đọc, giới văn nghệ sĩ, phóng
viên, nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm đến Kim Lân đặc biệt từ sau Tuyển
tập Kim Lân (in năm 1996) do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn.
Đó là những bài báo, bài phỏng vấn về Kim Lân xoay quanh cuộc sống văn
chương, quan điểm viết văn và một số tác phẩm trong đó có “Vợ nhặt”, tiêu biểu là
các bài:
+ Hương Giang: Phỏng vấn “Vợ nhặt”-Báo Văn nghệ số 19/1993.
+Hà Minh Đức: Về truyện “Vợ nhặt”- trích trong Nhà văn nói về tác phẩm,

động học trong dạy học đọc – hiểu.
+ Trong một cuốn tạp chí Văn học và tuổi trẻ Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống đã
so sánh sự khác nhau giữa giờ giảng văn và giờ tổ chức dạy đọc – hiểu.
Phương diện so sánh trên tuy không tạo được phần nhiều sự đồng tình nhưng
cũng phần nào chỉ ra được bản chất của việc dạy học đọc – hiểu có ưu điểm hơn rất
nhiều
+ Trong cuốn Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường Trung học phổ
thông -nxb giáo dục việt nam,2015, TS. Bùi Minh Đức (chủ biên ) đã nói rõ hoạt
động dạy học đọc – hiểu thì việc đọc đóng vai trò thiết yếu từ đây, mới quyết định
rằng giờ giảng dạy ấy có thành công hay không đặc biệt là HS được “sống” trong giờ
học Văn: “ Dạy học TPVC trong nhà trường là quá trình GV tổ chức HS hoạt động
tiếp nhận tác phẩm. Đọc văn, học văn trong nhà trường, xét cho cùng, là việc HS cảm
thụ văn học và học cách tiếp nhận tác phẩm dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV. Cho
nên, nếu không có lao động cảm thụ thật sự ở HS thì việc dạy học văn đích thực vẫn
chưa diễn ra. Điều này, cũng có nghĩa là chừng nào HS còn đứng ngoài vòng đời của
một tác phẩm, còn chưa phải là bạn đọc thì chừng đó giờ văn vẫn chỉ là giờ của thầy
giáp, chỉ thầy là độc giả của nhà văn. Bởi vậy, coi HS là bạn đọc tức là đã xác nhận
đúng vị trí, vai trò của người học văn trong nhà trường.”[6-tr.5]
Từ những điều đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi nhằm hướng đến vấn
đề:

4


- Tổ chức và thiết kế hoạt động học cho HS trong một giờ dạy học đọc – hiểu
theo nguyên tắc chủ động, tích cực là vấn đề cốt lõi của việc đổi mới dạy học Ngữ
văn
- Đề ra những hoạt động học cho Học sinh trong một văn bản cụ thể trong
chương trình lớp 12: “Vợ nhặt” dựa theo đặc trưng loại thể
- Tổ chức một giờ dạy học đọc – hiểu tác phẩm “Vợ nhặt” dung hòa được giữa

Kết luận

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Hoạt động học
1.1.1. Khái niệm hoạt động học:
“Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi
và những dạng hoạt động nhất định.” [9-tr.106].
1.1.2. Bản chất của hoạt động học:
1.1.2.1. “Đối tượng của hoạt động học”.
Chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân
là cái đích mà hoạt động học hướng tới. Việc này sẽ không thể thực hiện được nếu
người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm. Muốn học có kết
quả thì người học cần học bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của mình. Vậy
đối tượng ở đây là “ tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó” [9-tr.106].
1.1.2.2. “Hoạt động học là hoạt động thay đổi chính mình”.
Nội dung tri thức mà con người tích lũy chính là đối tượng hoạt động học.
Tâm lí của chủ thể thay đổi, phát triển nhờ sự chiếm lĩnh này . Những biến đổi trong
bản thân học sinh diễn ra trong hoạt động học: kĩ năng, tri thức, kỹ xảo biến đổi ở cấp
độ phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp, học tập cho đễn mức độ năng lực trí tuệ và
nhân cách.
1.1.2.3. “Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm
tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo”.
Trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể, chủ thể hoạt động tiếp thu tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo. Những điều này mang tính kinh nghiệm, tích lũy nhưng không mang
tính hệ thống và không có cơ sở khoa học. Ngược lại, trong hoạt động học lại có tính

1.1.3.2. Mục đích học tập
Trong quá trình diễn ra hành động mục đích được hình thành dần dần. Khi chủ
thể bắt tay hành động thì mục đích mới thực sự có. Lúc này, chủ thể thâm nhập vào
đối tượng, nội dung của mục đích ngày càng được hiện hình, lại càng định hướng cho
hành động và nhờ đó chủ thể chiếm lĩnh được tri thức mới, năng lực mới. Mục đích
thực ra ban đầu chưa hình thành, nó mới chỉ là biểu tượng đầu tiên về mục đích, do
trí tưởng tượng tạo ra để định hướng cho hành động.
1.1.3.3. Hình thành các hành động học tập

8


-Hành động học tập: gồm 3 hành động
+ Hành động phân tích: Là công cụ quan trọng nhất để khám phá đối tượng
+Hành động mô hình hóa: Giúp diễn đạt logic một cách trực quan
+Hành động cụ thể hóa: Giúp HS giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng
lĩnh vực bằng vận dụng phương thức hành động chung.
-Trong việc dạy học, quá trình hình thành khái niệm thì ba phương thức hành
động trên được hình thành và phát triển. Sau khi hình thành nó trở thành công cụ,
phương tiện học tập và góp phần quyết định chất lượng học tập mà ban đầu nó chính
là đối tượng lĩnh hội.
1.1.4. Tổ chức hoạt động học của HS
Theo học thuyết Mác – Lênin: “ Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn vận động và
phát triển, nó vận động và phát triển được là do có sự đấu tranh và thống nhất giữa
các mặt đối lập”. Như vậy: thúc đẩy mọi hoạt động của con người thì yếu tố chính là
mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn. Hoạt động học cũng vậy, động lực của quá
trình dạy học chính là các mâu thuẫn bên trong và việc giải quyết các mâu thuẫn bên
trong của quá trình dạy học. Việc tổ chức hoạt động học của HS bắt đầu kể từ trình
độ tri thức kĩ năng, kĩ xảo khi HS bắt đầu nghiên cứu môn học (một phần, một chương
hay một bài) đến trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo khi HS hoàn thành xong việc nghiên

Bốn là: Trò tự hình thành mâu thuẫn và tự giải quyết mâu thuẫn dưới sự hướng
dẫn của GV
Hoạt động 3: Tổ chức hình thành cho HS những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng.
Hoạt động 4: Tổ chức cho HS ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Sự phân chia các khâu của quá trình dạy học trên chỉ là tương đối. GV không
nhất thiết phải thực hiện theo trình tự những khâu trên trong quá trình dạy học, tùy
theo trình độ GV mà các hoạt động trên được thực hiện một cách linh hoạt và sáng
tạo.
Thứ ba, là hoạt động sau giờ học: Đây là bước tiếp diễn của khâu học trên lớp,
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Giúp HS mở rộng, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát
hóa kiên thức HS đã học trên lớp; Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức vào để
giải quyết những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra…
GV giao nhiệm vụ bài tập cho HS về nhà hoàn thành, cá biệt hóa bài tập về nhà
cho HS, có hướng dẫn chu đáo để HS có thể hoàn thành được bài tập ở nhà. Đảm bảo
những nhiệm vụ học tập của HS có tính đa dạng: bài tập định tính, bài tập vận dụng
vào nhiều tình huống khác nhau…Trong đó, chú ý các bài tập vận dụng vào những
tình huống gắn liền với thực tiễn cuộc sống của HS

10


GV đặt ra cho HS những tình huống liên quan đến bài học tạo cơ hội để HS tự
bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, tính tự giác, độc lập suy nghĩ, tính kỉ luật, tính kế
hoạch trong học tập, có sự sáng tạo, màu sắc riêng…
1.2. Đọc hiểu và dạy học đọc hiểu
1.2.1. Khái niệm đọc hiểu
Khái niệm đọc hiểu văn bản là vấn đề được đưa ra trao đổi rất nhiều ở Việt Nam,
trước hết là vấn đề về bản chất của khái niệm này.
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Đọc là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu”

thù của bộ môn với những biện pháp cụ thể chỉ dẫn HS đọc văn nhằm khám phá giá
trị nội dung và nghệ thuật, cái thẩm mĩ, tinh hoa của tác phẩm. Đọc – hiểu vừa là
phương pháp, vừa là tri thức, vừa là mục đích, kết quả của việc học văn và cần luyện
tập thành những kĩ năng cơ bản. Dạy văn là dạy cho HS phương pháp, kĩ năng đọc,
năng lực đọc để HS có thể đọc – hiểu bất kì văn bản nào cùng loại. Theo mô hình đổi
mới từ chương trình giáo dục định hướng nội dung sang chương trình định hướng
phát triển năng lực cụ thể trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện cần phải làm như
thế nào để HS sau khi tham gia vào hoạt động học dưới sự tổ chức của GV có thể
hình thành kỹ năng đọc hiểu tất cả các văn bản truyện khác ngoài chương trình; vận
dụng các kiến thức, kỹ năng đã được học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Cụ thể là hình thành cho HS năng lực đọc hiểu văn bản truyện để từ đó hình thành
cho HS các năng lực khác khi học đọc hiểu văn bản truyện.
1.2.2.2.Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Quá trình dạy học đọc hiểu phải được hoạt động hóa, trong đó GV là người tổ
chức, hướng dẫn và giao các nhiệm vụ đọc cho HS theo một quy trình đã được thiết
kế, còn HS là người tiếp nhận và thực thi các nhiệm vụ đọc hiểu. Việc xác định quy
trình dạy học đọc hiểu được xét trên các yếu tố cơ bản sau:
1) Yêu cầu của dạy học đọc hiểu văn bản nói chúng và văn bản văn học nói
riêng theo định hướng phát triển năng lực học sinh để biên soạn giáo án và tổ chức
dạy học trên lớp
2) Đặc trưng của văn bản văn học với ba tầng cấu trúc: tầng ngôn từ, tầng hình
tượng, tầng ý nghĩa
3) Đặc điểm tâm lí cảm thụ văn học, cần chú ý việc tạo tâm thế đọc cho HS
trong quá trình dạy học đọc hiểu trước khi tổ chức cho HS tri giác ngôn ngữ, tái tạo
hình tượng, phân tích, lí giải các chi tiết nghệ thuật và khái quát hóa tư tưởng nghệ
thuật của người viết
4) Mô hình bài học đọc hiểu trong SGK, hoạt động dạy học đọc hiểu cần có
những hoạt động thành phần: tìm hiểu tri thức đọc; đọc văn bản và tìm hiểu chú thích;
đọc hiểu văn bản theo các câu hỏi hướng dẫn; khái quát hóa, xác định những giá trị
nội dung và nghệ thuật cần nắm vững ở bài học; thực hành, luyện tập và vận dụng

tin của văn bản.
3. Phản hồi và đánh giá văn bản: nếu văn bản là đầu vào thì việc phản hồi chính
là đầu ra được thông qua từ những kỹ năng, năng lực mà các em đã áp dụng khi đọc
hiểu văn bản:

13


+Đưa ra nhận xét, đánh giá của bản thân với giá trị của văn bản, ý tưởng, cảm
hứng của tác giả qua việc kết nối, so sánh, đối chiếu với các mối liên hệ ngoài văn
bản và kinh nghiệm sẵn có của bản thân.
+Phê phán, đánh giá văn bản trong mối liên hệ giữa Văn bản với hiện thực đời
sống; với các Văn bản cùng tác giả, đề tài, chủ đề; cùng những trải nghiệm, cuộc sống
của độc giả trong ngữ cảnh đọc cụ thể
+Rút ra được bài học cho bản thân và thông điệp mà tác giả gửi gắm
+Phản hồi, đánh giá giữa ý kiến, nhận xét của mình với người đọc khác.
4. Vận dụng thông tin từ văn bản vào thực tế:
+Sử dụng các thông tin trong văn bản đã học vào việc giải quyết những vấn đề
của cá nhân và cuộc sống; giải thích được cơ sở của sự vận dụng
+Vận dụng những kĩ năng, thao tác đọc hiểu văn bản đã học để đọc hiểu những
văn bản khác có cùng đặc trưng thể loại.
+Rút ra được ý nghĩa tư tưởng, những giá trị sống của cá nhân từ văn bản.
Bốn bước trên là các hoạt động đọc hiểu văn bản mà GV hướng dẫn HS tiến
hành để giúp HS đạt được mục tiêu phát triển năng lực. Có một vấn đề cần chú ý, các
hoạt động đọc hiểu trước khi đến lớp và sau khi đến lớp chưa được chú trọng mà chủ
yếu là trả lời các câu hỏi đọc hiểu và sau khi giờ học kết thúc là những dặn dò chung
chung, thiếu tính kết nối với bài học vừa hoàn thành (nhưng chưa hoàn tất). Vì thế,
mà hoạt động trước giờ học đọc hiểu có ý nghĩa rất thiết thực. GV cần giao cho các
em bài tập cụ thể, nhiệm vụ cụ thể như sưu tầm tài liệu liên quan, hoạt động nhóm
chuẩn bị cho dự án liên quan đến bài học,… Những hoạt động và sản phẩm của các

Đặc trưng của thể loại truyện
Truyện là một thể loại văn học và có những đặc trưng sau:
- Phản ánh đời sống trong tính khách quan
-Cốt truyện là thế giới của nghệ thuật và sáng tạo
-Nhân vật được mô tả chi tiết, sinh động trong mối quan hệ qua lại với hoàn
cảnh và môi trường xung quanh
-Không gian và thời gian không bị hạn chế về phạm vi miêu tả
-Ngôn ngữ được sử dụng dưới nhiều hình thức, gắn với ngôn ngữ đời sống
Dựa trên những đặc điểm của thể loại truyện ngắn và lý thuyết đọc hiểu, chúng
tôi xin đưa ra một quy trình cho hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học thể loại
truyện:
1. Ổn định tổ chức lớp

15


2. Kiểm tra bài cũ
3. Bài mới
- Lời vào bài
- Nội dung bài mới
4. Củng cố, dặn dò
Cụ thể trong phần bài mới sẽ có những hoạt động:
Hoạt động 1: Tạo tâm thế:
Vào bài mới với việc dùng lời dẫn dắt hoặc cho HS khởi động tạo tâm thế sử
dụng trò chơi, câu hỏi, hình ảnh, sự chuẩn bị của HS ở nhà có liên quan tới bài học
mới
Hoạt động 2: Hoạt động hình thành kiến thức mới
- Hoạt động tìm hiểu tri thức đọc văn bản truyện
1. Đọc thông tin về tác giả, về các sáng tác của tác giả
2. Đọc thông tin về hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng sáng tác

+SGK: Công cụ để thực hiện chương trình đổi mới giáo dục từ trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất cho học sinh chính là chương trình
PT tổng thể, chương trình môn học và SGK. Phần “hướng dẫn đọc bài” trong SGK là
vấn đề bất cập mà chúng tôi muốn nói đến. Đây là phần định hướng tìm hiểu kiến
thức bài học mới cho học sinh dựa vào đó mà học sinh có thể soạn bài. Trong văn bản
cụ thể là văn bản “Vợ Nhặt” trong SGK có 6 câu hỏi trong phần “hướng dẫn học bài”
cụ thể là:
1. “Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Nêu ý chính
của mỗi đoạn và cho biết mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?” [2-tr.33]
2. “Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với
một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ, và của chính
Tràng nữa cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo như thế
nào? Tình huống truyện đó có tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của tác phẩm?”
[2-tr.33]
3. “Dựa vào nội dung truyện, giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua hiện tượng “nhặt
được vợ” của Tràng, anh(chị) hiểu gì về tình cảnh và thân phận của người nông dân
nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945?” [2-tr.33]
4. “Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện
niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng (lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ
về qua xóm ngụ cư và nhất là trong buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ)?” [2-tr.33]

17


5. “Phân tích tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ. Qua đó, anh (chị) hiểu
gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?” [2-tr.33]
6. “Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân: cách kể chuyện hấp dẫn,
cách dựng cảnh gây ấn tượng với nhiều chi tiết đặc sắc, đối thoại sinh động, miêu tả
tâm lí nhân vật tinh tế, sử dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị, tự nhiên.” [2-tr.33]
Ta có thể thấy, hệ thống câu hỏi đơn thuần chỉ dừng lại ở những câu hỏi tái hiện

“Tình huống truyện”[4-tr.6]



“Tìm hiểu diễn biến tâm trạng các nhân vật”[4-tr.7]



“Tìm hiểu một số nét đặc sắc nghệ thuật”[4-tr.10]

Cả trong SGK và thiết kế dạy học của GV đều hướng HS đi theo lần lượt một
trình tự nên nó dễ gây nhàm chán, không kích thích được hứng thú, sự sáng tạo của
HS. Vì những câu hỏi ngay cả trong quyển Bài tập Ngữ Văn 12 tập hai của NXB
Giáo Dục do Phan Trọng Luận (chủ biên) cũng là những câu hỏi chỉ ở mức độ nhận
biết, thông hiểu chưa có mức độ vận dụng cao và gần gũi thiết thực với cuộc sống
thực tế rút ra từ bài học.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status