LỜI CAM ĐOAN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VĂN cứu của riêng tôi và được sự
Tôi xin cam đoan đâyKHOA
là côngNGỮ
trình nghiên
======
hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Bùi
Minh Đức. Các nội dung nghiên cứu,
kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức
nào trước đây. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
TẠ QUẾ ANH
Hà Nội, ngày
tháng năm 2019
Sinh viên
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO
HỌC SINH TRONG DẠY ĐỌC HIỂU
Tạ Quế Anh
VĂN BẢN SÓNG (NGỮ VĂN 12)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận với đề tài “Tổ chức hoạt động học cho học
sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Sóng (Ngữ văn 12)” là của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS. Bùi Minh Đức. Các kết quả nghiên cứu trong
khóa luận này là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình
nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Tạ Quế Anh
CÁC DANH MỤC VIẾT TẮT
CT: Chương trình
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
PT: Phổ thông
THPT: Trung học phổ thông
TPVH: Tác phẩm văn học
CH: Câu hỏi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 6
2.2.1. Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trước giờ học ...................... 30
2.2.2. Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trong giờ học ...................... 32
2.2.3. Biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS sau giờ học ......................... 37
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM ................................................... 39
3.1. Mục đích ................................................................................................... 39
3.2. Thiết kế bài học ........................................................................................ 39
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 57
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tổ chức hoạt động học cho học sinh trong dạy học bắt nguồn từ yêu
cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 10 năm 2000 của Quốc
hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nhấn mạnh: “Xây
dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông
mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục
phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới.” Ngoài ra, đó còn
là:
“Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu,
yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy
định trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình,
sách giáo khoa hiện hành; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng
lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những
thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của
kế hoạt động trong việc dạy văn bản văn học sao cho mỗi bài học, mỗi giờ
học là một giờ khám phá văn học. Sau mỗi giờ học, học sinh hình thành
những kỹ năng, năng lực cơ bản, cần thiết, tư duy sáng tạo.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt
động học cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản Sóng ( Ngữ văn 12)”.
Chúng tôi hi vọng với sự đóng góp này sẽ giúp học sinh hứng thứ và yêu
thích bộ môn Ngữ văn hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Một số nghiên cứu về văn bản “ Sóng” của Xuân Quỳnh
+ Nhà thơ Vũ Cao, chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội: "Xuân Quỳnh viết
bài này “bợm” thật”!
+ GS. TS Trần Đăng Suyền: “Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái
chật chội, nhỏ hẹp để tìm dến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát
vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình
yêu muôn thuở”.
+ GS Phong Lê: “Ở mỗi tập thơ của Xuân Quỳnh, những bài viết của tình yêu
thương để lại nhiều ấn tượng hơn cả. Với giọng điệu hết sức thơ hết sức tự
nhiên, bài Sóng thể hiện một tình yêu sâu sắc, bồi hồi, thao thức đến cả trong
2
giấc mơ. Dù có những gian truân cách trở , nhưng tình yêu bao giờ cũng đẹp,
cũng đến được tận cùng của hạnh phúc, như con sóng nhỏ đến với biển xa”.
+ Lê Nhật: “Bài thơ Sóng không dài nhưng những bài viết về Sóng như
những dòng sông đổ ra biển lớn. Thời gian trôi cứ trôi, Sóng lấp lánh trong
dòng thi ca dân tộc. Sóng ra đời trong chiến tranh nhưng không có một câu
chữ nào nói về đau thương, gian khổ, mất mát. Có phải Sóng là khoảng lặng
trong dòng chảy “văn học đánh giặc”, chân chất tình cảm chân thành, da diết,
mà ngẫm sâu xa nó lên án chiến tranh, thấm đẫm tư tưởng Nhân văn sâu sắc?
mọi cách hiểu văn bản là “hiểu lầm”. Và có hiểu lầm đúng và hiểu lầm sai”.
Quan điểm này, ông đã khẳng định rõ: “Dạy học đọc – hiểu là dạy học sinh
năng lực biết xuất phát từ chỉnh thể văn bản của tác giả kiến tạo nên văn bản
của mình, đem “chồng” lên văn bản ấy”.
+ Trong cuốn “Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở trường Trung
học phổ thông” - NXB giáo dục việt nam, 2015, TS. Bùi Minh Đức (chủ biên)
đã nói rõ hoạt động dạy học đọc – hiểu thì việc đọc đóng vai trò thiết yếu. Từ
đây, mới quyết định rằng giờ giảng dạy ấy có thành công hay không đặc biệt
là HS được “sống” trong giờ học Văn: “Dạy học tác phẩm văn chương trong
nhà trường là quá trình GV tổ chức HS hoạt động tiếp nhận tác phẩm. Đọc
văn, học văn trong nhà trường, xét cho cùng, là việc HS cảm thụ văn học và
học cách tiếp nhận tác phẩm dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV. Cho nên,
nếu không có lao động cảm thụ thật sự ở HS thì việc dạy học văn đích thực
vẫn chưa diễn ra. Điều này, cũng có nghĩa là chừng nào HS còn đứng ngoài
vòng đời của một tác phẩm, còn chưa phải là bạn đọc thì chừng đó giờ văn
vẫn chỉ là giờ của thầy giáp, chỉ thầy là độc giả của nhà văn. Bởi vậy, coi HS
là bạn đọc tức là đã xác nhận đúng vị trí, vai trò của người học văn trong nhà
trường”.
+ Trong cuốn “Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn Trung học phổ
thông”, NXB Đại học Sư Phạm, 2018, Đỗ Ngọc Thống (Tổng chủ biên) - Bùi
Minh Đức (Chủ biên), đã đưa ra nhiều luận điểm về “yêu cầu và quy trình dạy
đọc hiểu văn bản văn học” thì luận điểm “Bám sát văn bản đọc hiểu, tranh
dạy học văn bằng “thế bản” khẳng định rằng việc giảng văn chỉ là lối học đi
theo đường mòn gây cản trở cho việc HS tiếp thu kiến thức, còn “dạy học đọc
– hiểu” chính đang “mở đường” cho HS đến gần hơn với thế giới văn học”.
Khác với giảng văn – đường lối dạy học một chiều, coi trọng việc truyền thụ
4
thi pháp thơ và gợi dẫn phân tích văn bản thơ từ góc nhìn của thi pháp học.
5
Trên Tạp chí Giáo dục số 345(kì 1- 11/2014), tác giả Phan Ngọc Thanh
có bài báo: Vận dụng đặc điểm loại hình tác giả- loại hình cái tôi trữ tình của
Thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học. Bài viết vận dụng lý thuyết
về loại hình tác giả - loại hình “cái tôi” để khám phá những biểu hiện của “cái
tôi” trong Thơ mới,dưới góc độ lí thuyết thi pháp học , gắn với thực tế dạy
học ở trừng phổ thông.
Cuốn Rèn luện kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh qua bài dạy học
đọc-hiểu trữ tình hiện đại ở lớp 9 của Lê Thị Luyến [8, tr61]. Theo đó, tác gải
này đề ra một số biện pháp dòi hỏi tính tự giác cao độ của học sinh.
Trong bài viết của Lý Thiên Diệu: Phương hướng bồi dưỡng năng lực
tiếp nhận thơ tự do cho học sinh trung học phổ thông [2, tr13] có đề ra
phương pháp nâng cao năng lực đọc hiểu thơ ca cho học sinh phổ thông.
Từ những điều đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi nhằm hướng
đến vấn đề:
- Tổ chức hoạt động học cho HS trong một giờ dạy học đọc – hiểu theo
nguyên tắc chủ động, tích cực là vấn đề cốt lõi của việc đổi mới dạy học Ngữ
văn
- Đề ra những hoạt động học cho Học sinh trong một văn bản cụ thể
trong chương trình lớp 12: “Sóng” dựa theo đặc trưng loại thể
- Tổ chức một giờ dạy học đọc – hiểu tác phẩm “Sóng” dung hòa được
giữa kiến thức và thời lượng dạy học.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các hoạt động học và các biện pháp tổ chức hoạt động học cho
học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản “Sóng”.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG HỌC VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“SÓNG” (NGỮ VĂN 12)
1.1.Hoạt động học
1.1.1.Khái niệm hoạt động học
Có thể hiểu, hoạt động học: “Là hoạt động đặc thù của con người được
điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng , kỹ xảo
mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá
trị” [5, tr106].
1.1.2. Bản chất của hoạt động học
1.1.2.1. Đối tượng của hoạt động học
Là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó. Đích mà hoạt
động học hướng tới chính là việc chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Nếu
trong quá trình học, người học chỉ là người bị động, những kĩ năng, kĩ xảo chỉ
truyền cho người học theo cơ chế “máy phát” thì hoạt động học không thực
hiện được.
1.1.2.2. Hoạt động học là hoạt động thay đổi chính mình
Nếu các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể (đối tượng
của hoạt động) thì hoạt động học lại làm cho chủ thể của hoạt động này thay
đổi và phát triển. Tri thức mà loài người đã tích lũy được là đối tượng của
hoạt động học. Hoạt động học có thể “làm thay đổi khách thể như thế không
phải là mục đích tự thân của hoạt động học, mà chính là phương tiện không
thể thiếu của hoạt động này nhằm đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ
thể hoạt động. Chỉ có thông qua đó người học mới dành được điều kiện khách
quan để ngày càng tự hoàn thiện mình” [5, tr107].
1.1.2.3. Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý
thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
8
Loại động cơ hoàn thiện tri thức, ở động cơ này HS luôn có niềm khát
khao, say mê, hứng thú trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập. Việc
HS phát hiện cái mới ở đối tượng học thì HS cảm thấy nguyện vọng hoàn
thiện tri thức của bản thân thỏa mãn một phần. Trong loại động cơ này, chủ
thể của hoạt động học tập thường không có những căng thẳng tâm lý. Hoạt
động học tập được thúc đẩy bởi loại động cơ này là tối ưu theo quan điểm sư
phạm.
“Loại động cơ quan hệ xã hội, chúng ta cũng thấy học sinh say sưa
học tập nhưng sự say sưa đó lại vì sức hấp dẫn, lôi cuốn của “cái khác” ở
những mục đích khác của việc học tập. Những cái đó lại chỉ có thể đạt được
trong điều kiện mà các em chiếm lĩnh được tri thức khoa học. Những “cái
khác” đó có thể là đe dọa và yêu cầu; thưởng và phạt; sự hài lòng của cha mẹ,
sự khâm phục của thầy cô... Khác với động cơ trên, ở động cơ này những tri
thức, kĩ năng, thái độ, hành vi... đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ
là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác” [5,tr111].
“ Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở một
mức độ nào dấy mang tính chất cưỡng bách và có lúc xuất hiện như là một vật
cản cần khắc phục trên con đường đi tới mục đích cơ bản”[5, tr112]. Nét đặc
trưng của hoạt động này là có những lực chống đối nhau (như kết quả học tập
không đáp ứng mong ước về địa vị của cá nhân tròn xã hội sau này), đôi khi
nó gắn liền với sự căng thẳng tâm lý đáng kể, đòi hỏi những nỗ lực bên trong,
đôi khi cả sự đấu tranh với chính bản thân mình. Chẳng hạn khi có mâu thuẫn,
căng thẳng học sinh thường có những hiện tượng vi phạm nội quy (quay cóp,
phá bĩnh), thờ ơ với học tập hay bỏ cuộc.
Thông thường cả hai loại động cơ học tập này cũng được hình thành
ở học sinh.Trong những hoàn cảnh, điều kiện xác định nào đó của dạy và học
10
+ Hình thức hành động với các hình thức “mã hóa” khác tương ứng với
đối tượng, lời nói, sẽ chuyển logic của khái niệm đã phát hiện ở hành động
vật chất vào trong tâm lí chủ thể của hoạt động.
+ Hình thức hành động tinh thần: logic của khái niệm được chuyển hẳn
vào trong (tâm lý).
Qua ba hình thức này của hành động học tập, cái vật chất đã chuyển
thành cái tinh thần, cái bên ngoài thành cái bên trong tâm lý con người.
* Hành động học tập
Ở đây có những quan niệm khác nhau về vai trò của các hành động học
tập khác nhau. V.V Đavưđốp xuất phát từ quan niệm, muốn hình thành tư duy
lý luận cho học sinh phải hình thành hệ thống khái niệm theo nguyên lý phát
triển. Theo tinh thần ấy. “V.V Đavưđốp xem các hành động phân tích, mô
hình hoá và cụ thể hoá là những hành động học tập quan trọng nhất. Và, trong
dạy học, trước hết những hành động đó phải được xem như đối tượng lĩnh
hội, sau khi được hình thành trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức”[5,
tr117].
+ “Hành động phân tích: nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của
khái niệm cũng như cấu tạo logic của nó. Nó là phương tiện quan trọng nhất
dể đi sâu vào đối tượng.
+ Hành động mô hình hóa: giúp con người diễn đạt logic khái niệm
một cách trực quan. Qua mô hình, các mối quan hệ của khái niệm được quá
độ chuyển vào trong(tinh thần). Ta cỏ thể xem mô hình như “cầu nối” giữa
vật chất và cái tinh thần.
- Hành động cụ thể hóa: giúp học sinh vận dụng phương thức hành
động chung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực”
[5,tr117-118].
12
13
hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo một cách có kế hoạch, có hệ thống,
phù hợp với những yêu cầu của tâm lí học.
Ở hoạt động này học sinh sẽ phải thực hiện các hoạt động sau:
- Hoạt động tạo tâm thế: đây là hoạt động mở đầu tiết dạy, kích thích
HS học tập. Hoạt động này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nó
giúp tiết học Văn hứng thú và hấp dẫn hơn.
- Hoạt động tìm hiểu tri thức nền (tiểu dẫn): là hoạt động học sinh tìm
hiểu các yếu tố về tác giả, tác phẩm, thể loại. Hoạt động này có thể được giáo
viên giao cho học sinh làm dưới hình thức bài tập nhóm. Khi ở trên lớp, hoạt
động này sẽ được học sinh trình bày, phát biểu, giáo viên sẽ chốt lại ý.
- Hoạt động văn bản: đây là hoạt động quan trọng trong việc tìm hiểu
một tác phẩm văn chương. Nó giúp học sinh có những cái nhìn đầu tiên về tác
giả, tác phẩm. Hoạt động này cần được diễn ra bởi tâm lý nhiều học sinh ngại
đọc, lười đọc văn bản. Điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình học sinh
tìm hiểu, phân tích tác phẩm.
- Hoạt động phân tích, cắt nghĩa: đây là hoạt động quan trọng nhất của
một giờ học văn. Ở hoạt động này, học sinh phải phân tích, tìm hiểu đặc sắc
về nội dung, sáng tạo về nghệ thuật: có thể là câu, từ... Chính những tri thức
mà hoạt động này cung cấp sẽ là hành trang để học sinh phân tích, tìm hiểu
các tác phẩm cùng thể loại.
- Hoạt động vận dụng, liên hệ thực tiễn: là hoạt động đang được chú ý
và thực hành nhiều ở các trường học. Hoạt động này giúp học sinh phát triển
sự sáng tạo, năng lực tư duy. Từ những tri thức trên sách vở giờ đây học sinh
có thể vận dụng vào thực tế cuộc sống, biến những con chữ vô tri thành
những tác phẩm khác nhau. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong
những hoạt động vận dụng, liên hệ thực tế. Chẳng hạn, tại trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2 nói chung và khoa Ngữ văn nói riêng, hằng năm sau mỗi kì
trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chưa mã hóa đồng thời với việc huy
15
động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân của người đọc để lựa chọn giá trị tư
tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của văn chương.
1.3.2. Các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản
1.3.2.1. Các hoạt động dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung
Dạy học đọc hiểu văn bản là việc làm đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các
thao tác, phương pháp dạy học để HS có thể cảm nhận được về nhửng vẻ đẹp
về giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật của văn bản. Đọc hiểu vừa là phương
pháp, vừa là tri thức, vừa là mục đích, kết quả của việc học văn và cần luyện
tập thành những kĩ năng cơ bản. Dạy văn là việc dạy cho HS phương pháp, kĩ
năng đọc, năng lực đọc để HS có thể đọc bất kì một văn bản nào cùng loại.
Theo đổi mới chương trình giáo dục, chuyển từ định hướng nội dung sang
chương trình định hướng phát triển năng lực. Cụ thể trong dạy đọc hiểu văn
bản thơ, GV cần phải hướng dẫn HS sau khi tham gia vào các hoạt động có
thể hình thành kỹ năng đọc hiểu tất cả các văn bản thơ khác ngoài chương
trình; vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được học để giải quyết các vấn đề
trong cuộc sống.
Theo định hướng phát triển năng lực, quá trình dạy học đọc hiểu phải
được hoạt động hóa, trong đó giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và giao
nhiệm vụ đọc cho học sinh theo một quy trình đã được thiết kế, còn học sinh
là người tiếp nhận và thực thi các nhiệm vụ đọc hiểu. Việc xác định quy trình
dạy học đọc hiểu với hệ thống các hoạt động đọc hiểu văn bản văn học của
học sinh được xem xét trên các căn cứ cơ bản sau:
1) “Từ yêu cầu của dạy học đọc hiểu văn bản nói chung và văn bản văn
học nói riêng theo định hướng phát triển năng lực học sinh để biên soạn giáo
án và tổ chức hoạt động trên lớp.
tìm hiểu đúng đắn về thế giới nghệ thuật của nhà văn. Bên cạnh những tri
thức về bối cảnh thời đại, tác giả, tác phẩm, giáo viên cần lưu ý học sinh tìm
17
hiểu các tri thức về thể loại và. Giáo viên cần đưa ra các bài tập nhóm cho học
sinh chuẩn bị trước ở nhà.
- Tổ chức học sinh đọc văn bản và tìm hiểu chú thích: mục đích của
hoạt động này là giúp học sịnh trực tiếp bắt tay tìm hiểu văn bản. Trong quy
trình dạy học giáo viên thường giao cho học sinh chuẩn bị bài trước khi đến
lớp. Nhưng thực tế, có nhiều bạn học sinh chưa chuẩn bị bài nếu có chỉ đọc
tác phẩm một cách qua loa, chống đối. Từ đó học sinh chưa có cái nhìn, hiểu
biết nhất định về văn bản. Chính vì vậy, hoạt động đọc văn bản là vô cùng cần
thiết. Ở hoạt động này, bên cạnh mục tiêu cho những con chữ nằm im trên
trang giấy sống lại, nhảy múa, chuyển vào tâm trí của mỗi học sinh, thì việc
tìm hiểu chú thích sẽ hướng tới việc giúp học sinh hiểu nghĩa cá từ khó trong
văn bả, nhận ra bố cục của văn bản, cảm nhận được âm điệu, giọng điệu
chung toát lên từ văn bản, có những ấn tượng đầu tiên về tác phẩm và bước
đầu hình dung thế giới hình tượng qua lớp ngôn từ trong văn bản. Để hoạt này
đạt được kết quả cao, giáo viên cần chuyển giao nhiệm đọc ở nhà cho học
sinh gắn liền với những sản phẩm cụ thể. Ở trên lớp, tùy theo điều kiện dạy
học, giáo viên tổ chức học sinh đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc phân vai, đọc
diễn cảm... Giáo viên cũng có thể đưa ra những tranh ảnh, video có liên quan
đến bài học để học sinh có những cảm nhận rõ hơn về văn bản.
- Tổ chức học sinh đọc hiểu nội dung ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật
của văn bản: mục đích của hoạt động này giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của
văn bản và hiểu được cái hay trong hình thức nghệ thuật của nhà văn. Ý nghĩa
của văn bản nằm trong hình tượng, trong câu chữ và trong các biện pháp nghệ
thuật... mà nhà văn đã sáng tạo và sử dụng. Vì thế để đọc hiểu ý nghĩa của văn