Ca dao về tình yêu quê hương đất nước với giáo dục học sinh tiểu học - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
===o0o===

MAI THỊ NGẦN

CA DAO VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT
NƯỚC
VỚI GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian

HÀ NỘI, 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
===o0o===

MAI THỊ NGẦN

CA DAO VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG ĐẤT
NƯỚC VỚI GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học dân gian

Người hướng dẫn khoa học:

ThS. Đỗ Thị Huyền Trang



DANH MỤC VIẾT TẮT
Nxb:

Nhà xuất bản

ĐHQGHN:

Đại học quốc gia Hà Nội

SGK:

Sách giáo khoa

L:

Lớp

T:

Tập

Tr:

Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1

2.1.1. Giới thiệu về các địa danh trên mọi miền tổ quốc ................................ 23
2.1.1.1. Giới thiệu tên các danh lam thắng cảnh trên đất nước....................... 23
2.1.1.2. Giới thiệu địa danh qua các đặc sản vùng miền................................. 27
2.1.1.3. Giới thiệu các địa danh qua con người và các sự kiện lịch sử........... 30
2.1.1.4. Nhận thức về địa danh qua nét đẹp văn hóa ...................................... 32
2.1.2. Cung cấp những kiến thức về tự nhiên và đời sống xã hội................... 35
2.2. Giáo dục thẩm mĩ ..................................................................................... 40
2.3. Ca dao tình yêu quê hương đất nước với việc hình thành nhân cách cho
học sinh Tiểu học ............................................................................................ 43
2.4. Ca dao tình yêu quê hương đất nước bồi dưỡng năng lực cảm thụ Văn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học..................................................................... 48
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 54
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh
hoạt của nhân dân Việt Nam, nhất là đối với học sinh Tiểu học. Văn học dân
gian có nội dung phong phú, đa dạng, phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, lí
tưởng, mơ ước của nhân dân lao động Việt Nam qua các thời kì lịch sử.
Chính vì lẽ đó mà văn học dân gian có vai trò giáo dục toàn diện nhân cách
cho học sinh Tiểu học.
Trong kho tàng ca dao Việt Nam, ca dao về tình yêu quê hương đất
nước chiếm số lượng khá lớn. Bởi quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của
thơ ca dân gian; là một thứ tình cảm thiêng liêng, thể hiện đậm nét trong đời
sống sinh hoạt của người bình dân. Sức hấp dẫn của ca dao không chỉ ở
ngôn ngữ giản dị, đời thường mà còn ở nội dung thể hiện của nó. Ca dao
không chỉ cho thấy những nét đẹp về thiên nhiên, cuộc sống, phong tục tập
quán của người xưa mà còn làm nổi bật tinh thần lạc quan, yêu đời của nhân

khía cạnh nhất định: hình ảnh con cò, cây tre, trăng, thuyền với bến, cà với
muối, cuội với trăng, quán mát với cây đa, bến xưa với con đò cũ, mận với
đào, lê với lựu… người nghe cảm thấy tâm hồn rung động vì đã hiểu được ý
của người hát, đã bắt đầu đồng cảm. Chính sự lặp đi lặp lại nhiều lần ấy trở
nên thân thuộc”[9]. Hình ảnh của làng quê Việt Nam như in dấu đậm nét
trong kí ức của mỗi người, trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho các nghệ sĩ
từ xưa đến nay.
Năm 1971, trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” khi đề cập
đến vấn đề tình yêu quê hương đất nước trong ca dao, Vũ Ngọc Phan có viết:
“Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam không thể hiện một cách bóng gió
khắp toàn bài ca dao như những thơ văn thời thế của những người nho sĩ.
Lòng yêu đất nước của nhân dân Việt Nam hòa với lòng yêu những cảnh


thiên nhiên trong đất nước, hòa với lòng yêu những cảnh thiên nhiên trên đất
nước, hòa với cả lòng yêu đồng ruộng, cảnh chợ, con đò; trong tình yêu ấy,
nhân dân nói lên những cái đặc biệt, những cái phong phú của từng miền,
những cái lớn lao của sông núi, của thác, của rừng, những cái hiểm trở nó làm
cho quân xâm lăng khiếp sợ”[10; Tr.42].
Năm 1997, trong cuốn Phê bình bình luận văn học ca dao, dân ca, tục
ngữ, vè do Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn và trích dẫn, với bài viết Thiên nhiên
đất nước trong ca dao, tác giả Đinh Gia Khánh đã trích dẫn rất nhiều câu ca
dao nói về cảm hứng thiên nhiên trong các bài ca dao. Trong đó tác giả có chỉ
ra một tính chất trong cảm hứng thiên nhiên là “Những niềm vui, niềm tự hào,
những cảm xúc dạt dào trước vẻ đẹp của giang sơn đất nước thân yêu” [11;
Tr.75]
Nguyễn Bích Hà khi viết về tình yêu đất nước trong ca dao cũng từng có
nhận định: “Mỗi làng quê mang một sắc thái riêng nhưng đều thể hiện sự gắn
bó tha thiết của mỗi người. Thứ tình cảm thiêng liêng, bền chặt, quen thuộc
và sâu nặng đó đã trở thành sức mạnh của người Việt Nam”[1, Tr.246]. Quê

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cần Thơ
Làm chi nay đợi mai chờ
Linh đinh Phong Mỹ, dật dờ Hoà An” [4]
Nhìn lại các vấn đề đã được nghiên cứu, ta thấy ca dao về tình yêu quê
hương đất nước chưa thật sự nhận được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu. Có thể nói, tất cả các ý kiến, nhận xét trong các giáo trình, các
bài báo trên đều xác đáng, nhưng hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ khái
quát, hoặc chỉ đề cập đến một phương diện của ca dao về tình yêu quê
hương đất nước, chứ chưa nói ra ý nghĩa của việc dạy các bài ca dao về tình
yêu quê hương đất nước với giáo dục học sinh Tiểu học. Song đó lại là
những gợi ý bước đầu cho chúng tôi tiếp cận đề tài này.


Từ những gợi ý quý báu đó của những người đi trước mà tôi đi nghiên
cứu đề tài “Ca dao về tình yêu quê hương đất nước với việc giáo dục học
sinh Tiểu học”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Ca dao về tình yêu quê hương đất nước với giáo dục học
sinh Tiểu học” nhằm chỉ rõ ý nghĩa của văn học dân gian nói chung và ca dao
về tình yêu quê hương đất nước nói riêng với giáo dục học sinh Tiểu học.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: ý nghĩa của ca dao về tình yêu quê hương đất
nước với giáo dục học sinh tiểu học
- Phạm vi nghiên cứu: ca dao về tình yêu quê hương đất nước trong
cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan và các bài ca
dao về tình yêu quê hương đất nước trong chương trình sách giáo khoa Tiếng
Việt đối với việc giáo dục học sinh Tiểu học
5. Phương pháp nghiên cứu

động lao động vừa sức như: quét dọn vệ sinh lớp học, sân trường, tham gia
trồng cây, bắt sâu, nhổ cỏ,… Trẻ được tham gia vào các hoạt động của
trường, của lớp mà trước đây ở mầm non trẻ chưa được biết tới.
Môi trường sống của trẻ cũng đang được thay đổi. Trẻ không phải chỉ ở
nhà cũng với những người thân yêu trong gia đình mà còn được tiếp xúc với
thầy cô, bạn bè, các bậc cha mẹ học sinh, các đoàn thể. Trẻ 6 tuổi bước vào
trường tiểu học với một vốn liếng không nhỏ về thế giới xung quanh xong nó
chỉ dừng lại ở mức kinh nghiệm. Vì thế trẻ tò mò, muốn khám phá thế giới
xung quanh. Trẻ mạnh dạn, tự tin đi khám phá những điều mới lạ xung quanh


mình bằng những kiến thức khoa học. Tính tò mò, ham hiểu biết kích thích trẻ
ham học tập khiến trẻ ở lứa tuổi tiểu học đã có khả năng tập trung chú ý tương
đối dài (khoảng 30-35p) vào đối tượng. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của thầy
cô theo phương pháp nhà trường trẻ được trang bị kiến thức khoa học và
phẩm chất của một người công dân thực thụ trong tương lai.
1.1.1.2. Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ
Sự phát triển trí tuệ của trẻ lứa tuổi Tiểu học bao gồm nhận thức cảm
tính và nhận thức lí tính:
Nhận thức cảm tính: các cơ quan cảm giác đều phát triển và đang trong
quá trình hoàn thiện. Tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết
nên ít phân hóa. Ở các lớp đầu tiểu học, tri giác của các em thường gắn với
hành động, hoạt động thực tiễn nhưng học sinh các lớp cuối tiểu học đã biết
tìm ra dấu hiệu đặc trưng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để đi đến
phân tích, tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Tri giác đã mang tính
mục đích và có phương hướng rõ ràng.
Nhận thức lí tính:
Tư duy của học sinh Tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang
trừu tượng, khái quát. Xuất phát điểm ban đầu của trẻ là tư duy cụ thể dựa
trên những đặc điểm trực quan của đối tượng. Nhưng khi tiếp xúc với thực tế,

Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở học sinh
tiểu học. Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, hấp dẫn, dễ dàng đều thu hút sự
chú ý của trẻ mà không cần bất kì một sự nỗ lực nào của ý chí. Sự chú ý ấy
càng trở nên đặc biệt tập trung và bền vững khi tài liệu học tập sinh động hoặc
khơi gợi ở trẻ những rung cảm tích cực. Ở đầu cấp Tiểu học, học sinh chỉ chú
ý đến những giờ học, tiết học mà có nhiều màu sắc, mới lạ, nhiều tranh ảnh.
Sự chú ý đó còn yếu, thiếu bền vững và không thể ổn định trong thời gian dài.
Đến cuối cấp Tiểu học, học sinh dần điểu chỉnh được sự chú ý của bản thân


vào các hoạt động học một cách có chủ định. Trong học tập không phải cái gì
cũng lí thú nên cũng cần có sự kết hợp giữa chú ý không chủ định và chú ý
chủ định để vừa giảm được sự căng thẳng cho học sinh vừa đem lại hiệu quả
thực hiện nhiệm vụ cao.
1.1.2. Đặc điểm về nhận thức, nhân cách và thẩm mĩ.
1.1.2.1. Đặc điểm nhận thức.
Nhu cầu nhận thức hình thành và phát triển ở trẻ em lứa tuổi Tiểu học rõ
nét và đặc biệt nhất là nhu cầu tìm hiểu về thế giới xung quanh, khát vọng
hiểu biết mọi thứ xung quanh. Tuy nhiên, ở lứa tuổi này, nhận thức của học
sinh Tiểu học còn khá đơn giản, các em chủ yếu quan sát, tiếp xúc với môi
trường tự nhiên xung quanh các em để nhìn thấy, lắng nghe các sự vật, hiện
tượng cụ thể chứ chưa biết phân tích, suy luận một cách logic.
Bước vào môi trường học mới với bao điều mới lạ dường như trẻ khá lạ
lẫm, trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh một cách mãnh liệt. Đối với
những trẻ đầu Tiểu học, các em có nhu cầu tìm hiểu những sự việc cụ thể,
những sự vật riêng biệt (lớp 1 và lớp 2), sau đó, đến cuối cấp Tiểu học, những
nhu cầu gắn liền với sự phát hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối liên
hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật hiện tượng (lớp 3, lớp 4, lớp 5) là
điểm thu hút mối quan tâm của trẻ. Trẻ tự đặt câu hỏi “Nó là cái gì?”, “Vì
sao?”, “Tại sao?” hay “Như thế nào?” với những thắc mắc mà trẻ không hiểu

năng lực, tố chất của các em vẫn chưa được bộc lộ rõ rệt. Nhờ những tác động
thích ứng mà nhân cách có thể dần bộc lộ ra bên ngoài. Nếu đó là những biểu
hiện tốt thì chúng ta cần cổ vũ, khích lệ để trẻ tiếp tục phát huy. Nếu đó là
những hành vi, suy nghĩ chưa đúng thì chúng ta có những biện pháp điều
chỉnh, ngăn chặn kịp thời.
Đặc biệt, nhân cách của trẻ ở lứa tuổi này phát triển chưa hoàn thiện, nó


đang được dần hình thành, chau chuốt trong quá trình học tập, lao động. Việc
hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều. Muốn trẻ phát
triển toàn diện về mặt nhân cách cần kiên trì và có kế hoạch cụ thể theo sát
tiến trình phát triển của trẻ.
1.1.2.3. Đặc điểm thẩm mĩ.
Thẩm mĩ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp. Giáo dục thẩm mĩ cho lứa
tuổi học sinh tiểu học có thể hiểu là giáo dục người học có nhận thức tương
đối đúng đắn và đầy đủ về cái đẹp và nghệ thuật, biết thưởng thức cái đẹp
đồng thời hạn chế hoặc tránh xa cái xấu xa, độc ác. Nói cách khác, một người
được giáo dục thẩm mĩ đúng đắn sẽ nhận biết được đâu là cái đẹp, cái tốt, đâu
là cái chưa đẹp chưa tốt để yêu, để ghét, biết làm sao để cái tốt được nhân
rộng đến tất cả mọi người còn cái xấu sẽ bị hạn chế hoặc loại bỏ.
Giáo dục thẩm mĩ có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân
cách của học sinh tiểu học. Cảm xúc thẩm mĩ không những xây dựng trên cơ
sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở nắm chắc nội dung, tư tưởng của các tác
phẩm. Các em khi được giáo dục về thẩm mĩ sẽ nhận ra được cái hay cái đẹp
cũng như cái xấu trong cuộc sống đồng thời học sinh sẽ có cách ứng xử phù
hợp với những người xung quanh mình, hình thành nên tính cách cao thượng
cho trẻ. Từ đó trẻ hình thành được những mối quan hệ lành mạnh với mọi
người xung quanh. Thông qua cái đẹp, trẻ thêm lạc quan, yêu đời và tự tin
trong cuộc sống từ đó khêu gợi các em tham gia vào việc xây dựng và sáng
tạo ra cái đẹp.

niệm ca dao, đã có rất nhiều cách lí giải khác nhau trong các công trình
nghiên cứu.ư
Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian của tác giả Nguyễn Bích Hà, ca
dao được hiểu là những câu thơ, câu hát trữ tình dân gian.


Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm cho rằng: “Ca dao
(ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành
trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân” [2; Tr.11].
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc
Phi (Đồng chủ biên) ca dao được định nghĩa như sau: “Ca dao còn được gọi là
phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau.
Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc
điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến
trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao
đồng nghĩa với dân ca” [3; Tr.31].
Vũ Ngọc Phan có cách nhìn nhận khác trong định nghĩa về thuật ngữ ca
dao “Theo định nghĩa về hình thức của ca dao thì câu thành khúc điệu là ca,
không thành khúc điệu gọi là dao. Như vậy, ở ca dao có bài đã thành khúc
điệu và có bài chưa thành khúc điệu. (Người ta còn gọi ca dao là phong dao,
vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi thời)”[10; Tr.29].
Các nhà nghiên cứu văn học dân gian Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên
cho rằng: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông
thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm,
tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu
dân ca” [5; Tr.436].
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu đưa ra cách
nhìn nhận về định nghĩa ca dao “danh từ ca dao được dùng theo nghĩa hẹp
(nghĩa phái sinh) để chỉ thơ trữ tình dân gian truyền thống (bao gồm nguồn lời
thơ nảy sinh từ các thể loại dân ca trữ tình truyền thống và những sáng tác thơ

- Những bài ca sinh hoạt xã hội, lịch sử
- Những bài ca giao duyên


Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất ý kiến và chia ca dao
thành 3 nhóm lớn:
- Ca dao nghi lễ
- Ca dao lao động
- Ca dao sinh hoạt (hát ru, đồng dao, trào phúng, tình cảm gia đình,
phong cảnh đất nước, …)
1.2.3. Ca dao về tình yêu quê hương đất nước
1.2.3.1. Nội dung, biểu hiện.
Ca dao nói chung, ca dao về tình yêu quê hương đất nước nói riêng đều
là những tác phẩm trữ tình dân gian diễn tả sự nhận thức, thế giới nội tâm của
con người qua việc phản ánh hiện thực khách quan. Những người nông dân
nghèo, những người lao động quanh năm suốt tháng gắn bó với con trâu, với
ruộng đồng. Đối với họ, quê hương là tất cả những gì gần gũi nhất, gắn bó
nhất. Trên một dải đất hẹp, từ buổi bình minh lịch sử loài người cho đến nay,
trải qua hàng ngàn năm lịch sử, ca dao như thước phim quay chậm ghi lại
cảnh, ghi lại tình yêu Tổ quốc của nhân dân ta.
Mỗi làng quê đều mang những nét đẹp riêng, những dấu ấn riêng để lại
bao nhung nhớ trong lòng mỗi người con quê hương. Thứ tình cảm thiêng
liêng, sâu nặng và bền chặt ấy như những rễ cây đâm sâu vào lòng đất. Quê
hương đất nước là nơi ta sinh ra, lớn lên, trưởng thành, nuôi dưỡng bao tâm
hồn trẻ thơ. Làng quê nơi họ sinh sống có bến nước hằng ngày tắm giặt, rửa
rau; có cây đa, có lũy tre xanh tỏa bóng mát, là nơi trò chuyện, nghỉ ngơi mỗi
buổi trưa hè nóng bức. Buổi trưa hè nóng bức được ăn bát cơm trắng với rau
muống luộc, với cà ghém chua chấm tương thì bao nhiêu mệt mỏi cũng tan
biến hết. Chính vì vậy mà mỗi lần xa quê là sự thổn thức, mong ngóng, háo
hức mong chờ được quay về bên vòng tay yêu thương, vỗ về của mẹ quê



ngọt cho mọi người. Dưới sông, những đàn cá đang tung tăng bơi lội thành
từng đàn.
Hay sự hùng vĩ của núi non bát ngát nghìn trùng, những dãy núi cao,
những biển nước lớn từng làm cho bọn xâm lăng khiếp sợ.
“Nhất cao là núi Tản Viên
Nhất sâu là vũng Thủy Tiên, cửa Vường”
Văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, được thể hiện rất rõ qua các
lễ hội truyền thống của Việt Nam. Trong năm, người ta tổ chức rất nhiều lễ
hội trên khắp mọi miền đất nước giúp con người nhớ về cội nguồn, hướng
thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui.
“Ấy ngày mùng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây”
Chùa Tây Phương cũng là một trong số các ngôi chùa có kiến trúc độc
đáo ở Việt Nam, nổi bật với các bộ tượng, đặc biệt là bộ tượng mười tám vị
La Hán. Hằng năm, chùa Tây Phương tổ chức lễ hội từ ngày mùng 6 đến ngày
mừng 10 tháng 3 âm lịch, thu hút khách thập phương đến tham quan. Đây vừa
là dịp để du khách đi lễ chùa vừa để chiêm ngưỡng những công trình nghệ
thuật nguy nga và tráng lệ của mảnh đất xứ Đoài.
Những vị vua anh minh, những anh hùng dân tộc có công xây dựng và
gìn giữ non sông cũng được ca dao ghi lại để tỏ lòng biết ơn, ghi nhớ đến
muôn đời. Mặc dù chỉ là gợi nhắc những anh hùng, những chiến công vang
dội qua tên địa danh nhưng bao trùm lên là tình yêu, niềm tự hào của tác giả
dân gian về con người, lịch sử dân tộc:
“Ai lên Biên Thượng Lam Sơn
Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh”.
Tình yêu quê hương đất nước của nhân dân Việt Nam biểu hiện muôn
màu muôn vẻ đối với người, với cảnh và với cả văn hóa dân tộc. Các nét đẹp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status