VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU TRANG
THỰC HIỆN TĂNG TRƢỞNG XANH Ở VIỆT NAM
THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Ngành
Mã số
: Kinh tế phát triển
: 9.31.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS Bùi Quang Tuấn
2: TS. Nguyễn Bá Ân
Hà Nội, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu
trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỰC HIỆN TĂNG TRƢỞNG XANH
THÔNG QUA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM ................................. 127
4.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước........................................................................... 127
4.2. Các quan điểm và định hướng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ
thông tin .................................................................................................................... 137
4.3. Giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ
thông tin ở Việt Nam ................................................................................................. 142
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 153
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC
GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................. 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 155
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATTT
An toàn an ninh thông tin
BĐKH
Biến đổi khí hậu
BEMS
IEA
Cơ quan Năng lượng Quốc tế
IoT
Xu thế kết nối vạn vật
ITS
Hệ thống giao thông thông minh
MTQG
Mục tiêu quốc gia
NSNN
Ngân sách nhà nước
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNEP
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
UNESCAP
WB
Biểu đồ 3.1. Tổng doanh thu ngành công nghiệp CNTT giai đoạn 2008 – 2017
(triệu USD)....................................................................................... 80
Biểu đồ 3.2. Tổng doanh thu ngành CNTT đóng góp vào tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 ............................... 81
Biểu đồ 3.3. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp CNTT qua các năm............... 83
Biểu đồ 3.4. So sánh tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp CNTT với
tốc độ tăng trưởng bình quân GDP cả nước giai đoạn 2008 – 2017 ........ 83
Biểu đồ 3.5. Đóng góp của ngành CNTT vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam giai đoạn 2008 – 2017 .............................................................. 86
Biểu đồ 3.6. Tăng trưởng nhân lực CNTT trong ngành công nghiệp CNTT ......... 118
Hình
Hình 2.1. Các vấn đề môi trường cốt yếu mà tăng trưởng xanh hướng đến ............ 29
Hình 2.2. Các cách tiếp cận của tăng trưởng xanh carbon thấp.............................. 29
Hình 2.3. Các kênh tác động đến thực hiện tăng trưởng xanh ................................ 34
Hình 2.4. Thực hiện tăng trưởng xanh .................................................................. 35
Hình 2.5. Cách thức tác động của CNTT tới thực hiện tăng trưởng xanh ............... 36
Hình 2.6. Tiềm năng của ứng dụng CNTT trong giảm thải khí CO2 của các lĩnh
vực đến năm 2020 ................................................................................ 42
Hình 2.7. Vai trò của CNTT trong tăng trưởng xanh ít khí thải .............................. 44
Hình 2.8. Khung phân tích của luận án .................................................................. 55
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để tăng trưởng và phát triển bền vững các nhà nghiên cứu và một số chính
phủ nhận ra một cơ hội để giải quyết đồng thời các mối đe dọa biến đổi khí hậu, giá
năng lượng tăng nhanh và sự bất ổn nguồn cung nhiên liệu thiên nhiên bằng một mô
hình phát triển kinh tế mới dựa trên các nguyên tắc phát triển bền vững: Tăng trưởng
xanh. Thực tế cho thấy rằng, xu hướng thực hiện tăng trưởng xanh hướng tới nền
nhưng mới chỉ dừng ở mức định hướng chung, chưa được triển khai nhiều và chưa có
nhiều kết quả nổi bật. Để thực hiện tăng trưởng xanh, bắt buộc cần có sự phát triển của
công nghệ cao mà đặc biệt là CNTT. Được xác định là một lợi thế, là một mũi nhọn
của nền kinh tế nhưng những kết quả đạt được của ngành công nghiệp CNTT chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước, chưa đủ để vượt qua các thách thức to
lớn mà chúng ta phải đối mặt. Bên cạnh đó, tại Việt Nam việc ứng dụng CNTT cho
thực hiện tăng trưởng xanh lại càng nhiều hạn chế.
Hiện nay, những nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước về tăng trưởng xanh
nói chung và đặc biệt là thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT nói riêng là
chưa nhiều. Đây là lý do để đề tài được đề xuất nhằm một phần lấp đầy khoảng
trống nghiên cứu đó. Đề tài nghiên cứu: “Thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam
thông qua công nghệ thông tin” được thực hiện nhằm đánh giá, xác định về vai trò
của CNTT đối với thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam, xem xét thực trạng thực
hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam, bên cạnh đó đề xuất các giải
pháp để phát huy vai trò của CNTT cho thực hiên tăng trưởng xanh nói riêng và phát
triển kinh tế ở Việt Nam nói chung.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
2.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở xem xét thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở
Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp để phát huy vai trò của CNTT cho thực hiên
tăng trưởng xanh nói riêng và phát triển kinh tế ở Việt Nam nói chung.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng trưởng xanh và thực
hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT.
- Qua đó làm rõ thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT ở
Việt Nam.
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy thực hiện tăng
trưởng xanh thông qua CNTT ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Cách tiếp cận của nghiên cứu bao gồm:
- Định tính.
- Cách tiếp cận hệ thống: Xem xét vấn đề cả lý luận và thực tiễn, khung lý
thuyết gắn với bài học kinh nghiệm thực tiễn quốc tế và trong nước, xem xét thực
trạng qua số liệu cơ cấp; phân tích những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của hạn
chế để đưa ra những giải pháp để khắc phục những nhược điểm, yếu kém.
- Cách tiếp cận liên ngành: Gắn nội dung chuyên ngành kinh tế phát triển với
3
ngành môi trường: giảm phát thải, ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên đầu vào …
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp lấy số liệu, thông tin
Lấy số liệu, thông tin, tư liệu từ nguồn liệu thống kê chính thức, tư liệu kinh tế xã
hội các tỉnh/thành phố và số liệu điều tra từ các nguồn thống kê chính thức.
4.2.2. Các phương pháp xử lý số liệu, thông tin
- Phương pháp phân tích, thống kê
Nghiên cứu sử dụng số liệu phân tích thực trạng vai trò, sự tham gia của
CNTT cho thực hiện tăng trưởng xanh. Bên cạnh đó, nghiên cứu xem xét các kênh
mà CNTT có thể đóng góp cho tăng trưởng xanh.
- Phương pháp so sánh đối chiếu
Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quốc tế với Việt Nam và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
- Phương pháp quy nạp
Từ thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu khái quát hóa thành các bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam, các yếu tố quan trọng cho thúc đẩy thực hiên tăng
trưởng xanh thông qua CNTT tại Việt Nam và những nguyên nhân, hậu quả, hạn chế
đang cản trở vai trò, sự tham gia của yếu tố CNTT tới thực hiện tăng trưởng xanh.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về
liệu tham khảo; phần nội dung của đề tài gồm mở đầu; 04 chương và kết luận:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thực hiện tăng trưởng
xanh thông qua công nghệ thông tin
Chương 3: Thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông
tin ở Việt Nam
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công
nghệ thông tin ở Việt Nam
Kết luận
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc
1.1.1. Tăng trưởng xanh
Cho tới bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn về tăng trưởng xanh trong
các cuộc bàn luận chính sách và trong công chúng. Khái niệm này có thể có phạm
vi hẹp đáp ứng một yêu cầu cụ thể như cải thiện môi trường đến sự kết hợp giữa
giảm phát thải với tăng trưởng, đến một kế hoạch toàn diện nhằm cải thiện tính hiệu
quả và tính bền vững về tài nguyên môi trường.
Ý tưởng về tăng trưởng xanh bắt đầu từ thập kỷ 1970 do áp lực của khủng
hoảng năng lượng 1972-1973. Từ cuối năm 2008, Chương trình Môi trường Liên hợp
quốc (UNEP) đã phát động “Sáng kiến kinh tế xanh” với mục tiêu tăng cường phối
hợp và hợp tác quốc tế ứng phó với khủng hoảng tài chính đi đôi với xử lý các vấn đề
toàn cầu nhằm hướng tới phát triển bền vững của kinh tế thế giới hậu khủng hoảng.
Vấn đề tăng trưởng xanh gần đây cũng được nêu đậm tại nhiều khuôn khổ
hợp tác (G8, ESCAP...) và diễn đàn quốc tế (Hội nghị Bác Ngao, Tương lai Châu
trường, mất đa dạng sinh thái và sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững.
Nó được xây dựng dựa trên các sáng kiến phát triển bền vững tại nhiều quốc gia và
nhằm mục đích xác định các nguồn lực sạch hơn để tăng trưởng, bao gồm nắm bắt
cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp, công việc và công nghệ xanh mới,
trong khi cũng quản lý những thay đổi cấu trúc liên quan đến việc chuyển đổi sang
một nền kinh tế xanh hơn”. 2
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương như một tổng thể đã sáng lập và nuôi
dưỡng tăng trưởng xanh. Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
của Liên Hợp Quốc (NESCAP) đi đầu trong việc vận động nâng cao nhận thức và
hỗ trợ cho tăng trưởng xanh trong và ngoài khu vực thông qua các hội nghị, nâng
cao nhận thức, được ủng hộ và cam kết về các chương trình và các hoạt động thuộc
chủ đề này trong khu vực.
Các khái niệm về tăng trưởng xanh đã đạt được tăng trưởng đáng kể từ các
sáng kiến trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
NESCAP đã định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa
hoá trong sản lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái. Cách tiếp cận mới
tìm kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc
thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội”.
Trung tâm đào tạo CNTT và Truyền thông Châu Á - Thái Bình Dương của
Liên hợp quốc (UN-APCICT) xuất bản học phần 10 (module10) Công nghệ thông
tin và truyền thông, Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh (Module 10 - ICT,
1 LHQ và ADB, Tăng trưởng Xanh, tài nguyên và ứng phó: Bền vững Môi trường ở châu Á và Thái Bình Dương (Bangkok, 2012), trang XV. Có tại
/>2OECD, Báo cáo tạm thời của Chiến lược Tăng trưởng xanh: Thực hiện cam kết của chúng ta cho một tương lai bền vững (2010). Có tại
3746, en_2649_201185_45196035_1_1_1_1, 00.html.
7
Climate Change and Green Growth) năm trong bộ tài liệu bộ tài liệu “Academy of
ICT Essentials for Government Leaders”. Tài liệu đã đưa ra định nghĩa về tăng
.
.
6 Longley, Dennis; Shain, Michael (2012), Dictionary of Information Technology (ấn bản 2), Macmillan Press, tr. 164, ISBN 0-333-37260-3
.
5 Management in the 1980‟s, Harold J. Leavitt and Thomas L. Whisler, Harvard Business Review, 1958-11.
8
1.1.3. Về các yếu tố ảnh hưởng
Năm 2005, nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm về Môi trường và Phát
triển đã diễn ra tại Seoul, UNESCAP nhận một nhiệm vụ để thúc đẩy tăng trưởng
xanh như một chiến lược để đạt được phát triển bền vững cùng lúc đạt được các
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) thứ nhất về giảm nghèo và thứ 7 về bền
vững môi trường7.
Kết quả của hội nghị là sự thống nhất về một kế hoạch thực hiện trong khu vực
để phát triển bền vững khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Kế hoạch kêu gọi cải thiện
môi trường bền vững; tăng cường hoạt động môi trường; thúc đẩy bảo vệ môi trường
như một cơ hội để sự tăng trưởng kinh tế bền vững; tích hợp DRM (Disaster Risk
Management - quản lý rủi ro thiên tai) vào các chính sách và lập kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội. Một Tuyên bố chung của các Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển ở
châu Á và Thái Bình Dương đã được thống nhất. Sáng kiến Seoul về tăng trưởng xanh
cũng được thống nhất. Sáng kiến này thiết lập một số mục tiêu như sau:
(1) Nâng cao hiệu quả sinh thái cho môi trường bền vững.
(2) Tăng cường hoạt động môi trường.
(3) Tăng cường bảo vệ môi trường như một cơ hội để phát triển bền vững.
(4) Tích hợp DRM và chuẩn bị sẵn sàng các chính sách và kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
Từ hội nghị này, một số chương trình và các hoạt động trong khu vực đã
phía trước trong một thế giới hạn chế tài nguyên. Hàn Quốc đã thực hiện triệt để
khái niệm bao gồm các mục tiêu trung tâm của phát triển bền vững là xóa đói giảm
nghèo và phát triển con người. Một số quốc gia trong khu vực như Campuchia, Fiji,
Kazakhstan, Maldives và Mông Cổ đã thực hiện báo cáo về chính sách hỗ trợ tăng
trưởng xanh.
Hàn Quốc thể hiện quan điểm trong nghiên cứu Tăng trưởng xanh: Một con
đường mới cho Hàn Quốc (2010) coi tăng trưởng xanh10 như một “Mô hình mới để
tăng trưởng kinh tế”. Nó tìm cách thoát khỏi sự mâu thuẫn giữa “xanh” và “tăng
trưởng” và đạt được tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn duy trì tính toàn vẹn môi
trường. Hàn Quốc sẽ sử dụng ý tưởng tăng trưởng xanh để cơ cấu lại và củng cố
nền kinh tế, thay đổi mô hình tiêu thụ và sản xuất, tạo ra công việc xanh và các
ngành công nghiệp xanh. Tăng trưởng xanh sẽ là động lực chính cho sự thay đổi ở
Hàn Quốc, từ các chính sách kinh tế đến cuộc sống của người dân.
John A. Mathews - Green growth strategies - Korean initiatives (Chiến lược
tăng trưởng xanh - sáng kiến của Hàn Quốc) đã chỉ ra Hàn Quốc đã bắt tay vào một
chiến lược tăng trưởng xanh sâu rộng, hứa hẹn sẽ đặt nền móng cho một quá trình
chuyển đổi từ một hệ thống chủ yếu là “nâu” để một hệ thống công nghiệp xanh.
Trong bài báo này, các tính năng chính trong phương pháp của Hàn Quốc để xây dựng
và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh được vạch ra, và những tiến bộ đạt được cho
8 Tuyên bố cấp cao ASEAN về Phục hồi và Phát triển bền vững, được trình bày tại Hà Nội, Việt Nam, 09 tháng 4 2010. Có tại
/>9 Stacy Feldman, "Tăng trưởng xanh, chính sách quốc gia của Hàn Quốc, Đạt được chú ý toàn cầu", Thời báo Giải quyết khí hậu, 26
tháng 1 năm 2011. Sẵn từ />10 Ủy ban Tổng thống về Tăng trưởng Xanh, Tăng trưởng xanh: Một con đường mới cho Hàn Quốc (2010). Có tại
/>
10
đến nay (2009-2012) được xem xét. So sánh với chiến lược phát triển xanh của Trung
Quốc, như thể hiện trong kế hoạch năm năm lần thứ 12 (2011-2015), trong đó cả hai
chiến lược có liên quan tới chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và xây dựng động cơ tăng
trưởng mới được thiết kế để tạo ra nền tảng xuất khẩu của thế kỷ 21.
(1) Lưới điện thông minh, có thể nhận ra nhờ sự phụ thuộc chủ yếu vào
11
nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện và những hiệu quả quan trọng mà một hệ
thống phát và phân phối điện dựa trên nền tảng CNTT. Lưới điện thông minh rất
cần thiết cho việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo và hướng đến một thị
trường năng lượng hiệu quả.
(2) Tòa nhà thông minh, do tầm quan trọng của các tòa nhà và tốc độ đô thị
hoá nhanh trên toàn thế giới.
(3) Hệ thống giao thông vận tải và hậu cần thông minh, bao gồm cả chuỗi
cung ứng thông minh. Những đổi mới định hướng CNTT sẽ làm cho việc kinh
doanh hiệu quả về mặt năng lượng hơn.
(4) Động cơ thông minh - tất cả các loại động cơ - hay bộ phận và ứng dụng
được điều khiển bằng điện có thể được điều khiển bằng một bộ vi xử lý. Điều này
có thể dẫn đến tiết kiệm năng lượng đáng kể và giảm phát thải khí nhà kính.
(5) CNTT giúp mọi người tìm hiểu những hành vi của mình ảnh hưởng đến
sử dụng năng lượng, phát thải khí nhà kính và tác động đến môi trường. Bằng cách
cho phép hiển thị nhanh chóng sự nỗ lực, năng lượng và tài nguyên thiên nhiên tiêu
thụ, chúng ta đang ở trong một vị trí tốt hơn để hiểu những tác động của hành vi
của mình và thay đổi chúng cho phù hợp.
Trong tài liệu Green IT: Reduce Your Information System's Environmental
Impact While Adding to the Bottom Line của Toby Velte, Anthony Velte, Robert C.
Elsenpeter đã đề cập đến vấn đề làm sao để giảm tác động môi trường và chi phí
cho cơ sở hạ tầng CNTT của các doanh nghiệp; các giải pháp mang tính đột phá
được đề cập trong tài liệu cung cấp một lộ trình hoàn chỉnh cho việc tích hợp các kỹ
thuật và công nghệ thân thiện môi trường vào kiến trúc hệ thống thông tin của các
doanh nghiệp. Tài liệu giải thích làm thế nào để áp dụng các sáng kiến xanh hướng
kinh doanh và cung cấp một kế hoạch thực hiện chi tiết; các doanh nghiệp sẽ tìm
thấy các chiến lược để giảm nhu cầu năng lượng, mua sắm năng lượng từ các nguồn
tăng, có mối quan tâm về các chi phí kinh tế của việc chuyển đổi sang nền kinh tế
xanh. Trong trường hợp của biến đổi khí hậu, một vấn đề quan trọng là mối quan hệ
của sản lượng kinh tế phát thải khí nhà kính, đã được dán nhãn năng suất carbon.
Tăng năng suất cacbon có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể được duy trì trong khi
lượng khí thải được giảm. CNTT có tiềm năng lớn để nâng cao năng suất carbon,
như CNTT được sử dụng để nâng cao hiệu quả năng lượng của các tòa nhà, hệ
thống giao thông vận tải, chuỗi cung ứng và lưới điện. Mặt khác, việc sản xuất và
sử dụng máy tính là một phát triển nhanh thành phần của tiêu thụ năng lượng và
phát thải khí nhà kính toàn cầu, một thực tế mà phải được cân bằng với lợi ích của
ứng dụng CNTT. Hệ thống thông tin xanh đề cập đến việc sử dụng các hệ thống
thông tin để đạt được các mục tiêu về môi trường, trong khi CNTT xanh nhấn mạnh
việc giảm tác động môi trường của sản xuất và sử dụng CNTT. Bài viết này tập
trung chủ yếu vào hệ thống thông tin xanh. Nó nghiên cứu, trình bày một mô hình
đầu tư CNTT và năng suất carbon, và đưa ra gợi ý cho nghiên cứu trong tương lai.
13
Martin
I.
Criswell, Christopher
Hoffert,
Ken
Green, Howard
Caldeira, Gregory
phép cả hai ổn định khí hậu và phát triển kinh tế.
Alemayehu Molla Vanessa Cooper Brian Corbitt Hepu Deng Konrad
Peszynski Siddhi Pittayachawan Say Yen Teoh - E-Readiness to G-Readiness:
Developing a Green Information Technology Readiness Framework (Phát triển một
khung công nghệ thông tin xanh): Nghiên cứu này đã chỉ ra các doanh nghiệp đang
chịu áp lực ngày càng tăng từ các đối thủ, nhà quản lý và các nhóm cộng đồng để
thực hiện các hoạt động kinh doanh bền vững. Cân bằng về kinh tế và môi trường
xanh do đó là một vấn đề chiến lược quan trọng. Các cuộc thảo luận tăng về CNTT
xanh đã gây ra sự quan tâm của nghiên cứu này. CNTT xanh gây ảnh hưởng không
chỉ công nghệ mà còn chiến lược cạnh tranh và thậm chí cả tính hợp pháp của một
số lựa chọn chiến lược kinh doanh. Sự hiểu biết và tận dụng CNTT là quan trọng
cho sự tiến bộ liên tục của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nguyên tắc, thông lệ và giá
trị của CNTT xanh chưa được nghiên cứu. Bài viết này giới thiệu các khái niệm của
CNTT xanh và mô tả những trụ cột chính của một khung tiếp cận để giúp các tổ
chức đánh giá sự sẵn sàng cho việc áp dụng CNTT xanh. Nếu không có một sự hiểu
biết rõ ràng về khung tiếp cận, các tổ chức sẽ tiếp cận các sáng kiến CNTT xanh
14
trên quảng cáo và phần nào có những phản ứng không mong muốn.
Nigel P. Melville - Information systems innovation for environmental
sustainability (Đổi mới hệ thống thông tin cho sự bền vững môi trường): tài liệu đã
nêu ra rằng cuộc sống con người phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, trong đó, hầu
hết đều đồng ý, là nhanh chóng xuống cấp. Các doanh nghiệp kinh doanh là một
hình thức của một tổ chức xã hội và đóng góp vào sự xấu đi của môi trường tự
nhiên. Các học giả ở các ngành khoa học hành chính xem xét những vấn đề về tổ
chức và môi trường tự nhiên bao trùm nhưng đã bỏ qua nhiều quan điểm hệ thống
thông tin. Ở nghiên cứu này phát triển một chương trình nghiên cứu về hệ thống
thông tin đổi mới cho sự bền vững về môi trường. Nghiên cứu này chứng tỏ vai trò
quan trọng hệ thống thông tin trong việc định hình niềm tin về môi trường, trong
(ILO), Kinh tế xanh (UNEP), Giáo dục vì sự phát triển bền vững (UNESCO), Xanh
hóa khu vực y tế (WHO), Thị trường công nghệ xanh (WIPO), Tiêu chuẩn CNTT
xanh, Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO), Sản xuất sạch hơn và hiệu quả nguồn
tài nguyên (UNEP và UNIDO), Các thành phố và biến đổi khí hậu (UNHABITAT), Tái chế tàu biển (IMO),…
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn (2011 - 2020) của Việt
Nam đã nêu: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất
lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu” phù hợp với định hướng
phát triển trên; do đó, Việt Nam có thể đề xuất để được tham gia vào các chương
trình thúc đẩy tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc.
- Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên lợi thế so sánh cao, vị
trí địa chính trị quan trọng; về khách quan đang trở thành một trung tâm của vùng
Đông Nam Á, với tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú (vốn tự nhiên) để
hướng tới Tăng trưởng xanh.
- Thứ hai, nguồn lực lao động của Việt Nam đang ở giai đoạn “dân số vàng”,
nhân dân Việt Nam có truyền thống cần cù lao động, sống giản dị và hài hòa với thiên
nhiên theo truyền thống văn hóa phương Đông, có khả năng tiếp thu kỹ năng quản lý
để phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ hiện đại cũng như
các nguồn lực chủ yếu của tăng trưởng xanh.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và sau đó là Kết luận Hội
nghị TƯ3 (khoá XI) đã xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái
cơ cấu nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Con đường phát
triển kinh tế bền vững mà cộng đồng quốc tế đang thừa nhận hiện nay là kinh tế
xanh, hay gọi cách khác là tăng trưởng xanh.
Xác định tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền
vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng
thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Ngày 25/9/2012,
16
nghiên cứu về tăng trưởng xanh và công tác ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng
trưởng xanh tại Việt Nam.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã tổ
chức một hội thảo và xuất bản một Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Chiến lược
11 “Nghị quyết số 49/CP về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90”. Chính phủ Việt Nam.
17
tăng trưởng xanh ở Việt Nam - Chương trình hành động và vai trò của các trường
đại học và các viện nghiên cứu. Tài liệu gồm các bài tham luận phản ánh các nội
dung về chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam; vai trò của các trường đại học và
các viện nghiên cứu trong việc thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh; đề xuất các
hướng, giải pháp về đổi mới mô hình tăng trưởng thông qua việc nâng cao vai trò
của các trường đại học và tổ chức nghiên cứu.
Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản một cuốn kỷ yếu hội thảo Tái cấu
trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt
Nam vào năm 2012. Tài liệu gồm 18 bài tham luận tham dự hội thảo với các nội
dung chính sau: Tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, khuôn
khổ lí thuyết và kinh nghiệm quốc tế về kinh tế xanh, hướng tới nền kinh tế - lựa
chọn chính sách cho Việt Nam
Nhà xuất bản Hồng Đức đã xuất bản cuốn sách “Tăng trưởng xanh cho mọi
người : Con đường hướng tới phát triển bền vững”. Đây là tài liệu gồm các báo cáo
khoa học đề cập tới các vấn đề liên quan tới tăng trưởng xanh và khuôn khổ phân
tích để tăng trưởng xanh cho mọi người. Trong đó phân tích rõ vấn đề tăng trưởng
xanh tác động tới các công ty, người tiêu dùng và các nhà hoạch định chính sách
thông qua cơ chế thị trường, phi thị trường, nguồn vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn
cơ sở vật chất... và qui trình thiết kế chiến lược tăng trưởng xanh.
Tác giả Bùi Quang Tuấn và Vũ Tuấn Anh đã có bài báo khoa học về “Tăng
trưởng xanh : Cơ hội, thách thức và những định hướng thực hiện” đã được đăng tại