Khoá luận tốt nghiệp trường nghĩa không gian trong hai tiểu thuyết lịch sử “búp sen xanh” của nhà văn sơn tùng và “sương mù tháng giêng” của nhà văn uông triều - Pdf 56

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

GIÁP THỊ THU

TRƢỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN
TRONG “BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG VÀ
“SƢƠNG MÙ THÁNG GIÊNG” CỦA UÔNG TRIỀU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI - 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

GIÁP THỊ THU

TRƢỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN
TRONG “BÚP SEN XANH” CỦA SƠN TÙNG VÀ
“SƢƠNG MÙ THÁNG GIÊNG” CỦA UÔNG TRIỀU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học


trên bất kì công trình khoa học nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm trƣớc lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2019
Tác giả khóa luận

Giáp Thị Thu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.................................................................... 1
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu....................................... 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 4
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 4
6. Đóng góp của khóa luận ....................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ............................................................................... 5
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................. 6
1.1. Trƣờng nghĩa .................................................................................... 6
1.1.1.Khái niệm về trường nghĩa............................................................ 6
1.1.2. Phân loại trường nghĩa ................................................................ 7
1.2.3.Ý nghĩa việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn học ..........11
1.2. Trƣờng nghĩa chỉ không gian ............................................................14
1.2.1. Khái niệm không gian trong văn học ...........................................14
1.2.2. Trường nghĩa không gian trong văn học ......................................15
1.3. Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Sƣơng
mù tháng Giêng” ....................................................................................16
1.3.1. Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”..................16
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết “Sương mù tháng Giêng” ...18
CHƢƠNG 2 TRƢỜNG NGHĨA KHÔNG GIAN TRONG TÁC PHẨM

chiến chống quân Nguyên Mông lần 2 (1285) .............................40
Bảng 2.5. Bảng khảo sát từ ngữ thuộc trƣờng nghĩa không gian trong cuộc
chiến chống quân Nguyên Mông lần 3 (1288) .............................43


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Có ngôn ngữ mới có văn học. Văn học là phƣơng tiện để thể hiện hình
thái của ngôn ngữ. Do vậy, khi phân tích một tác phẩm văn học ta phải gắn
với việc tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm văn học đó. Ngôn ngữ là chất liệu để
cấu thành tác phẩm văn học nên việc nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ trong
văn học là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, giúp ta hiểu rõ đƣợc một tác
phẩm văn học, bƣớc đầu tiên là từ chất liệu đặc trƣng của nó (chất liệu ngôn
từ).
Mọi sự kiện trong đời sống đều đƣợc diễn ra trong một không gian cụ
thể. Nhiệm vụ của văn học là tái hiện lại những sự kiện trong đời sống đó. Do
vậy, khi tái hiện lại đời sống, các nhà văn không thể bỏ qua yếu tố không gian
trong sáng tác của mình. Không gian góp phần xây dựng thế giới trong tác
phẩm văn học tạo nên tính tổng thể trong tác phẩm đó.
1.2.“Búp sen xanh” và “Sƣơng mù tháng giêng” là hai tiểu thuyết lịch sử
thành công của hai nhà văn Sơn Tùng và Uông Triều. Điểm chung ở hai tác
phẩm này là đều viết về những vĩ nhân trong lịch sử của dân tộc, từ đó thể
hiện lòng tự hào, tự tôn của dân tộc. Bên cạnh đó, hai tác phẩm thu hút ngƣời
đọc bởi cách xây dựng không gian độc đáo.
Việc tìm hiểu trƣờng nghĩa không gian trong “Búp sen xanh” và
“Sƣơng mù tháng giêng” không chỉ giúp ta phát hiện ra những vẻ đẹp của
ngôn ngữ dân tộc, bên cạnh đó cảm nhận đƣợc vẻ đẹp thiên nhiên trù phú của
quê hƣơng, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc trong tinh thần quật khởi chiến
đấu bảo vệ non sông đất nƣớc, đồng thời thấy đƣợc tƣ tƣởng của nhà văn
muốn gửi gắm qua việc khắc họa không gian trong tác phẩm. Tìm hiểu về

hơn cả là tiểu thuyết “Búp sen xanh”. Với tác phẩm này, Sơn Tùng đƣợc xem
là ngƣời đầu tiên trên văn đàn Việt Nam mở một hƣớng mới khi viết về Bác
Hồ, không phải xuất phát từ cái nhìn về một vị lãnh tụ, mà từ một con ngƣời
bình dị, một con ngƣời mang tâm hồn dạt dào của ngƣời dân xứ Nghệ.
Nhà văn Uông Triều, sinh năm 1977 là một trong những cây bút trẻ văn
xuôi xuất sắc của văn học Việt Nam kể từ sau năm 1975. Mảng sáng tác xuất
sắc nhất của Uông Triều chính là những truyện viết về đề tài lịch sử, và lấy
điểm tựa thời gian là nhà Trần. Nhà Trần cùng với những chiến công chói lọi,
ba lần chiến thắng quân xâm lƣợc Nguyên Mông trở thành niềm tự hào của

2


dân tộc. Hào khí Đông A đã mang lại nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho
các nhà văn, và Uông Triều không nằm ngoài sức hút đó. Tiểu thuyết “Sƣơng
mù tháng Giêng” đƣợc đánh giá là một trong những tác phẩm hay và thành
công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Uông Triều. Tác phẩm đã bao quát
một bối cảnh lịch sử rộng lớn về chiến thắng của vua tôi nhà Trần trƣớc hai
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông (1285 – 1288).
Cùng thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử và cùng viết về những vĩ nhân
của dân tộc,có một số công trình nghiên cứu về nội dung, tƣ tƣởng của tác
phẩm nhƣ: khóa luận tốt nghiệp Diễn ngôn lịch sử trong “Sương mù tháng
Giêng” của Vũ Thị Minh Thu (2017), tôi đọc “búp sen xanh” của Thảo
Nguyên (2015), kiến giải lịch sử trong tiểu thuyết “sương mù tháng Giêng”
của Phƣơng Nhã,… Tuy nhiên,từ góc độ ngôn ngữ nói chung, trƣờng nghĩa
nói riêng chúng tôi nhận thấy chƣa có công trình nào nghiên cứu. Do vậy, với
những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài Trường nghĩa không gian trong hai
tiểu thuyết lịch sử “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng và “Sương mù
tháng giêng” của nhà văn Uông Triều để nghiên cứu, mong muốn góp phần
làm sáng tỏ về trƣờng nghĩa chỉ không gian trong hai tác phẩm trên, đồng thời

Phƣơng pháp phân tích (phân tích ngữ nghĩa và phân tích ngữ cảnh): để làm
rõ giá trị biểu hiện của từ trong những trƣờng hợp cụ thể, bên cạnh đó chỉ ra
đƣợc ý nghĩa, tác dụng của các từ ngữ chỉ không gian đối với việc thể hiện giá
trị tƣ tƣởng của tác phẩm.
Ngoài hai phƣơng pháp trên, thủ pháp phân loại và thống kê cũng đƣợc
sử dụng trong khóa luận:
Thủ pháp thống kê: Dùng để tổng hợp ngữ liệu, qua đó bƣớc đầu có cái nhìn
khái quát về trƣờng nghĩa chỉ không gian trong hai tác phẩm.
Thủ pháp phân loại: Dùng để phân loại ngữ liệu giúp cho việc tìm hiểu vấn đề
đƣợc xác định một cách cụ thể và minh bạch hơn.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là Trường nghĩa không gian trong
hai tiểu thuyết lịch sử “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng và “Sương mù
tháng giêng” của nhà văn Uông Triều.
5.2. Phạm vi nghiên cứu

4


Khóa luận tập trung khảo sát và phân tích những từ ngữ thuộc trƣờng
nghĩa không gian của trong tác phẩm “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng
và “Sƣơng mù tháng giêng” của nhà văn Uông Triều.
6. Đóng góp của khóa luận
Từ lý thuyết về trƣờng nghĩa, tôi muốn đặt ra nhiệm vụ xác định những
trƣờng nghĩa chỉ không gian trong hai tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn
Sơn Tùng và “Sƣơng mù tháng giêng” của nhà văn Uông Triều.
Làm rõ đƣợc việc sử dụng các từ ngữ chỉ không gian trong hai tiểu
thuyết, qua đó khẳng định đƣợc những đóng góp của Sơn Tùng và Uông
Triều đối với ngôn ngữ nghệ thuật.

+ Vì vốn từ của một ngôn ngữ có mối quan hệ với nhau, nên không thể
nghiên cứu chúng theo từng bộ phận riêng lẻ mà cần phải đặt chúng trong một
hệ thống hoàn chỉnh khi nghiên cứu.
+ Do các từ có mối quan hệ về nghĩa với nhau, nên chúng ta chỉ có thể
nhận biết đƣợc bằng cách phân tích ý nghĩa, so sánh, đặt từ trong mối quan hệ
về nghĩa với những từ khác. Một từ chỉ có thể có nghĩa khi nó nằm trong
trƣờng nghĩa của nó.
- Lý thuyết về trƣờng nghĩa của Porzig (Đức): Trái với Trier, nghiên
cứu về trƣờng nghĩa của Porzig dựa trên sự phân tích mối quan hệ bên trong
đồng xuất hiện giữa các từ, các học giả khác thƣờng gọi lý thuyết trƣờng
nghĩa của Porzig là trƣờng cú pháp. Bởi Porzig cho rằng nghĩa của từ bị giới
hạn bởi ngữ cảnh mà chúng đƣợc sử dụng và các từ xung quanh chúng quy
định. Theo ông, sẽ có một từ trung tâm (Thƣờng là động từ) mà nhờ từ đó mà
nghĩa những từ xung quanh nó đƣợc xác định.
6


- Ở Việt Nam, vấn đề về trƣờng nghĩa cũng đƣợc rất nhiều nhà ngôn
ngữ học quan tâm nhƣ: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Tu,
Đỗ Việt Hùng,....trong đó, tiêu biểu là nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu. Qua
thực tế nghiên cứu của mình, ông đã cho rằng: “ Những quan hệ về ngữ nghĩa
giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt đƣợc các từ vào những hệ thống con thích hợp.
Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những
tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ
riêng lẻ thể hiện qua quan hệ những tiểu hệ thống chứa chúng”. Từ đó ta có
thể rút ra khái niệm về trƣờng nghĩa nhƣ sau:Trường nghĩa là tập hợp những
từ có nét chung về nghĩa. Nói cách khác, một tập hợp từ theo tiêu chí về nghĩa
gọi là một trường nghĩa.
1.1.2. Phân loại trường nghĩa
Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc ( quan hệ

+ Xét về bộ phận cơ thể ngƣời: tóc, răng, tay, chân, mắt, mũi, miệng,….
(2) Xác lập trƣờng nghĩa biểu vật về “cây” ta có:
+ Các loại cây: cây si, cây đa, cây tùng, xƣơng rồng, bèo tây….
+ Bộ phận của cây: thân, ngọn, rễ, lá, cành, ….
+ Mục đích sử dụng của cây: cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây làm thuốc, ….
Để xác lập trƣờng nghĩa biểu vật, ngƣời ta chọn một danh từ biểu thị sự
vật làm gốc, từ đó tìm các từ ngữ có phạm vi biểu vật với danh từ đƣợc chọn
làm gốc đó. Chẳng hạn nếu chọn từ “hoa” làm gốc, ta có thể thu thập đƣợc
các từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với từ hoa nhƣ: ly, cúc, huệ , lan, đỏ,
trắng, cam, vàng, tƣơi, héo,…
Mỗi trƣờng nghĩa biểu vật thƣờng có từ trung tâm là danh từ. Đó là
danh từ có tính khái quát cao, gần nhƣ là tên gọi của các phạm trù biểu vật
nhƣ: ngƣời, động vật, thực vật, chất liệu,…. Các danh từ này cũng là tên gọi
các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét
nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ. Dựa vào danh từ trung tâm, ngƣời ta xác
lập đƣợc trƣờng nghĩa biểu vật. Ví dụ trong trƣờng nghĩa biểu vật về “cây” ở
trên, ta tổng hợp đƣợc rất nhiều từ ngữ về cây và chúng nằm trong trƣờng
nghĩa “cây”.
Các trƣờng nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trƣờng nghĩa
biểu vật nhỏ. Đến lƣợt mình, các trƣờng nghĩa biểu vật nhỏ này có thể phân

8


chia thành những trƣờng biểu vật nhỏ hơn nữa. Chẳng hạn trƣờng nghĩa biểu
vật về “tay” có thể chia thành các trƣờng nhỏ: trƣờng biểu vật về bàn
tay(gồm: ngón tay, hoa tay, chỉ tay, mu bàn tay,…); trƣờng biểu vật về cánh
tay (gồm: khuỷu tay, cùi chỏ, cổ tay, xƣơng cánh tay,…).
Có từ nằm trong nhiều trƣờng biểu vật khác nhau. Chẳng hạn từ
“tƣơi” vừa có thể nằm trong trƣờng “cá, thịt” vừa nằm trong trƣờng thực vật

Từ có nhiều biểu niệm, do vậy mà một từ có thể đi vào nhiều trƣờng
nghĩa khác nhau. Cũng giống nhƣ các trƣờng nghĩa biểu vật, trƣờng nghĩa
biểu niệm cũng có sự giao thoa lẫn nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ
điển hình, và những từ ở lớp kế cận trung tâm.
1.1.2.3. Trường nghĩa liên tưởng
Tập hợp những từ cùng được gợi ra từ mối liên tưởng với một từ trung
tâm gọi là trường liên tưởng.Chẳng hạn, trƣờng liên tƣởng của từ “cho” gồm
các đơn vị từ vựng: biếu, tặng, dâng, hiến, hối lộ,….từ “ăn” khiến ta liên
tƣởng đến các từ: cơm, mì, xúc xích, pizza,….
Tìm hiểu nghĩa các từ qua mối quan hệ của nó trong trƣờng liên tƣởng
giúp ngƣời sử dụng có thể lựa chọn từ chính xác, hay. Ví dụ: Những liên
tƣởng về sự giống nhau và khác nhau của các từ: tặng, cho, biếu, thí, …sẽ
giúp ngƣời sử dụng chọn đúng từ tùy vào mỗi hoàn cảnh. Nếu để biểu thị sắc
thái biểu cảm bình thƣờng, thân mật, thái độ của ngƣời cao hơn với ngƣời
thấp hơn ta sử dụng từ “cho”. Nếu biểu thị sự long trọng, có ý nghĩa cao quý
ta sử dụng từ “tặng”. Biểu thị sự tôn trọng của ngƣời dƣới với ngƣời trên thì
ta sử dụng từ “biếu”. Biểu thị thái độ khinh thƣờng, coi thƣờng của ngƣời cao
hơn với ngƣời thấp hơn ta sử dụng từ “thí”.
Trƣờng nghĩa liên tƣởng mang màu sắc thời đại, dân tộc và chủ quan.
Nhận thức, quan điểm thẩm mĩ ở mỗi thời đại, giai đoạn lịch sử lại có sự khác
nhau. Ví dụ Ở Việt Nam thời phong kiến, “tùng, trúc” thƣờng gợi lên khí
phách, cốt cách của ngƣời quân tử. Hay trong thơ văn xƣa thƣờng dùng các từ
“giọt châu, giọt lệ, giọt ngọc,..” để chỉ nƣớc mắt của ngƣời thiếu nữ, “tuyết
rơi” để chỉ mùa đông, …Hoặc mùa thu trong thơ xƣa thƣờng gợi đến nhạn, lá
phong đồi màu, …Còn mùa thu trong thơ từ sau 1945 thƣờng cho ta liên
tƣởng đến Cách mạng, sao vàng, cờ đỏ, Bác Hồ,….
Mỗi cộng đồng ngƣời lại có những liên tƣởng khác nhau về hiện thực
khách quan. Ví dụ với ngƣời Việt, “rồng” là biểu tƣợng cao quý, thiêng liêng,
mang điều tốt đẹp cho mọi ngƣời (rồng bay phƣợng múa, thăng long, long
10

trong đó mà còn giúp rèn luyện đƣợc khả năng sử dụng ngôn ngữ, ứng
dụng vào việc tạo lập văn bản.

11


1.2.3.1. Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương
Tác phẩm văn học hay đƣợc thể hiện ở sự “giàu có” của ngôn từ và sự
vận dụng linh hoạt các biện pháp ngữ nghĩa. Trong ngôn ngữ, từ ngữ có thể
chuyển đối từ nghĩa này sang nghĩa khác nhờ các phƣơng thức chuyển nghĩa
nhƣ: ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, nhân hóa,….với mỗi phƣơng thức chuyển nghĩa
ứng với mục đích nhất địn, tùy thuộc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả.
Ở trƣờng nghĩa biểu vật, từ thƣờng chuyển đổi theo phƣơng thức ẩn dụ.
Nghĩa là các từ có nghĩa tƣơng quan là sự vật, hiện tƣợng này đƣợc chuyển
sang nghĩa của sự vật hiện tƣợng khác.
Ví dụ:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”.

Trƣờng nghĩa biểu vật thứ nhất là: mặt trời
Trƣờng nghĩa biểu vật thứ hai là: Bác Hồ
Trong hai câu thơ trên, hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ hai là chỉ
Bác Hồ. Theo phƣơng thức chuyển nghĩa, hình ảnh mặt trời thứ hai là cách
nói ẩn dụ về Bác Hồ. Bác tƣợng trƣng cho ánh sáng của lý tƣởng, soi rõ
đƣờng đi cho cả dân tộc Việt Nam. Bác luôn tỏa ra ánh sáng hào quang, bất tử
nhƣ ánh sáng của mặt trời trong sự sống.
Các từ ngữ trong cùng một câu văn hay đoạn văn thƣờng kéo nhau theo
cùng một trƣờng biểu vật. Hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ chủ đạo trong câu văn là
gì thì nó sẽ kéo theo các từ thuộc cùng trƣờng với nó.

thuật tả cảnh ngụ tình rất điêu luyện của Nguyễn Du.
1.2.3.3. Trường nghĩa tuyến tính và ngôn ngữ văn chương
Mỗi nhà văn, nhà thơ lại có những sự sáng tạo khác nhau. Dựa trên tƣ
tƣởng, khả năng tƣởng tƣợng, sức sáng tạo mà mỗi nhà văn, nhà thơ có những
trƣờng nghĩa ngang vƣợt ra ngoài những chuẩn mực thông thƣờng, để tạo nên
những liên kết mới lạ, thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật độc đáo của
ngƣời sáng tác.
Ví dụ: Những từ “tắt”, “buộc” là những hành động của con ngƣời tác
động nên một sự vật cụ thể trong vật chất nào đó để kiểm soát đƣợc hoạt động
của nó. Nhƣng với Xuân Diệu, từ “tắt” và “buộc” đƣợc nhà thơ dùng để lƣu
giữ, thƣởng thức những vẻ đẹp tự nhiên của đất trời:
13


“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”.
(Vội vàng)
1.2.3.4. Trường nghĩa liên tưởngvà ngôn ngữ văn chương
Trong văn học, trƣờng nghĩa liên tƣởng có tác dụng lớn trong việc giải
thích về cách dùng từ trong tác phẩm văn học. Khi đọc và phân tích tác phẩm
văn học, chúng ta phải vận dụng đến trƣờng nghĩa liên tƣởng để giải thích, cắt
nghĩa những hiện tƣợng ngôn ngữ mà tác giả sử dụng, những nghĩa còn mơ
hồ, mang tính biểu trƣng.
Ví dụ: Trong văn học Trung đại, hình tƣợng “trăng” thƣờng biểu thị
cho nỗi niềm của nhân vật trữ tình, nó đƣợc nội tâm hóa, thấm đƣợm tình cảm
của con ngƣời.
Trong bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hƣơng, hình ảnh vầng trăng hiện
hữu nhƣ muốn nhắc nhở thi nhân về sự lỡ làng trong tình duyên của mình

tù túng của con ngƣời nơi phố huyện trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam).
Không gian trong văn học không bị giới hạn bởi bất kì chiều kích nào. Trong
văn học, con ngƣời có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác một cách dễ
dàng. Điều này giúp cho văn học có cái nhìn đa chiều, phản ánh cuộc sống
một cách toàn vẹn hơn.
Từ đây có thể rút ra kết luận: Không gian trong văn học là một hình
tƣợng nghệ thuật, là phƣơng tiện để khái quát thế giới nội tại, là nơi để
tác giả bày tỏ quan niệm về cuộc sống và con ngƣời.
1.2.2. Trường nghĩa không gian trong văn học
Không gian trong văn học đƣợc thể hiện qua những từ ngữ chỉ không
gian. Và tập hợp những từ ngữ chỉ không gian trong tác phẩm đó ta có những
trƣờng nghĩa không gian trong tác phẩm văn học.
Mỗi nhà văn, dựa trên tài năng quan sát, và phong cách sáng tác của
mình lại xây dựng nên những kiểu không gian khác nhau, tuy nhiên điểm
chung của các tác giả là lấy con ngƣời làm trung tâm, không gian chủ yếu
xoay quanh con ngƣời, chịu tác động của con ngƣời. Với chất liệu là ngôn từ,
do đó nhà văn có thể chuyển từ không gian này sang không gian khác mà
15


không gây sự hụt hẫng, giãn cách trong tâm trí ngƣời đọc. Nhờ vào hệ thống
các sự kiện và các tuyến nhân vật trong tác phẩm mà nhà văn có thể kết dính
các mảng không gian lại với nhau từ mặt đất đến bầu trời, từ thế giới này sang
thế giới bên kia.
Không gian trong văn học bao gồm cả không gian vật chất và không
gian nghệ thuật. Trong đó, không gian nghệ thuật khác với không gian vật
chất là vì nó là không gian cảm giác đƣợc, không gian do con ngƣời sáng tạo
ra và cảm nhận về nó. Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định: “Không gian nghệ thuật
chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn cho thấy quan

như con mắt ướt đau đáu nhìn trời”. Biện pháp so sánh giúp cho những sự vật
trong tác phẩm hiện lên sống động hơn, làm tăng sức biểu đạt cho tác phẩm.
Biện pháp nghệ thuật nhân hóa cũng đƣợc Sơn Tùng sử dụng thành công
trong “Búp sen xanh”. Bằng con mắt tinh tế và sự sáng tạo của mình, Sơn
Tùng đã nhân hóa những sự vật, khiến chúng trở nên có hồn và sinh động
hơn: gió chiều vuốt nhẹ tấm áo nâu non, hay bóng nắng núng nắng trước ngõ.
Đọc “Búp sen xanh” ta không chỉ thấy đƣợc những tƣ tƣởng, ý nghĩa
mà tác giả muốn gửi gắm, mà ta còn học đƣợc nhiều bài học quý báu đƣợc
đúc kết lại thành những câu ca dao, thành ngữ mà trong tác phẩm sử dụng:
“Sinh con dạ sáng làu làu
Nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”
Hay
“Chí làm trai tựa cánh buồm biển cả
Tấm lòng già như cây lớn quê hương”.
Sự độc đáo trong tác phẩm còn thể hiện ở việc Sơn Tùng kết hợp đa
dạng giữa ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ. Trong tác phẩm, bên cạnh văn
xuôi, còn có nhiều bài vè:
“Em ngồi trong thúng
Mẹ gánh cân vai
Mẹ đi đường dài,
Nghe em kể chuyện”.

17


Hay:
“Dân vạn đại, quan nhất thời,
Ghế quan ai ngồi xin chớ thờ ơ.
Thương dân, dân lập đền thờ,
Hại dân, dân đái ngập mồ thối xương”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status