ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------------
TRẦN TUẤN THAO
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHÍN,XÃ
BA TRẠI, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản
thân và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, em đã hoàn thành tốt đợt
thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu
nhà trường, các phòng ban, các thầy cô giáo trong nhà trường, các thầy cô
giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong
suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS. Dương Ngọc Dương
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và công nhân trong trại lợn
Nguyễn Văn Chín liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái
Dương, Xã Ba Trại, Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho em thực hiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi để em hoàn thành tốt chương trình học tập tại trường.
Thái Nguyên, ngày... tháng... năm 2018
Sinh viên
Trần Tuấn Thao
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo của Nhà trường, thực hiện phương
châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tế sản xuất”, thực tập
tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học của
các trường Đại học nói chung và của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 4.1. Công tác vệ sinh, sát trùng.............................................................. 36
Bảng 4.2. Chương trình thuốc và vắc xin cho lợn nuôi tại trại chăn nuôi
Nuyễn Văn Chín liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái
Dương, Xã Ba Trại, Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội .................. 37
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 42
Bảng 4.4. Cơ cấu đàn lợn của trại lợn Nguyễn Văn Chín liên kết với công ty
cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương, Xã Ba Trại, Huyện Ba Vì,
Thành Phố Hà Nội (giai đoạn 11/2017– 05/2018) ......................... 43
Bảng 4.5. Tình hình mắc bệnh sản khoa của đàn lợn nái nuôi tại trại ............ 44
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắc các bệnh sản khoa ở lợn nái theo các tháng .................. 45
Bảng 4.7. Theo dõi một số triệu chứng lâm sàng của một số bệnh sản khoa
sau khi đẻ ........................................................................................ 47
Bảng 4.8. Kế quả điều trị một số bệnh sản khoa trên lợn nái nuôi tại trại ...... 48
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nxb:
Nhà xuất bản
TS:
Tiến sĩ
NCKH:
Nghiên cứu khoa học
2.1.2. Thuận lợi và khó khăn ...................................................................... 5
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 6
2.2.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh sản lợn cái ................................... 6
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn cái ........................................................... 10
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ................................. 13
2.2.4. Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái ............................. 16
2.2.5. Một số hiểu biết về thuốc điều trị bệnh sản khoa sau khi đẻ dùng
trong đề tài ................................................................................................ 21
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 24
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................... 24
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................ 26
vi
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH .. 28
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 28
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 28
3.3. Các chỉ tiêu theo dõi ................................................................................. 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 28
3.4.1. Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái 28
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của lợn
mắc bệnh sinh sản ..................................................................................... 29
3.4.3. Một số công thức tính toán các chỉ tiêu .......................................... 29
3.4.4. Phác đồ điều trị sử dụng tại trại ...................................................... 29
3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................. 30
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 31
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................... 31
4.1.1. Kết quả về thực hiện công tác chăm sóc và nuôi dưỡng ................ 31
4.1.2. Công tác phát hiện động dục và thụ tinh nhân tạo cho lợn nái. ..... 33
lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm. Đặc biệt là lợn nái
thường mắc phải một số bệnh như: bệnh viêm tử cung, bệnh đẻ khó, bệnh
viêm vú, mất sữa sau đẻ, bệnh bại liệt sau đẻ, hiện tượng rặn đẻ yếu.
Chính vì vậy, nhằm tăng khả năng sản xuất và hạn chế các bệnh sản
khoa mà đàn lợn nái hay mắc phải, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi thú y, thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi em thực tập em tiến hành
thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị
bệnh sản khoa cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Chín, Xã Ba Trại,
Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội’’
1.2. Mục đích thực hiện đề tài
1.2.1. Về chuyên môn
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại.
- Chẩn đoán những bệnh sản khoa thường gặp, cách phòng trị ở đàn lợn
nái nuôi tại trại.
2
- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái
và phòng trị một số bệnh sản khoa.
1.2.2. Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
* Kỹ năng sống
+ Tạo cho sinh viên tác phong nhanh nhẹn, chịu được áp lực cao trong
mọi công việc, có thể tự lập sau khi ra trường.
+ Biết lắng nghe và học hỏi từ những lời phê bình của người khác.
+ Giao tiếp ứng sử trung thực, lịch sự nhã nhặn, luôn giữ thái độ khiêm
nhường và cầu thị.
* Kỹ năng làm việc
+ Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập, nghiên cứu,
làm việc một cách khoa học.
trại lợn Nguyễn Văn Chín sẽ chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng. Mùa hè
nóng bức với lượng mưa tương đối cao, mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ
không khí trung bình hàng năm khoảng 23,6 °C , độ ẩm tương đối trung bình
hàng năm là 79%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1800mm và mỗi năm
có khoảng 114 ngày mưa, đặc điểm khí hậu rõ nét nhất là sự thay đổi và khác
biệt giữa mùa nóng, lạnh.khoảng tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa,
nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2°C. Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là
mùa đông với thời tiết khô ráo, nhiệt độ trung bình mùa đông là 15,2 °C. Giữa
2 mùa còn lại có sự chuyển tiếp làm cho thời tiết khá phức tạp.
*Quy trình thành lập
4
- Trại lợn Nguyễn Văn Chín , Xã Ba Trại, Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà
Nội được xây dựng trên diện tích 2 ha và được đưa vào hoạt động từ tháng 6
năm 2016.
* Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 5000m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công
nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng
trại cho 150 nái bao gồm: 2 chuồng đẻ mỗi chuồng có 30 ô kích thước 2,4 m ×
1,6 m/ô, 3 chuồng bầu mỗi chuồng có 40 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 1
chuồng phối chuồng có 10 ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 8 chuồng
cai sữa cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn,
phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8
quạt thông gió đối với các chuồng bầu, và 6 quạt đối với chuồng cách ly, 4
quạt đối với chuồng đực. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có
con sơ sinh là 15 con/đàn, số con cai sữa: 11con/đàn. Trại hoạt động vào mức khá.
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 28 ngày tuổi thì tiến hành cai
sữa và chuyển sang chuồng cai sữa. Lợn sau khi cai sữa đến khi được 11 tuần
tuổi sẽ được chuyển tới khu thịt để chăm sóc.
2.1.2. Thuận lợi và khó khăn
*.Thuận lợi
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, tiện đường giao thông.
Trưởng trại có năng lực, năng động, có nhiều kinh ngiệm, luôn quan
tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
6
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt
tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép
kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại.
* Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa
bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi phần lớn nhập khẩu từ nước
ngoài chi phí cao.
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý
nước thải của trại tốn kém.
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh sản lợn cái
* Bộ phận sinh dục bên trong.
- Buồng trứng.
Buồng trứng của lợn nái nằm trong xoang bụng và phát triển thành từng
cặp. Nó thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết ( sản sinh
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
+ Ống dẫn trứng: Đoạn ống dẫn rộng, xa tâm
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với khoang tử cung.
- Tử cung (dạ con)
Tử cung gồm hai sừng tử cung, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có
độ dài đến hơn 1m trong khi thang tử cung lại ngắn. Độ dày thích hợp cho
việc mang nhiều thai.
Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng
dây chằng rộng, ở động vật đẻ nhiều các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử
cung thông vào xương chậu.
8
Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống,
chúng tiết ra dịch đổ vào bề mặt nội mạc tử cung.
Cổ tử cung là một tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với
sự có mặt của một ít cơ trơn có thành dày và một thành xoang chậu hẹp.
Theo Trần Thị Dân (2004) [4], trương lực co càng cao (tử cung trở nên
cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực cơ co giảm (tử cung
mềm) khi có nhiều Progesterone trong máu. Cơ tử cung góp phần cho sự di
chuyển của tinh trùng.
- Âm đạo
Cấu tạo như một ống cơ có thành dày. Âm đạo lợn từ 10 - 12cm.
Ở lợn, tiểu mô âm đạo phát triển lên về độ cao tối đa vào lúc động dục
và giảm xuống điểm thấp nhất vào ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14.
Khả năng co rút âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý
tình dục và cho sự vận động của tinh trùng. Sự co rút của âm đạo, dạ con và
ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo, trong
+ Ống dẫn sữa khởi đầu bằng ống dẫn nhỏ thông với xoang bao tuyến,
nhiều ống dẫn nhỏ tập hợp lại đổ vào ống dẫn trung bình rồi đổ vào ống dẫn
lớn sau đó đổ vào bể sữa. Có thể hình dung cấu tạo tuyến vú giống hình cành
cây còn các bao tuyến giống hình chùm nho.
Bể sữa là một xoang rộng, được thông với ống đầu vú để đưa sữa ra
ngoài. Số lượng bể sữa và ống đầu vú cũng khác nhau tuỳ loài. Lợn mỗi một
đầu vú có 2 - 3 ống thông vú.
Xung quanh ống dẫn sữa và bể sữa được bao bọc bởi những sợi cơ trơn
và có tác dụng trong việc thải sữa khi co bóp. Ống thông đầu vú có sợi cơ trơn
sắp xếp theo hình vòng. Toàn bộ tuyến vú được bao bọc bởi mô liên kết và
mô mỡ. Mỗi bao tuyến được bao bọc bởi lưới mao mạch dày đặc, nó cung cấp
10
máu cho việc tạo sữa. Hệ tĩnh mạch trong tuyến vú phát triển mạnh hơn hệ
động mạch, theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [14].
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn cái
* Sự thành thục về tính
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ
thể phát triển căn bản đã hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố
(các phản xạ về sinh dục). Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng.
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên,nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng. Dưới tác
dụng của thần kinh, hormone, áp suất. Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào
trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin. Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra
khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau.
Lợn: 20 - 30 tế bào trứng 1 lần.
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra. Màng trên bị xẹp xuống
bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi
cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ nhất là lúc tế
bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt.
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [14]: Chu kỳ động dục
của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn
bình thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số
lượng lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử
cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng phấn
chưa cao. Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp
12
mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều
lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.
- Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt
những biến đổi sinh lý. Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết.
Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn
cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy
lên lưng con khác, thích gần con đực. Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi
buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại. Gia súc cái
trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện.
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình
thường. Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển
sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn.
hậu bị đã đặt vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày. Theo Hughes và
Jemmes (1996) [18] thì có đến 83% lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90
kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20 25 phút/lần. Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất 1
tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y.
+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng
của lợn nái khác nhau tùy thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý. Đây là một
trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản. Việc
xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp với lợn nái cần đảm bảo làm tăng số
trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng sơ
sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi.
+ Tuổi của lợn nái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống. Để
đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn nái cần thành thục về tính và
thể vóc. Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó
14
quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả. Phối sớm khi khối lượng
cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém,
chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau.
Nếu để quá muộn, lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng
sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế.
Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng
tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối
với lợn lai (nội × ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn
ngoại và lợn lai (ngoại × ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [15].
+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh
hưởng đến khả năng sinh sản của chúng. Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật
chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc
quá gầy và giữ cho hao hụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo
độ thích hợp khoảng 18 - 22C.
+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết
luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương
quan không thuận. Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở
lại càng ngắn. Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác
không đáng kể. Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn
của lợn nái. Với 7 kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so
với 8 ngày khi cho ăn 5 kg/ngày. Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con
có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên
quan đến sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau cai sữa. Nếu
cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 2 lứa. Tùy theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19
ngày (Mỹ), 23 - 28 ngày (Australia). Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 28 ngày tuổi.
16
+ Số con cai sữa/ổ: chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định
số lợn con cai sữa/nái/năm, là 1 chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đánh giá
hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản.
+ Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứng
tốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường. Số con đẻ ra/ổ có sự biến động
với mức độ khác nhau. Phần lớn lợn nái đẻ 11 - 12 con/lứa chiếm tỷ lệ cao
nhất (49,86%); số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%); số lợn đẻ
dưới 10 con/lứa chiếm tỷ lệ tương đối cao (34,89%). Số con sơ sinh/ổ thấp do
sự tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu. Lợn nái động dục ở các điều kiện
khác nhau, mùa vụ khác nhau, nhất là khi các điều kiện đó có sự thay đổi đột
ngột tạo stress, gây ảnh hưởng tới hoạt động thần kinh, nội tiết làm giảm số
lượng trứng phát triển, chín và rụng. Phương thức phối giống, quá trình cai
sữa… cũng ảnh hưởng đáng kể tới số con sơ sinh/ổ.
+ Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinh
Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh
bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ. Hoặc do
thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm.
Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm
nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn.
Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền
bệnh sang lợn nái. Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém
hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm
ướt kéo dài.
* Triệu chứng:
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] triệu chứng viêm tử cung thể
hiện qua 3 thể viêm: