CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA SINH VIÊNNĂM 2 – KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - Pdf 56

THAM LUẬN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU HỌC TIẾNG ANH
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN
NĂM 2 – KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Ths Nguyễn Đình Như Hà

MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Thế giới đang bước vào thời kì tri thức, xã hội hóa phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là
một xã hội của tri thức và dựa vào tri thức, vào tư duy sáng tạo của con người. Điều
này đòi hỏi người lao động cũng phải biết tự đổi mới kiến thức và năng lực của mình
cho phù hợp với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ. Người lao động phải
có khả năng tự định hướng và vươn lên để thích ứng với đòi hỏi của xã hội.
Sinh viên khối kỹ thuật và công nghệ nước ta hiện nay được tiếp xúc hàng ngày
với thông tin cập nhật, với khoa học kĩ thuật và công nghệ đang biến đổi rất nhanh
chóng cùng với sự hiện diện của các ngoại ngữ mà chủ yếu là tiếng Anh với hàng loạt
thuật ngữ khoa học, với cách diễn đạt rất đa dạng trong các lĩnh vực khoa học kĩ thuật
và công nghệ. Như vậy, vai trò của việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành ở các
trường Đại học và cao đẳng trong giai đoạn hiện nay là vô cùng to lớn và mang tính
chất quyết định chất lượng của quá trình hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, việc đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên nước ta hiện nay
chưa hợp lý dẫn đến sinh viên ra trường rất yếu kỹ năng này, ảnh hưởng đến sự phát
triển nghề nghiệp. Nỗi lo các doanh nghiệp hiện nay là các kỹ sư của các Trường Đại
học và Cao đẳng ra trường rất yếu tiếng Anh chuyên ngành và chính vì thế dẫn đến sự
chậm tiến bộ trong công việc.
Cũng như các lĩnh vực khác, để học chuyên ngành Công nghệ thông tin hiệu quả

đào tạo, khắc phục lối học truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sang tạo
của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại
vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
sinh, nhất là sinh viên đại học.” Do đó, để thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục và đào
tạo đại học và sau đại học nói chung, ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật nói
riêng, việc điều tra thực trạng và tìm ra giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục là việc
làm cần thiết và cấp bách hiện nay.
Trang 3


Nhiệm vụ thứ hai: khảo sát thực trạng
Khảo sát thực trạng đào tạo tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ thông tin, khoa
Công nghệ thông tin, trường CĐ Công Thương TPHCM. Đánh giá chất lượng giảng
dạy tiếng Anh chuyên ngành có đảm bảo được nhu cầu học tập của sinh viên và đáp
ứng nhu cầu xã hội không.
Khảo sát, đánh giá chất lượng, kỹ năng tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên
ngành Công nghệ thông tin, CĐ Công Thương TPHCM có đủ khả năng tự học, tự tìm
hiểu các kiến thức chuyên ngành thông qua các tài liệu bằng tiếng Anh, có đáp ứng
được nhu cầu nhà tuyển dụng và bắt nhịp được với xu thế phát triển không ngừng của
lĩnh vực chuyên môn trong quá trình hội nhập nền kinh tế tri thức thế giới.
Nhiệm vụ thứ ba: tìm ra giải pháp để giải quyết thực trạng
Đánh giá nhu cầu học tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên chuyên ngành Công
nghệ thông tin để từ đó tìm hiểu và đưa ra giải pháp để thúc đẩy tinh thần tự học, tự
nghiên cứu cũng như sự đam mê trong giờ học tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ tin.
Đồng tìm ra giải pháp xây dựng cơ sở vật chất, đặc biệt là giáo trình tiếng Anh
chuyên ngành Công nghệ thông tin để đáp ứng đầy đủ nhu cầu giảng dạy và học tập,
nghiên cứu của sinh viên. Xây dựng đội ngũ giảng viên tiếng Anh chuyên ngành hội đủ
khả năng chuyên môn ngành và tiếng Anh.
Làm cho sinh viên thấy rõ vai trò và sự cần thiết phải học tốt tiếng Anh chuyên
ngành để khơi dậy tinh thần tự học ở sinh viên. Từ đó cùng với sự hỗ trợ tốt về tài

cần đạt được khi thực hiện đề tài. Tổng hợp và chọn lọc tài liệu tìm ra phương pháp
hợp lý và tốt nhất để thực hiện đề tài.
2)

Phương pháp điều tra giáo dục
Khảo sát ý kiến sinh viên về nhu cầu, thái độ học tiếng Anh chuyên ngành và năng

lực sư phạm của giảng viên giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành; và điều kiện cơ sở vật
chất, tài liệu, giáo trình tiếng Anh chuyên ngành CNTT; yếu tố tự học tiếng Anh của
sinh viên và yếu tố mong đợi về nghề nghiệp tương lai của sinh viên.
3)

Phương pháp xử lý số liệu bằng SPSS
Trang 5


Tất cả số liệu thu thập được từ cuộc khảo sát sẽ được xử lý trên phần mềm SPSS 20
để tìm ra độ tin cậy của thang độ; điểm trung bình của thang đo; và chứng minh các giả
thuyết của tác giả.
8. Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn

Tính mới mẻ: đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên về vấn đề tiếng Anh chuyên ngành
Công nghệ thông tin tại trường Cao Đẳng Công Thương.
Đóng góp về giá trị lý luận: đề tài cung cấp cơ sở lý luận nghiên cứu vấn đề tiếng
Anh chuyên ngành ở bậc Cao Đẳng, làm cơ sở cho các nghiên cứu, đề tài khác sau này.
Đóng góp về giá trị thực tiễn: sau khi đề tài hoàn tất, những kết quả khảo sát của
đề tài sẽ đóng góp vào kho tư liệu thực tế của trường, làm tư liệu tham khảo cho các đề
tài nghiên cứu sau này. Những giải pháp mà đề tài đưa sẽ góp phần tìm ra giải pháp
thúc đẩy tích cực học tiếng Anh của sinh viên; phát triển và nâng cao hơn nữa hiệu quả
việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ thông tin.

mình.

Trang 7


2. Thực trạng học tiếng Anh của sinh viên hiện nay

Khảo sát nhanh của Viện Nghiên cứu giáo dục và Quản trị kinh doanh (EBM) tại một
số trường ĐH - CĐ khu vực TPHCM và Đồng Nai tháng 9/2013 vừa qua cũng cho thấy:
Chỉ hơn 65% SV không chuyên ngoại ngữ thấy được tầm quan trọng của việc học tiếng
Anh.
Số còn lại không xem tiếng Anh là cần thiết trong nghiên cứu học tập, chủ yếu “bám”
giáo trình tiếng Việt; trong khi đó, ngay cả GV cũng ít yêu cầu SV nghiên cứu tài liệu
nước ngoài. Bên cạnh đó, SV còn xa lạ với các hội thảo chuyên ngành, ít gặp gỡ bạn bè
quốc tế.
Th.S. Lê Đình Tưởng (GV Khoa Tiếng Anh Trường ĐH Sư phạm TPHCM) cho rằng:
Thực trạng SV yếu ngoại ngữ là do một thời gian dài, việc dạy học tiếng Anh tại các
trường quá chú trọng chuyện viết đúng ngữ pháp, nói cho giống người bản ngữ và dịch
cho hay, chuẩn xác mới chấp nhận. Tiêu chuẩn cao, thậm chí lý tưởng nên việc học ngoại
ngữ trở nên khó nhọc. Rất ít người biết sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp,
phần đông chỉ học để đối phó thi cử, rồi… lãng quên…Chính những nguyên nhân đó đã
khiến việc học Anh ngữ của SV Việt Nam suốt những năm dài qua chưa thật sự hiệu quả.
Thông qua thực tế và từ các cuộc khảo sát, nghiên cứu tại các trường ĐH-CĐ, TS Lê
Hồng Minh, Viện trưởng Viện EBM cho biết: Nguyên nhân sâu xa của việc SV Việt yếu
ngoại ngữ là do bản thân SV thiếu động cơ và nguồn cảm hứng học tiếng Anh. GV không
đặt ra yêu cầu nghiên cứu tài liệu nước ngoài cho SV, cũng như tạo ra môi trường học tập
chuẩn Anh ngữ khiến phần lớn SV ỉ lại, quan niệm một cách tiêu cực, chuẩn nghề nghiệp
(giỏi) mình học mới là chìa khóa tương lai.
Đặc biệt là cách dạy tiếng Anh không chuyên, dàn trải và thiếu tính liên tục đã khiến
không ít SV thấy “ngán” môn ngoại ngữ. TS Minh đánh giá thêm: “SV còn khá… nhởn

trường Cao đẳng Công Nghiệp Huế.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài 89 khách thế bao gồm 50 sinh viên ngành điện tử
đang theo học tại Trường và 30 cựu sinh viên của Trường, 04 giáo viên giảng dạy tiếng
và 05 giảng viên chuyên ngành Điện tử tại Trường.

Trang 9


Bài nghiên cứu tập đã tìm ra được mục đích học tiếng Anh chuyên ngành của sinh
viên với các kết quả như sau 76,6% sinh viên khi được hỏi về mục đích học tiếng Anh
chuyên ngành, họ đều có câu trả lời là để giao tiếp tại nơi làm việc. Ngoài ra còn những
lý do khác như để có công việc tốt (61,7%), để đọc tài liệu, sách hướng dẫn bằng tiếng
Anh (38,3%). Chỉ có 8 trong số 47 sinh viên chiếm tỷ lệ 17%, cho rằng họ học để thi và
4,2% sinh viên chọn mục đích để hiểu bài của giáo viên trên lớp.
Bên cạnh đó bài nghiên cứu đã chỉ ra được các hoạt động cần thiết cho giờ học tiếng
Anh cụ thể như sau làm bài tập theo nhóm (60%), tiếp theo là làm bài tập theo cặp (14
trong số 50 sinh viên). Một tỉ lệ nhỏ (10%) tỏ ra ƣa thích hình thức làm bài tập trong toàn
lớp (lockstep). Chỉ 1 sinh viên trong số 50 (2%) thích làm bài tập cá nhân (individual
work).
Kiến nghị của bài nghiên cứu cũng được thu thập qua câu hỏi mở cho sinh viên:
+ Khi xây dựng chương trình tiếng Anh chuyên ngành theo nhu cầu của người học, cụ
thể là sinh viên ngành điện tử, bao gồm mục đích học, các kỹ năng và khu vực kiến thức,
chủ đề, hoạt động học, hình thức kiểm tra, đánh giá... cần được xem xét kỹ trong từng
giai đoạn thiết kế chượng trình. Kết quả từ việc phân tích nhu cầu sinh viên điện tử đƣợc
trình bày ở phần trên nên được dùng để xác định các thành tố nội dung chính của chƣơng
trình tiếng Anh chuyên ngành sắp giảng dạy như mục tiêu, kỹ năng, phương pháp, chủ đề,
hình thức kiểm tra, đánh giá...
2. Ths. Đỗ Thị Xuân Dung (2015), Dạy và học tiếng Anh theo nhu cầu xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 150 cán bộ công chức đang làm việc tại các bộ

năng. Một lượng lớn sinh viên học tiếng Anh chuyên ngành nhằm đậu kỳ thi. Có 65%
sinh viên khẳng định rằng tìm một việc làm tốt là mục đính chính khi học tiếng Anh
chuyên ngành.

Trang 11


Bên cạnh đó bài nghiên cứu đã tìm hiểu về nhu cầu của sinh viên trong việc học tiếng
Anh để phát triển các kỹ năng. 71 % sinh viên muốn phát triển nhu cầu Nghe và 58%
sinh viên muốn phát triển nhu cầu nói.
Một số kiến nghị từ bài nghiên cứu như sau:
+ Trong quá trình thiết kế giáo trình tổ chức các hoạt động ngôn ngữ, giảng viên nên
chú ý đưa các trò chơi ngôn ngữ, tổ chức thảo luận nhằm giúp sinh viên có cơ hội được
học giao tiếp, học cách thu thập thông tin chuyên ngành trong các tình huống thực.
+ Nhà trường cần chú ý cải thiện phòng học, hỗ trợ các máy chiếu, máy chiếu đa
phương tiện để các giảng viên có thể sử dụng trong dạy học nhằm khơi gợi sự hứng thú
của người học.
4. Lê Thị Hồng Lam (2013), hoạt động tự học tiếng Anh của Sinh viên trường

Đại học Nông Nghiệp Hà Nội trong đào tạo học chế tín chỉ.
Đối tượng nghiên cứu 379 sinh viên K55 và K56 theo học các khối ngành nghề đặc
thù của Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội. Số phiếu điều tra tại các Khoa Cơ điện (59
sinh viên), Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn (85 sinh viên), Khoa Nông học (83 sinh
viên), Khoa Tài nguyên và Môi trường (72 sinh viên), Khoa Sư phạm và Ngoại ngữ (80
sinh viên).
Kết quả của đề tài về vấn đề tự học tiếng Anh của sinh viên: Thời gian dành cho tự
học tiếng Anh là từ 30’ đến 1 tiếng/ngày học (45,6%). Nếu chỉ dành từ 30’ đến 1 tiếng
cho môn ngoại ngữ, người học không thể học hết được tất cả các kĩ năng cần thiết của
môn học này, và cũng không thể đảm bảo có thể nhớ được hết số lượng từ vựng. 40,6%
sinh viên chỉ học dưới 30’ trên một ngày học. Tỉ lệ này khá lớn, xấp xỉ số sinh viên dành

khó khăn về cách học, nội dung học ngoại ngữ. Chỉ có 28,2% tỉ lệ sinh viên tìm gặp giáo
viên để nhờ tư vấn tháo gỡ khó khăn. Tỉ lệ này đã trả lời cho câu hỏi tại sao có tới 68,9%
tỉ lệ sinh viên ở bảng 7 cho rằng chưa có phương pháp, kĩ năng tự học tiếng Anh
Một số kiến nghị từ đề tài nghiên cứu:
Trang 13


+ Tăng thời gian tự học: Theo quy định, sinh viên lên lớp một tín chỉ thì thời gian chuẩn
bị bài ở nhà 2 tín chỉ. Với một học phần tiếng Anh là 3 tín chỉ (45 tiết lên lớp), sinh viên
phải dành thời gian tự chuẩn bị bài ở nhà là 90 tiết.
+ Xác định và giao nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên
+ Biên soạn các tiêu chí đánh giá, xác định thời gian nộp báo cáo kết quả tự học, tự
nghiên cứu của sinh viên và thông báo cho sinh viên ngay khi giao nhiệm vụ tự học, tự
nghiên cứu.
+ Cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu tiếng Anh tối thiểu mà sinh viên cần
đọc.
+ Giảng viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn
học thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như bài tập cá nhân hoặc bài tập nhóm
phù hợp với đặc thù môn tiếng Anh.
+ Sinh viên khi tự học phải có được môi trường học mang tính tự học cao (autonomous
learning environment). Nhà trường nên đầu tư thêm tài liệu phát cho sinh viên để ngoài
giáo trình chính học trên lớp sinh viên có thể tự trau dồi thêm về các kĩ năng khác (nghe,
nói, đọc, viết).

Trang 14


CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
I. Các giả thuyết nghiên cứu

2. Yếu tố về môi trường học tập và tư liệu học tập

Môi trường học tập là tập hợp những yếu tố không gian, nhân lực, vật lực và tài
lực, trực tiếp hoặc ở xa, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc học tập đạt kết quả tốt.
Theo Durkheim môi trường học tập bao hàm cả lớp học và việc tổ chức lớp học. Đề cập
đến môi trường học tập không thể không đề cập đến môi trường học tập tối ưu, trong đó
môi trường tối ưu cho học tập không phái là môi trường cần nhiều tiền bạc mà là môi
trường tâm lý, trong đó SV cảm thấy hạnh phúc, thoải mái và được khích lệ. Một môi
trường tối ưu đối với học tập là môi trường tối ưu cả về thể chất lẫn tinh thần cho SV. Các
yếu tố để tạo nên một môi trường tối ưu là: Các trang thiết bị và cách sắp xếp; anh sáng;
giáo cụ trực quan; đáp ứng nhu cầu SV; nhiệt độ thích hợp; sự thuận tiện; hình thức
chung.
Đối việc học tiếng Anh môi trường học tập rất quan trọng và cần thiết, từ những cơ
sở vật chất, lớp học sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và việc luyện tập tiếng của sinh viên. Phòng
học được trang bị các kỹ thuật giảng dạy hiện đại và đạt chất lượng sẽ đáp ứng tốt nhu

Trang 16


cầu cải thiện các kỹ năng tiếng Anh của sinh viên. Sinh viên có cơ hội được luyện tập nói
nhiều nếu học trong lớp học từ 15 – 20 sinh viên.
3. Yếu tố tự học của sinh viên

Theo bản chất của lý luận dạy học, tự học của sinh viên bao gồm toàn bộ môi
trường học tập được tổ chức bởi giáo viên với mục tiêu hướng đến tự đào tạo cho người
học. Tự học là hoạt động học tập diễn ra mà không có sự tham gia trực tiếp của người
dạy.
Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comensky (1592 – 1670), G. Brousseau
(1712 – 1778), A. Disterweg (1790 – 1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều
rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn

tốt và tìm kiếm được cơ hội việc làm phù hợp. Trong đó ngoại ngữ (tiếng Anh) là công
cụ hiệu quả giúp sinh viên dễ dàng tìm kiếm công việc trong hầu hết các loại hình doanh
nghiệp. Trong thực tế hơn 80% nguồn dự trữ thông tin của hơn 100 triệu máy tính khắp
thế giới là tiếng Anh. Điều này có nghĩa là người biết tiếng Anh sẽ thực hiện công việc
hiệu quả hơn vì có khả năng khai thác và sử dụng các thông tin mang tính quốc tế bằng
tiếng Anh trên mạng.
Theo kết quả khảo sát cuối năm 2015 do Navigos Search thực hiện tại Việt Nam,
Thái Lan, Singapore và Nhật Bản, tiếng Anh là một trong top 3 yếu tố quan trọng nhất
khi tuyển dụng tại Việt Nam. Các chuyên gia kinh tế và nguồn nhân lực nhận định rằng,
sau khi gia nhập AEC (Cộng đồng Kinh tế ASEAN) và TPP (Hiệp định Đối tác kinh tế
xuyên Thái Bình Dương), Việt Nam được hưởng lợi từ làn sóng đầu tư mới, đồng nghĩa
với nhiều cơ hội vàng về việc làm sẽ đến. Tuy nhiên, người lao động Việt Nam cũng phải
đối mặt với nhiều thách thức khi lực lượng lao động tại các nước thành viên được tự do
luân chuyển, khiến việc cạnh tranh ngày càng tăng cao. Vì vậy, để chủ động nắm bắt cơ
hội này, mỗi người Việt cần trang bị các kỹ năng cần thiết của một công dân lao động

Trang 18


toàn cầu. Trong đó, tiếng Anh là điều kiện không thể thiếu trong thị trường lao động quốc
tế hóa cao như hiện nay.
Theo kết quả khảo sát các đầu việc và mức lương do Adecco Việt Nam – đơn vị
chuyên nghiên cứu, cung ứng dịch vụ nguồn nhân lực vừa công bố mới đây, nhân sự
ngành Công nghệ thông tin có mức lương dao động 8-120 triệu đồng mỗi tháng. Không
thể phủ nhận vai trò tiếng Anh trong việc tìm kiếm các cơ hội việc làm hấp dẫn trong lĩnh
vực công nghệ thông tin. Sinh viên sẽ có nhiều khả năng sử dụng tiếng Anh để làm đòn
bẩy cho việc tăng lương dễ dàng ở bất kì loại hình tổ chức nào.

Mô hình nghiên cứu
Để tìm ra hiểu nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông

Phân tích hệ số tin cậy Cronbach Alpha
Hệ số tin cậy Cronbach Alpha được sử dụng để kiểm tra độ tin cậy bên trong của
thang đo. Nó cho biết mức độ tương phản giữa các biến trong mỗi nhóm.
Hệ số Cronbach’s Alpha (CA) được qui định như sau:





CA
.837
6
Với kết quả .837 cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha rất tốt. Cho thấy bảng hỏi được
thiết kế trực quan, rõ ràng, và phân nhóm và mẫu tốt.
5. Nhu cầu học tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ thông tin
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.750

II.

7

Với kết quả .750 cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đạt chuẩn cho bài nghiên cứu.
Thống kê mô tả (Descriptive Statistics)
Với kết quả đạt được của Mean trong bảng thống kê mô tả cho thấy các biến số
đều có giá trị trong việc thực hiện việc nghiên cứu, tuy điểm trung bình không cao nhưng
đều có ý nghĩa và có khả thi để kiểm định các giả thuyết đưa ra.

Trang 21


Ki

III. Descriptive Statistics

N
GV
102
MTTL

4.86

3.5225
3.6307
3.0126
3.5196
3.6681

ểm

Tác giả đưa ra bốn giả thuyết: yếu tố giảng viên giảng dạy tiếng Anh chuyên
ngành CNTT, yếu tố môi trường học tập và tư liệu học tập, yếu tố tự học và yếu tố nghề
nghiệp tương lai có ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu học tiếng Anh chuyên ngành CNTT.
Để kiểm định giả thuyết tồn tại, giả thuyết phải thõa mãn các điều kiện sau:
 R Square > 0
 Coefficient β cùng hướng (ảnh hưởng tích cực H+) với giả thuyết được đưa ra
 Giá trị Sig trong bảng Coefficients cho biết các tham số hồi qui có ý nghĩa hay
không (Sig

5.729 .000
11.661 .000
Trang 22


Kết quả thu được từ giả thuyết 1 như sau:
 R Square = .576 > 0


Coefficient β = .694, cùng hướng với giả thuyết được đưa ra (yếu tố giảng viên có

ảnh hưởng tích cực lên nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên)
 Sig. = .000 < 0.05
Suy ra từ kết quả, giả thuyết số 1 (H1 +) hoàn toàn được chấp nhận.
2. Giả thuyết 2 (yếu tố môi trường và tư liệu học tập ảnh hưởng đến nhu cầu học tiếng

Anh chuyên ngành CNTT của sinh viên)

Model R

Model Summary
R Square Adjusted
Square

2
.734a
.538
.534
a. Predictors: (Constant), MTTL

Sig.

.734

8.271

.000

10.801

.000

Kết quả thu được từ giả thuyết 2 như sau:
 R Square = .538 > 0


Coefficient β = .566, cùng hướng với giả thuyết được đưa ra (yếu tố giảng viên có

ảnh hưởng tích cực lên nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên)
 Sig. = .000 < 0.05
Suy ra từ kết quả đạt được, giả thuyết số 2 (H2 +) hoàn toàn được chấp nhận.

Trang 23


3. Giả thuyết 3 (yếu tố tự học ảnh hưởng đến nhu cầu học tiếng Anh chuyên ngành

CNTT của sinh viên)

Model R

T

Sig.

3.659

.000

TH
.769
.121
.535
6.333
.000
a. Dependent Variable: NC
Kết quả thu được từ giả thuyết 3 như sau:
 R Square = .286 > 0
 Coefficient β = .769, cùng hướng với giả thuyết được đưa ra (yếu tố giảng viên có
ảnh hưởng tích cực lên nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên)
 Sig. = .000 < 0.05
Suy ra từ kết quả đạt được, giả thuyết số 3 (H3 +) hoàn toàn được chấp nhận.
4. Giả thuyết 4 (yếu tố nghề nghiệp tương lai ảnh hưởng đến nhu cầu học tiếng Anh

chuyên ngành CNTT của sinh viên)
Model Summary
Model R
R Square Adjusted
Square
a
4

.599

.729

Sig.

7.717

.000

10.660

.000
Trang 24


a. Dependent Variable: NC
Kết quả thu được từ giả thuyết 4 như sau:
 R Square = .532 > 0


Coefficient β = .599, cùng hướng với giả thuyết được đưa ra (yếu tố giảng viên có

ảnh hưởng tích cực lên nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên)
 Sig. = .000 < 0.05
Suy ra từ kết quả đạt được, giả thuyết số 4 (H4 +) hoàn toàn được chấp nhận.

CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status