1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
LƯƠNG TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CẬN LÂM SÀNG VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
NỘI MẠCH BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI
DƯỚI MẠN TÍNH KHU VỰC DƯỚI GỐI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2019
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính chỉ tình trạng một phần hay toàn bộ
chi dưới không được cung cấp máu đầy đủ, đáp ứng nhu cầu hoạt động sinh lý
của chi thể, thời gian kéo dài trên hai tuần [59], [11]. Đây là bệnh lý tổn
thương động mạch chủ yếu do vữa xơ khá phổ biến, chỉ đứng sau vữa xơ
động mạch vành, động mạch não và động mạch chủ bụng.Tỉ lệ mắc bệnh khoảng
3-7% dân số, trong đó chiếm tới 15-20% trong quần thể người trên 75 tuổi. Bệnh
đang trở thành một vấn đề cấp bách trong thực hành y khoa gần đây với nhiều
bước tiến dài trong điều trị tái tưới máu [69], [141].
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính do vữa xơ có nhiều biểu hiện khác
nhau, từ không triệu chứng, đau cách hồi, giai đoạn muộn là loét và hoại tử
chi dưới. Tổn thương động mạch dưới gối là tổn thương trực tiếp gây ra loét,
thương động mạch) của bệnh động mạch chi dưới mạn tính do vữa xơ, có tổn
thương động mạch dưới gối.
2. Đánh giá kết quả và các yếu tố ảnh hưởng của can thiệp nong bóng
thường ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính do vữa xơ, có tổn thương
động mạch dưới gối.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đại cương bệnh động mạch dưới gối
1.1.1. Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) chỉ tình trạng một
phần hoặc toàn bộ chi dưới không được cung cấp đầy đủ máu, đáp ứng các
hoạt động sinh lý, với thời gian kéo dài trên hai tuần. Khái niệm này loại trừ
các trường hợp thiếu máu cấp tính do chấn thương, vết thương, huyết tắc
trên động mạch lành, tai biến do phẫu thuật hay thủ thuật can thiệp nội mạch
máu. Nguyên nhân phổ biến nhất gây ra BĐMCDMT là do mảng xơ vữa
phát triển gây hẹp dần lòng mạch hoặc tắc nghẽn hoàn toàn [82].
BĐMCDMT tiến triển qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn không triệu
chứng, đau cách hồi, đau liên tục, đến giai đoạn loét và hoại tử chi dưới, trong
đó tổn thương ĐM dưới gối với biểu hiện lâm sàng điển hình là thiếu máu chi
dưới trầm trọng (TMCDTT, bao gồm đau liên tục hoặc có loét, hoại tử chi
dưới), được coi là giai đoạn cuối cùng của BĐMCDMT, đe dọa trực tiếp tới
tình trạng sống còn chi thể [75].
1.1.2. Giải phẫu hệ động mạch chi dưới
Hệ động mạch chi dưới là hệ thống các động mạch (ĐM) cấp máu cho
chi dưới, tách từ cuối ĐM chủ bụng (tại vị trí ngã ba chủ chậu), tính từ trung
tâm tới ngoại vi bao gồm các tầng là ĐM chậu, ĐM đùi khoeo và ĐM dưới
gối (ĐM cẳng bàn chân) [15].
1.1.2.1. Động mạch chậu
máu cẳng bàn chân nặng, thậm chí hoại tử, do các nhánh nối nhỏ, mức độ bàng
hệ hạn chế [14], [15].
1.1.2.3. Động mạch dưới
gối
Động mạch dưới gối (ĐM cẳng bàn chân) bao gồm các ĐM vùng
cẳng chân (ĐM chày trước, ĐM chày sau, ĐM mác) và các ĐM vùng bàn
chân (ĐM mu chân, ĐM gan chân trong, ĐM gan chân ngoài).
Động mạch chày trước (Anterior Tibial Artery) là một trong hai nhánh
tận của ĐM khoeo, bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo đi qua bờ trên màng gian cốt
ra khu cẳng chân trước. ĐM chày trước tiếp tục đi xuống theo đường định
hướng từ hõm trước đầu trên xương mác tới giữa hai mắt cá rồi chui qua mạc
giữa các gân duỗi bàn chân, đổi tên thành ĐM mu chân.ĐM chày trước có
các nhánh nối thông với ĐM mác (bởi các nhánh mắt cá trước ngoài của ĐM
chày trước nối với các nhánh xiên vùng cổ chân, và nhánh mắt cá sau ngoài
của ĐM mác), và với ĐM chày sau (bởi nhánh gan chân ngoài của ĐM chày
trước nối với nhánh gan chân ngoài của ĐM chày sau). Nhờ các vòng nối
này, mà trong can thiệp có thể đưa dụng cụ từ ĐM mác và ĐM chày sau sang
tái thông ĐM chày trước và ngược lại.
Động mạch chày sau (Posterior Tibial Artery) là nhánh tận chính
của ĐM khoeo từ bờ dưới cơ khoeo hay cung gân cơ khép. ĐM chày sau
chạy trước cơ dép và sau cơ chày sau, cơ gấp các ngón chân dài, đi kèm là tĩnh
mạch và thần kinh chày, khi xuống đến một phần ba dưới cẳng chân thì ĐM
chạy ngang bờ trong gân gót. ĐM chày sau cho rất nhiều nhánh bên cung cấp
cho phần lớn các cơ vùng cẳng chân sau là nhánh mũ mác, nhánh mác, các
nhánh cơ, nhánh mắt cá trong. ĐM chày sau khi chạy xuống rãnh cơ gấp dài
ngón cái ở mặt trong xương gót thì chia làm hai nhánh tận là ĐM gan chân
vực nhất là khi không thể tái tưới máu cho tất cả các vùng bị thiếu máu.
Vùng tưới máu khu vực dưới gối được quan tâm đặc biệt trong tổn
thương ĐM dưới gối, do liên quan trực tiếp tới việc điều trị liền vết loét và
hoại tử chi dưới ở khu vực này. Khu vực dưới gối được cấp máu bằng ba
nguồn cấp máu chính là ĐM chày trước, ĐM chày sau và ĐM mác.
Vùng tưới máu của ĐM chày sau là vùng sau cẳng chân (bởi các nhánh
cẳng chân sau), vùng quanh mắt cá và gót chân (nhờ nhánh gót), nửa
ngoài gan bàn chân (bởi nhánh gan chân ngoài), và nửa trong gan bàn chân
(bởi nhánh gan chân trong).
Vùng tưới máu của ĐM chày trước là mặt trước cẳng chân (bởi các
nhánh cẳng chân) và mặt mu bàn chân (bởi động mạch mu chân).
Vùng tưới máu của ĐM mác là vùng trước ngoài mắt cá (nhờ các nhánh
xuyên) và phía sau bàn chân (bởi các nhánh vùng
gót).
Các vùng tưới máu cẳng bàn chân được kết nối bởi các nhánh nối giữa
ĐM mác với ĐM chày trước nhờ các nhánh mắt cá ngoài, giữa ĐM mác với
ĐM chày sau nhờ các nhánh gót trong và gót ngoài phía trong gân Achiles,
kết nối giữa ĐM mu chân và ĐM ống gót nhờ cung gan chân.
Vùng tưới máu dưới gối có ý nghĩa trong việc ưu tiên lựa chọn ĐM cần
tái tưới máu, nhằm tối đa hóa việc điều trị liền loét hoại tử, nhất là khi không
thể tái tưới máu cho tất cả các ĐM dưới gối bị tổn thương. Khi tái tưới máu
được ĐM dưới gối cấp máu vùng tổn thương thì gọi là tái tưới máu trực tiếp,
các trường hợp không tái tưới máu được ĐM cấp máu mà chỉ tái tưới máu
được các ĐM lân cận, cấp máu vùng tổn thương qua bàng hệ thì gọi là tái tưới
máu gián tiếp [46], [52].
Theo nghiên cứu của Neville và cs (2009) với 52 chân bệnh, bị tổn
thương ĐM dưới gối có loét ngoại vi,được tái tưới máu bằng phẫu thuật bắc
cầu, theo dõi sau 2 năm, thấy tỉ lệ liền vết loét là 91% ở nhóm được tái tưới
Bệnh nhân (BN) bị BĐMCDMT có tỉ lệ tử vong sau 5 năm là 31% (ở
nam giới) và 27,4% (ở nữ giới) (theo Vaartjes và cs (2009)) [149]; tỉ lệ tử
vong sau 10 năm là 61,8% (ở nam giới) và 33,3% (ở nữ giới), cao hơn
nhiều so với người không bị BĐMCDMT (tỉ lệ tử vong sau 10 năm ở người
không bị BĐMCDMT là 16,9% (ở nam giới) và 11,6% (ở nữ giới) (theo
Criqui và cs (1992)) [33]. Trong đó với TMCDTT thì tỉ lệ tử vong và tỉ lệ
cắt cụt chi thể sau 1 năm đều cao tới 25% [85]. Nguyên nhân tử vong của
BĐMCDMT đa số là do bệnh động mạch vành, đột quỵ não (theo Criqui và
cs (1992)) [33].
Tại Việt Nam, hiện chưa có số liệu thống kê toàn quốc về BĐMCDMT,
TMCDTT, tuy nhiên theo số liệu của Viện Tim mạch Quốc gia 2010 thì tỉ lệ
BĐMCDMT được điều trị nội trú tăng từ 1,7% (năm 2003) lên 3,4% (năm
2007) [11]. Theo nghiên cứu của Đoàn Quốc Hưng (2006), BĐMCDMT chiếm
31,3% các bệnh vữa xơ động mạch nói chung [9].
1.1.5. Các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch dưới gối
Các yếu tố nguy cơ của BĐMCDMT cũng là các yếu tố nguy cơ tim
mạch phổ biến, cụ thể là:
1.1.5.1. Tuổi
BĐMCDMT gắn liền với nguyên nhân do vữa xơ động mạch, bệnh
thường xuất hiện sau 50 tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng tăng.
Nghiên cứu Rotterdamcủa Meijer và cs (1997), sử dụng chỉ số ABI khảo sát
BĐMCDMT, cho thấy tỷ lệ mắc bệnhtăng dần theo tuổi: ở độ tuổi 55-59 tỉ lệ
này là 8,8%; độ tuổi 70-74 thì tỉ lệ là 19,8%; độ tuổi 75-79 tỉ lệ là 27% và lên
tới 52% ở độ tuổi từ 85 trở lên [41].
Nghiên cứu của Criqui và cs (2001) thấy kết quả tương tự, cụ thể với
tuổi dưới 60 thì tỉ lệ mắc bệnh là 2,5%; tuổi 60-69 có tỉ lệ mắc bệnh là 8,3%
và tăng lên tới 18,8% ở người trên 70 tuổi [63]. Nghiên cứu của Selvin và cs
(2004) thấy tỉ lệ mắc BĐMCDMT ở người trên 40 tuổi là 4,3%, trong đó với
dung nạp glucose, thì tỉ lệ mắc bệnh là 19,9%; nhưng với BN đái tháo đường,
tỷ lệ mắc BĐMCDMT lên đến 22,4% [39]. Tại Mỹ theo một thống kê cho
thấy nguy cơ phải cắt cụt chi do BĐMCDMT ở người bị ĐTĐ cao gấp 15 lần
người không bị ĐTĐ [27], [110].
1.1.5.4. Rối loạn lipid
máu
Rối loạn lipid máu dần làm tổn thương các tế bào nội mô của thành
ĐM dẫn đến hình thành tổn thương xơ vữa. Trong đó LDL-C là một nguyên
nhân chính dẫn đến rối loạn chức năng và tổn thương tế bào cơ trơn thành
mạch. Các lipoprotein dễ xâm nhập vào thành mạch và lắng đọng lipid vào
thành mạch, gây ra những tổn thương ban đầu của xơ vữa động mạch. Rối
loạn lipid máu làm tăng nguy cơ BĐMCDMT bao gồm tăng cholesterol toàn
phần, tăng LDL-C, tăng Triglycerid và giảm HDL-C.
Tăng cholesterol máu làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT lên 1,68 lần
(nghiên cứu của Selvin và cs (2004)) và cứ tăng mỗi 10mg/dl cholesterol thì
tăng nguy cơ mắc bệnh lên từ 5-10% [136]. Trong nghiên cứu Framingham
của Kannel và cs (1985) thấy những người có nồng độ cholesterol > 270
mg/dl có tỉ lệ mắc đau cách hồi gấp đôi người bình thường và những người có
đau cách hồi thì có tỷ lệ cholesterol cũng cao hơn người bình thường [37].
Nghiên cứu Edinburgh của Fowkes và cs (1991) thấy HDL-C có mối
tương quan nghịch với cơn đau cách hồi chi dưới [31]. Nghiên cứu của Ness
và cs (2000) thấy LDL-C tăng cao và HDL-C giảm nhiều hơn ở BN bị
BĐMCDMT so với người không mắc bệnh [42]. Nghiên cứu của Murabito
và cs (2002) thấy tăng HDL-C làm giảm khả năng mắc BĐMCDMT [113].
1.1.5.5. Tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) là một yếu tố nguy cơ lớn của BĐMCDMT.THA
làm tổn thương chức năng của nội mô và phì đại lớp áo giữa của thành động
mạch, làm giảm độ giãn nở của mạch máu, thúc đẩy nhanh quá trình xơ
vữa
Phân loại tổn thương ĐM chi dưới có ý nghĩa rất quan trọng trong
thực hành lâm sàng, nhằm đưa ra chiến thuật điều trị tái tưới máu hợp lý
nhất với từng loại tổn thương. Hiện nay trong thực hành, việc phân loại tổn
thương ĐM chi dưới theo khuyến cáo của thỏa thuận xuyên Đại Tây Dương
(TASC) [117].
Từ lần đưa ra khuyến cáo đầu tiên vào năm 2000 (còn gọi là TASC I)
đến nay, TASC đã có hai lần sửa đổi bổ sung vào các năm 2007 (TASC II)
và
2015 (TASC II cập nhật). Trong đó TASC 2000 (TASC I) và TASC 2007
(TASC II) mới chủ yếu chỉ đề cập khuyến cáo và phân loại các tổn thương
ĐM tầng chậu và tầng đùi – khoeo, thì TASC 2015 (TASC II cập nhật) đã có
nhiều sửa đổi về phân loại tổn thương ĐM tầng dưới gối, so với lần đề cập
đầu tiên TASC 2000 (TASC I) [61], [117].
Nội dung của phân loại TASC là chia tổn thương ở từng tầng ĐM chi
dưới thành các loại, theo mức độ từ nhẹ đến nặng là A, B, C, D; trong đó
khuyến cáo tổn thương TASC A nên tái tưới máu bằng can thiệp, TASC D
nên tái tưới máu bằng phẫu thuật, các tổn thương TASC B nên ưu tiên can
thiệp và TASC C nên ưu tiên phẫu thuật. Tuy vậy việc quyết định phương
pháp tái tưới máu còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, mức độ kỹ
năng của bác sỹ chuyên khoa từng cơ sở y tế [61], [117]. Dưới đây là phân
loại tổn thương các tầng ĐM chi dưới hiện nay:
Tổn thương động mạch chậu
Bảng 1.1. Mức độ tổn thương động mạch chậu (theo TASC 2007) [117]
Phân loại
TASCA
Mô tả tổn thương ĐM chậu
- Một tổn thương hẹp ở ĐM chậu chung, một bên hoặc hai bên.
- Hẹp ĐM chậu kết hợp phồng ĐM chủ bụng đòi hỏi phẫu thuật.
- Tắc ĐM chủ bụng đoạn dưới thận.
- Tổn thương lan tỏa từ ĐM chủ bụng xuống hai ĐM chậu.
- Tổn thương hẹp lan tỏa ở một bên của ĐM chậu chung, ĐM
TASCD
chậu ngoài và ĐM đùi chung.
- Tắc hoàn toàn ĐM chậu chung và ĐM chậu ngoài một bên
hoặc tắc hoàn toàn ĐM chậu ngoài cả hai bên.
- Hẹp ĐM chậu kết hợp phồng ĐM chủ bụng, không phù hợp
stent graft, đòi hỏi phẫu
thuật.
Tổn thương động mạch đùi – khoeo
Bảng 1.2. Mức độ tổn thương động mạch đùi khoeo (theo TASC 2007)
[117]
Phân loại
TASC A
Mô tả tổn thương ĐM đùi - khoeo
- Một chỗ hẹp ĐM đùi nông không quá 10 cm.
- Một chỗ tắc ĐM đùi nông không quá 5 cm.
- Nhiều tổn thương (hẹp hoặc tắc), mỗi tổn thương dưới 5 cm.
- Một chỗ hẹp hoặc tắc không quá 15 cm, tổn thương
không vượt quá đoạn dưới gối ĐM khoeo.
TASCB
thương hẹp dưới 1 cm tới ngã ba ba trục ĐM cẳng chân.
- Hẹp dài 1-4 cm, tắc dài 1-2 cm, hoặc hẹp ngã ba ba trục
ĐM cẳng chân.
- Tắc dài trên 2 cm hoặc tổn thương lan tỏa.
1.2. Chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới mạn
tính
1.2.1. Triệu chứng lâm sàng
BĐMCDMT Triệu chứng cơ năng
Tổn thương trong BĐMCDMT là hẹp hoặc tắc ĐM chi dưới, làm
giảm tưới máu các cơ quan ngoại vi (như cơ, da, tổ chức dưới da, thần kinh),
làm tăng chuyển hóa yếm khí, tăng tạo acid lactic, thể hiện trên lâm sàng là
đau, loét hoại tử ngoại vi chi dưới. Mức độ lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào
mức độ hẹp hay tắc hoàn toàn lòng ĐM chi dưới, vị trí tổn thương và tuần
hoàn bàng hệ qua tổn thương. Biểu hiện lâm sàng có thể từ không triệu
chứng, đau cách hồi, đau khi nghỉ, giai đoạn cuối cùng là loét và hoại tử chi
dưới [75].
Hiện nay trong thực hành vẫn dùng cách phân loại theo giai đoạn của
Fontaine (đề xuất năm 1954), hoặc theo độ và loại của Rutherford (đề xuất
năm 1986, sửa đổi năm 1997) [43], [82].
Bảng 1.4. Phân chia giai đoạn thiếu máu chi dưới của Fontaine[82]
Giai đoạn
Biểu hiện lâm sàng
I
0
0
Không triệu chứng
I
1
Đau cách hồi nhẹ
I
2
Đau cách hồi vừa
I
3
Đau cách hồi nặng
II
4
Đau chi khi nghỉ
Những vị trí cần thăm khám ĐM là: đùi, khoeo, chày trước và chày sau. Khi
bắt mạch có thể gặp 4 mức độ khác nhau về độ nảy của mạch dưới đây [85].
Bảng 1.6. Phân độ nảy của mạch trên lâm sàng [85]
Phân độ
Biểu hiện
0
Không có mạch
1
Mạch yếu
2
Mạch bình thường
3
Mạch nảy căng hơn bình thường
Nghe tiếng thổi tâm thu theo đường đi của động mạch chi dưới
Tiếng thổi tâm thu theo đường đi của ĐM chi dưới xuất hiện khi có hẹp
lòng mạch. Khoảng 1/3 số BN có tiếng thổi tâm thu dọc ĐM không có triệu
chứng cơ năng, nhưng sau 3-5 năm sẽ xuất hiện đau cách hồichi dưới [11].
1.2.2. Các xét nghiệm chẩn đoán BĐMCDMT
- Nghiệm pháp gắng sức là phương pháp thay thế ABI trong chẩn đoán
BĐMCDMT khi ABI ≥ 0,9 (mức khuyến cáo IB của ACC/AHA 2016) [78].
- TBI là phương pháp thay thế ABI trong chẩn đoán BĐMCDMT khi ABI
> 1,4 (mức khuyến cáo IC của ESC 2017, mức khuyến cáo IB của
ACC/AHA
2016) [53], [78].
- Nghiệm pháp gắng sức dùng để chẩn đoán, đánh giá chức năng chi thể
(mức khuyến cáo IIaB của ESC 2017) [53].
- Các phương pháp TBI, TcPO2, SPP đánh giá tưới máu khu vực khi có
loét, hoại tử (mức khuyến cáo IIaB của AHA/ACC 2017) [78].
Khuyến cáo về các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh
- Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, CTA, MRA) dùng để
chẩn đoán tổn thương ĐM chi dưới (cụ thể tùy thuộc vào trang thiết bị, kinh
nghiệm và giá thành tại cơ sở y tế) (mức độ bằng chứng B của TASC 2015)
[117].
- Siêu âm là chẩn đoán hình ảnh hàng đầu cho BĐMCDMT (mức
khuyến cáo IC của ESC 2017) [53].
- Siêu âm, CTA, MRA chẩn đoán định khu và mức độ tổn thương ĐM
trước điều trị tái tưới máu (mức khuyến cáo IB của ACC/AHA 2016, mức
khuyến cáo IC của ESC 2017) [53], [78].
- Chụp ĐM cản quang trước tái tưới máu cho thiếu máu chi dưới trầm
trọng (mức khuyến cáo IC của ACC/AHA 2016) và đau cách hồi (mức
khuyến cáo IIaC của ACC/AHA 2016) [78].
1.2.2.2. Giá trị của các xét nghiệm chẩn đoán BĐMCDMT
Các xét nghiệm đánh giá huyết động
Chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân cánh tay (ABI -Ankle Brachial Index)
Đo chỉ số ABI khá đơn giản và tiện dụng, có giá trị chẩn đoán
BĐMCDMT, với độ nhạy 79-95% và độ đặc hiệu 96-100% so với chụp
ĐM cản quang [32], [154]. Theo Fiegelson H.S. và cs (1994), ABI có độ nhạy
BĐMCDMT mức độ nhẹ (không triệu chứng)
> 0,4 – 0,75
BĐMCDMT mức độ vừa (đau cách hồi)
≤ 0,4
BĐMCDMT mức độ nặng (đau liên tục, loét hoại tử chi dưới)
Nhược điểm của ABI là không định khu được vị trí tổn thương, không
đánh giá được thực tế tổn thương ĐM nếu ĐM chi dưới bị vôi hóa, có hẹp tắc
ĐM dưới đòn hai bên, không tổn thương tất cả các ĐM cẳng chân, ĐM bàn
chân [11].
Nghiệm pháp gắng sức
Nghiệm pháp gắng sức là phương pháp chẩn đoán BĐMCDMT đơn
giản, dễ thực hiện, chủ yếu đánh giá chức năng vận động chi dưới [85].
Nghiệm pháp gắng sức được thực hiện như sau: BN được yêu cầu đi bộ
trên thảm lăn với tốc độ 3,2 km/h với độ dốc 10-20% cho đến khi đau cách
hồi xuất hiện, hoặc đạt tối đa 5 phút, sau đó đo lại chỉ số ABI. Nếu ABI sau
gắng sức giảm trên 15% so với trước gắng sức thì chẩn đoán BĐMCDMT
được đặt ra. Các BN không thực hiện được nghiệm pháp gắng sức thì có thể
thay thế bằng nghiệm pháp đi bộ 6 phút [85].
Đo huyết áp tầng
Đo huyết áp tầng nhằm đánh giá đoạn tổn thương ĐM chi dưới.
Phương pháp đo: đo HATT ĐM ở 1/3 dưới cẳng chân, 1/3 trên
cẳngchân, 1/3 dưới đùi, 1/3 trên đùi, ngoài ra có thể đo HATTĐM ở đầu các
ngón chân nhất là ngón chân cái, từ đó tính các chỉ số áp lực tâm thu bằng
so với chụp ĐM cản quang trong chẩn đoán tổn thương ĐM chi dưới.
Kỹ thuật này không sử dụng thuốc cản quang, nên tránh được các biến
chứng do thuốc cản quang gây nên [85]. Chụp MRA có lợi thế hơn chụp
cắt lớp vi tính mạch máu và siêu âm trong đánh giá tổn thương ĐM chi
dưới khi ĐM bị
canxi hóa nhiều [53].
Nhược điểm của chụp MRA là BN phải nằm trong hộp kín, không chụp
được khi BNcó mảnh kim khí, dụng cụ kim loại trong người (máy tạo nhịp
tim, máy phá rung,...), hình ảnh không rõ nét khi BN béo phì, và không đánh
giá được tái hẹp trong lòng stent sau can thiệp [53], [85].
Hình 1.4. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ động mạch chi dưới
Chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA - Computed Tomography
Angiography)
Chụp CTA ĐM chi dưới có độ tin cậy cao, độ nhạy có thể tới 95% và
độ đặc hiệu tới 96% so với chụp ĐM cản quang, đánh giá được tổng thể giải
phẫu và chi tiết vị trí cũng như tổn thương ĐM chi dưới (ưu thế hơn rất nhiều
so với siêu âm), ngoài ra còn đánh giá được tình trạng thành mạch, các
thông tin chi tiết về mô mềm [12], [85].
Nhược điểm của chụp cắt lớp vi tính mạch máu:
+ Sử dụng tia X, nên BN chịu nhiễm xạ.
+ Biến chứng do thuốc cản quang gây nên (như dị ứng, suy thận).
+ Hạn chế trong đánh giá các trường hợp thành ĐM có canxi hóa nặng,
đặc biệt ở các ĐM có kích thước nhỏ (như ĐM dưới gối), hoặc khi có giảm
dòng chảy ngoại vi (như trong suy tim hay tuần hoàn bàng hệ qua đoạn tắc
ĐM chi dưới kém) [85].
Hình 1.5. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính động mạch chi