TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
======
BÙI THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG
NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC
XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
======
BÙI THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG
NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC
XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thực tiễn đảm
bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trong
các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, … nào khác.
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Bùi Thị Huệ
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Mục đích của nghiên cứu ................................................................................. 2
3. Nội dung nghiên cứu........................................................................................ 2
4. Ý nghĩa ............................................................................................................ 2
4.1. Ý nghĩa khoa học....................................................................................... 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn ....................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới và ở Việt Nam ................. 3
1.1.1. Trên thế giới .......................................................................................... 3
1.1.2. Ở Việt Nam ............................................................................................ 8
3.1.9. Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) ............................................ 33
3.2. Phân bố của côn trùng nước theo các đợt thu mẫu tại khu vực nghiên cứu .. 34
3.2.1. Số loài và thành phần loài côn trùng nước theo các đợt thu mẫu ......... 34
3.2.2. Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước theo đợt thu mẫu ở khu vực
nghiên cứu ..................................................................................................... 35
3.3. Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu. ................................................................................................................... 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 43
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của côn
trùng nước tại khu vực nghiên cứu .......................................................... 21
Bảng 3.2. Thành phần các loài côn trùng nước ở khu vực nghiên cứu .................... 23
Bảng 3.3. Số lượng loài côn trùng nước theo các đợt thu mẫu ............................... 34
Bảng 3.4. Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu ở
đợt 1 và đợt 2 trên đơn vị thu mẫu là 2,5m2 ............................................ 36
Bảng 3.5. Loài ưu thế và chỉ số đa dạng sinh học Shannon – Weiner (H’) tại
khu vực nghiên cứ theo đợt thu mẫu ....................................................... 38
Bảng 3.6. Cấu trúc các nhóm chức năng dinh dưỡng ở khu vực nghiên cứu ........... 39
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Tỷ lệ (%) số loài theo từng bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu ....................................................................................................... 22
Hình 3.2. Tỷ lệ (%) về số lượng cá thể theo nhóm dinh dưỡng chức năng tại
dinh dưỡng chức năng của chúng ở khu vực nghiên cứu vẫn chưa được quan tâm.
Để góp phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý nghĩa này, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài:
“Nghiên cứu đa dạng sinh học và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng
của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh,
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”.
1
2. Mục đích của nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng sinh học về loài và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức
năng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc thuộc xã Ngọc
Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Nội dung nghiên cứu
+ Xác định thành phần loài côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên
thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Nghiên cứu một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực
nghiên cứu như: mật độ, phân bố, các chỉ số đa dạng.
+ Xác định cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại khu
vực nghiên cứu.
4. Ý nghĩa
4.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu đa dạng sinh học về loài và đặc điểm các
nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên
thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiên
cứu về côn trùng nước sau này tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc
Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [15]. Các loài thuộc bộ
Phù du được mô tả từ rất sớm. Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù
du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758). Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm
thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [31].
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình
là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás
(1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham et al (1935) [12].
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ
và hơn 400 giống của bộ Phù du. Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại
3
học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là ở các khu vực
nhiệt đới [18].
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực
hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage
(1921, 1924) [33].
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du là
sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạy
cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan
(1991), Bufagni (1997) [34].
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng
sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành. Vòng đời của chúng trải qua 3 giai
đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành. Thiếu trùng thường sống trong nước,
chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn. Bộ
Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ
Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô). Phân bộ
Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố
khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng
khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các
loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [28].
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú. Những nghiên
cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,
1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [22].
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932). Cánh
lông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955). Ở
Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực
này. Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng. Trong
khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành. Đặc biệt
trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng
được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989),
Chantaramongkol (1986, 1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000),
Mey (1989, 1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992,
1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong
(2003) [22]. Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng
Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [28].
5
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông
cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được
nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang,
1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987). Trong giai đoạn hiện nay, hướng
nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn
trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu. Do đó, các công trình liên
và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh
cứng [30].
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố,
đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
& Hortle (1989) [27]. Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975,
1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở
miền Ấn Độ - Mã Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện
theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990) [28].
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa
sống ở nước (Dudgeon, 1999). Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu
thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở
khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [29].
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm
bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972,
1973) [28]. Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae
được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới
châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991,
1992), Sites và cộng sự (1997) [29]. Merritt & Cummins (1996), Morse et al (1994)
đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc
Mỹ và Trung Quốc [27] [28].
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và
Leptopodomorpha. Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống
trên bề mặt của nước. Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có
khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen et al, 2005). Theo Bendell
(1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem như
những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27].
Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes
trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis
cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [13].
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba
Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một loài ghi
nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [15]. Trong
khoảng thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một
số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [166] [17].
Ở VQG Hoàng Liên được tiến hành với nhiều nghiên cứu khác nhau,
Nguyễn Văn Vịnh (2005b) đã xác định được 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ. Kết
8
quả đã công bố được 4 loài mới cho khoa học dựa vào các mẫu chuẩn thu được tại
Sapa, đó là: Isca fasica Nguyen and Bae, 2003; Rhoenanthus sapa Nguyen and Bae,
2004; Afronurus meo, Nguyen and Bae, 2003; Iron longintibius, Nguyen and Bae,
2004... Đồng thời, xác định được 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật
của Việt Nam [14]. Jung et al. (2008) đã xác định được 53 loài, 30 giống, 9 họ. So
với nghiên cứu trước đó của Nguyễn Văn Vịnh, nghiên cứu này không thu được 02
họ (Prosopistomatidae và Neoephemeridae) và 01 giống [23].
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ được tiến hành ở hệ thống suối Mường
Hoa mà chưa tiến hành ở các khu vực suối khác. Cho đến nghiên cứu của của
Nguyễn Văn Hiếu (2016) đã xác định được 78 loài, 43 giống, 13 họ thuộc bộ Phù
du của hệ thống suối thuộc VQG Hoàng Liên, trong đó đã ghi nhận mới cho khu hệ
động vật Việt Nam 20 loài (họ Baetidae: Acentrella lata, Baetis clivisus, Baetis
gracilentus, Baetis inornatus, Baetis morrus, Baetis pseudofrequentus, Baetis
pseudothermicus, Baetis tatuensis, Baetis terminus, Labiobaetis operosus,
Labiobaetis borneoensis, Neobaetiella macani, Nigrobaetis gracientus, Nigrobaetis
mundus, họ Ephemerellidae: Drunella ishiyamana và Teloganopsis oriens, họ
Thanh và nhóm nghiên cứu (2002), nghiên cứu đã đưa ra những dữ liệu về ấu trùng
Chuồn chuồn dùng để dánh giá chất lượng môi trường nước.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu
trong thơi gian gần đây. Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick
(1988), Stark và cộng sự (1999) [19], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn
trưởng thành. Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số
loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về
sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam. Thêm vào
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng
thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng. Cao Thị Kim
Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam. Công trình là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [19].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng
nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp. Kết
quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [13].
Cao Thị Kim Thu (2007) công bố hai loài mới thuộc họ Cánh úp lớn
(Perlidae) cho khu hệ Cánh úp Việt Nam là Agnetina den Cao & Bae, 2007 và
Chinoperla rhododendroma Cao & Bae, 2007 [20]. Đến 2009, tác giả trong nghiên
cứu thành phần loài họ Perlidae thuộc bộ Cánh úp ở khu vực miền Trung Việt Nam
đã xác định được 22 loài thuộc 10 giống, trong đó có 4 loài mới là Neoperla
tamdao, Tyloperla trui, Acroneuria bachma, Chinoperla rhododendrona và 4 loài
lần đầu ghi nhận cho khu hệ Việt Nam. Cũng trong năm này đã mô tả thêm hai loài
nữa thuộc giống Acroneuria (Perlidae) và 1 loài thuộc giống Phanoperla [10].
10
Cao Thị Kim Thu (2011) từ các mẫu vật thu thập được và tham khảo các tài
liệu đã công bố, đã tổng hợp được danh lục gồm 70 loài Cánh úp lớn thuộc 13
với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn
11
Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [31]; Cao Thị Kim Thu,
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã
[21], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật
không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [8].
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu
vào những năm đầu của thế kỷ XX. Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera)
được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam.
Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi Andersen (1975,
1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999),
Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [40].
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các
loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam. Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ
Cánh nửa ở nước ta [40].
1.2. Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng trên thế giới và ở
Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Phương pháp phân nhóm chức năng dinh dưỡng (Functional Feeding Groups
- FFGs) được Merrit & Cummins (1996) phát triển dựa trên đặc điểm sinh cảnh
sống, cấu tạo phần phụ miệng, cách thu nhận thức ăn và loại thức ăn của nhóm côn
trùng thủy sinh, đây là nhóm sinh vật chiếm ưu thế trong các quần xã sinh vật thủy
vực suối đầu nguồn [24].
Trước đó, các nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng của Cummins et
al. (1979, 1989) [24, 25] đã công bố những kết quả bước đầu về các nhóm dinh
dưỡng chức năng của côn trùng nước. Sau đó, Cummins et al. (2005) đã công bố
các nghiên cứu về lĩnh vực này ở Brazil [26].
13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, sử dụng mẫu côn trùng nước thu được tại suối chảy
qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; mẫu
này được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật
nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
2. Phạm vi, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
Đa dạng sinh học và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng
nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, xã
Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2017 đến tháng 5/2019. Mẫu vật sử
dụng trong nghiên cứu được thu ngoài thực địa: đợt 1 từ ngày 09/09/2017 đến ngày
23/09/2017; đợt 2 ngày 19/03/2018 đến ngày 24/03/2018. Các điểm nghiên cứu
thuộc suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, xã Ngọc
Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại Phòng thí
nghiệm Động vật, Khoa Sinh - kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2.
- Địa điểm nghiên cứu:
Mười điểm nghiên cứu được ký hiệu từ R1 đến R10 thuộc suối khác nhau ở
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
phúc. Trước khi tiến hành thu mẫu, ghi lại một số đặc điểm sinh cảnh, hình ảnh
chính của khu vực nghiên cứu.
Điểm 1 (Ký hiêu R1): Độ cao: 136 m, Tọa độ: N: 21023’- 40,7”,
E:105042’59,9”. Độ rộng của suối từ 2 - 3m. Hai bên suối có nhiều cây cỏ, cây bụi
cát. Độ che phủ khoảng 60 – 70%.
Điểm 8 (Ký hiệu R8): Độ cao: 82m, tọa độ N: 21023,318’; E: 105042,756’.
Độ rộng của suối khoảng 4 – 4,5m. Một bên suối là đường mòn, một bên là rừng
nguyên sinh, độ sâu khoảng 0,4 – 0,6 m. Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng, đá
cuội xen lẫn có sỏi nhỏ và cát. Trong suối có nhiều cây bụi thủy sinh, cao khoảng
0,5 – 0,8 m. Độ che phủ là 40 – 50%.
Điểm 9 (Ký hiệu R9): Độ cao: 77m, tọa độ N: 21023,242’; E: 105042,772’.
Độ rộng của suối khoảng 4 – 5m. Suối chảy qua cổng Trạm, độ sâu khoảng 0,2 –
0,5m. Nền đáy của suối chủ yếu là đá cuội, đá tảng và sỏi nhỏ. Độ che phủ 30 –
50%.
15
Điểm 10 (Ký hiệu R10): Độ cao: 59m, tọa độ: N: 21023’10,3”,
E:105042’45,0”. Độ rộng của suối từ 3 - 4m. Hai bên suối có rừng cây gỗ nhỏ và gỗ
lớn. Nền đáy chủ yếu là đá tảng, đá nhỏ. Suối nhiều mùn bã thực vật. Độ che phủ 70
- 90%.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Thu mẫu ngoài tự nhiên được tiến hành theo phương pháp của Merritt
Cummins (1996) [27], Morse et al. [28] (1994), Nguyen (2003) [33].
Trước khi thu mẫu, tiến hành xác định tọa độ và độ cao của điểm thu mẫu
bằng thiết bị GPS MAP 78 của Đức.
Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand
net). Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber Sample (diện tích thu mẫu
là 0,1 m2; kích thước mắt lưới 250µm).
Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân
đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước). Ở nơi có nhiều bụi cây
dùng vợt tay để thu mẫu. Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được
loại cho chỉ số đa dạng. Công thức để tính chỉ số này là:
𝑠
H′ = − ∑
𝑖=1
Với
𝑛𝑖 𝑛𝑖
ln
𝑁 𝑁
H’: chỉ số đa dạng loài
s: số lượng loài
N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu
ni: số lượng cá thể của loài i
Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon – Weiner là
số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài. Do vậy, số
lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài
càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông
qua hàm số Shannon – Weiner.
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau
đây:
Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt
Nếu chỉ số đa dạng từ 1 – 3: ĐDSH khá
Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém
Nguồn: Nguyễn Huy Chiến, 2007 [1]
17