I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân
tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước
cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ h ội trong th ực t ại . Kĩ
năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết mà chúng ta ph ải bi ết đ ể có
được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cu ộc
sống. Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến k ết luận là trong các y ếu t ố
quyết định sự thành công của con người, kĩ năng sống đóng góp đến
khoảng 85%. Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con ng ười
là: kiến thức, kĩ năng và thái độ. Hai yếu tố sau thuộc về kĩ năng sống, có
vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên
nghiệp, … Thành công chỉ thực sự đến với những người biết thích nghi đ ể
làm chủ hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì v ậy, kĩ năng
sống sẽ là hành trang không thể thiếu. Biết sống, làm việc và thành đ ạt là
ước mơ không quá xa vời, là khát khao chính đáng của nh ững ai bi ết trang
bị cho mình những kĩ năng sống cần thiết và hữu ích .
Kĩ năng sống tốt thúc đẩy thay đổi cách nhìn nh ận bản thân và th ế
giới, tạo dựng niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và động lực cho bản
thân, tự mình quyết định số phận của mình . Kĩ năng sống giúp giải phóng
và vận dụng năng lực tiềm tàng trong mỗi con người để hoàn thiện b ản
thân, tránh suy nghĩ theo lối mòn và hành động theo thói quen trên hành
trình biến ước mơ thành hiện thực. Quá trình hội nhập với thế giới đòi h ỏi
phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến th ức chuyên môn,
yêu cầu về các kĩ năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thi ếu kĩ năng
sống con người dễ hành động tiêu cực, nông nổi. Giáo d ục cần trang b ị cho
người học những kĩ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm ch ủ b ản
thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và gi ải quy ết h ợp
lý các mâu thuẫn, xung đột. Nghiên cứu gần đây về sự phát tri ển c ủa não
trẻ cho thấy rằng khả năng giao tiếp với mọi người, khả năng biết t ự kiểm
soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù h ợp v ới các yêu
cầu, biết giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập có nh ững ảnh
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU, CẢI TIẾN
Đầu năm học, tôi đã tìm hiểu tình hình tham các hoạt động giáo dục
tại nhà của học sinh lớp 3.1, thông qua nhật ký, những điều cần lưu ý trong
sổ chủ nhiệm của lớp cũ. Ngoài ra, bản thân trao đổi với giáo viên tr ực ti ếp
đứng lớp năm trước về kĩ năng sống của các em, tiến hành lập danh sách
từng nhóm đối tượng học sinh.
Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, một hoạt động quan
trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, th ực hiện mục
tiêu giáo dục của nhà trường. Chính từ những hoạt động nh ư: lao động,
sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội sẽ góp phần rất lớn trong việc hình
thành kĩ năng sống học sinh. Giúp các em biết tự giáo dục, tự rèn luy ện, t ự
hoàn thiện mình. Có thể nói việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên l ớp là
xây dựng cho các em các mối quan hệ phong phú, đa d ạng, m ột cách có
mục đích, có kế hoạch có nội dung và phương pháp nhất đ ịnh, g ắn giáo
dục với cộng đồng, tạo sự thân thiện trong mọi tình huống. Biến các nhu
cầu khách quan của xã hội thành những nhu cầu của bản thân học sinh.
Thông qua việc tham gia các hoạt động mà giáo dục kỹ năng sống c ần thi ết
cho trẻ, giúp trẻ biết làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó
trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và có cuộc
sống bình thường trong một xã hội hiện đại. Th ực hiện đ ược tri ết lý giáo
dục: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc tổ chức các hoạt đ ộng
giáo dục đa dạng, phong phú nhằm kích thích h ọc sinh tham gia m ột cách
2
tích cực chủ động vào các quá trình hoạt động. Qua đó, ta hình thành hoặc
thay đổi hành vi của trẻ theo hướng tích cực nhằm góp ph ần phát tri ển
huống trong cuộc sống kém, tính tự tin ít, tự ti nhiều, thường nóng n ảy, gây
gổ lẫn nhau. Kĩ năng giao tiếp hạn chế, chưa chấp hành tốt nội quy nhà
trường, vẫn còn hiện tượng nói tục, chửi bậy ở
một số học
sinh.
3
- Phụ huynh: Nguyên nhân khiến đa phần học sinh khó tiếp cận
được các hoạt động kĩ năng thực hành xã hội là do ph ụ huynh không cho
phép. Đa số phụ huynh cho rằng con em mình ch ỉ cần học gi ỏi ki ến th ức.
Có phụ huynh nóng vội trong việc dạy con; họ chỉ chú trọng đ ến việc d ạy
con mình biết đọc, biết viết hoặc biết làm toán mà không cần quan tâm
đến việc con học được kĩ năng sống nào khi đ ến tr ường. Ph ụ huynh h ọc
sinh chỉ khuyến khích các con tìm tòi kiến thức mà quên h ướng cho con em
mình làm tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng x ử trong
gia đình.
Một bộ phận phụ huynh giao tiếp trong gia đình vẫn còn h ạn chế,
xưng hô chưa chuẩn mực nên các em bắt ch ước x ưng hô ch ưa đúng. Đ ồng
thời có phụ huynh chiều chuộng con cái khiến trẻ không có kĩ năng t ự
phục vụ, phụ huynh chỉ chú ý đến khâu chăm con ăn uống mà không chú ý
đến dạy con mình cần ăn, uống như thế nào, sử dụng những đồ dùng, v ật
dụng trong ăn uống thế nào cho đúng? Vì sao chúng ta cần những đồ dùng,
vật dụng đó? Những đồ dùng đó để làm gì?
Từ những thực trạng trên đây, thì việc “Rèn kĩ năng sống cho học sinh
Tiểu học” là một việc làm vô cùng cần thiết để giúp cho các em say mê,
hứng thú trong học tập, các em thấy mình mạnh dạn h ơn trong giao ti ếp,
tự tin hơn trong việc thể hiện những năng lực của bản thân.
3. Các biện pháp tiến hành rèn kĩ năng sống cho h ọc sinh
Đối với tâm sinh lý trẻ em b ậc tiểu học thì có nhiều kĩ năng quan
trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học văn hoá đ ặc bi ệt là
trẻ em độ tuổi lớp 1. Thực tế k ết quả của nhiều nghiên cứu đều cho th ấy
các kĩ năng quan trọng nhất trẻ phải học vào th ời gian đ ầu c ủa năm h ọc
chính là những kĩ năng sống như: sự hợp tác, tự ki ểm soát, tính t ự tin, t ự
lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp.
Việc xác định được các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp
giáo viên lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ.
3.3. Cụ thể hoa nôi dung của nhưng kĩ năng cơ ban mà giáo viên
cân dạy học sinh
Kĩ năng hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, một vấn đề, một bài
hát mà giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là m ột công
việc không nhỏ đối với các em học sinh lứa tuổi này. Kh ả năng h ợp tác sẽ
5
giúp các em biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn.
Kĩ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một
trong những kĩ năng quan trọng nhất cần có ở các em vào giai đo ạn này là
sự khát khao được học. Người giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý
tưởng khác nhau để khơi gợi tính tò mò tự nhiên của các em. Nhiều nghiên
cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính
chất khác lạ thường khơi gợi trí não nhiều hơn là nh ững th ứ có th ể đoán
trước được.
Kĩ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ bi ết thể hiện bản thân và
diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận đ ược vị
trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kĩ năng c ơ
bản và khá quan trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so v ới t ất c ả
Ngoài ra, ở lớp, giáo viên cần dạy học sinh nghi th ức văn hóa trong ăn
uống, qua đó dạy các em kĩ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự l ập nh ư:
biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, không ăn uống
trong lớp, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống m ột
cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nh ỏ nh ẹ không gây
tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, biết tự d ọn,
cất đúng chỗ bát, chén, thìa, … hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay
ngắn, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh.
8
Việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh phải đ ược th ực hi ện theo
nguyên tắc tiến trình và nguyên tắc thay đổi hành vi: Giáo viên không th ể
giáo dục kĩ năng sống trong một lần mà kĩ năng sống là một quá trình t ừ
nhận thức đến hình thành thái độ và thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi của
một con người đặc biệt hành vi tốt là quá trình khó khăn. Do v ậy , giáo dục
kĩ năng sống không thể là ngày một ngày hai mà ph ải là c ả một quá trình.
3.4. Xác định nhiệm vụ c ơ ban trong việc rèn kĩ năng sống cho
học sinh
Cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự
chuyên cần, tích cực của học sinh, cần phải biết khai thác phát huy năng
khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi học sinh. Vì mỗi học sinh là một nhân v ật
đặc biệt, phải giáo dục học sinh để các em cảm th ấy thoải mái trong m ọi
tình huống của cuộc sống.
Cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục , chăm sóc các em
một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm nhằm giúp các em phát
triển đồng đều các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nh ận th ức, tình cảm - xã
hội và thẩm mĩ. Phát huy tính tích cực của các em, giúp các em h ứng thú,
chủ động khám phá tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến th ức, kĩ năng vào vi ệc
của học sinh thông qua các hoạt động như: trò chơi dân gian Ô ăn quan, Lò
cò, Cướp cờ, Tập thể dục giờ ra chơi, … Các phong trào như: Nhặt của r ơi
trả lại cho người bị mất, Biết nói lời hay ý đẹp, Hoa việc tốt, … H àng tuần,
vào tiết chào cờ sáng thứ hai cho các em tham gia “Kể chuyện Bác Hồ”,
tham gia phong trào “Mỗi tuần giới thiệu một quy ển truyện hay”, …. Các
hoạt động nền nếp như: trật tự xếp hàng ra vào lớp, đi h ọc chuyên cần,
giữ gìn vệ sinh trường lớp, vệ sinh cá nhân.
3.6. Tạo môi trường thực hiện nhiệm vụ rèn kĩ năng sống
Rèn kĩ năng sống được thực hiện mọi lúc mọi n ơi;
giáo dục kĩ năng sống được giáo dục trong mọi môi
trường như gia đình, nhà trường, xã hội;
cần phải tạo điều kiện tối đa cho học
sinh tham gia vào các tình huống thật
trong cuộc sống.
Giáo viên có kế hoạch giáo dục,
10
đánh giá học sinh bằng việc trang bị biểu mẫu đóng thành cuốn. M ỗi học
sinh có mỗi biểu mẫu đánh giá riêng nhằm giúp giáo viên thuận
tiện quan sát, ghi chép hàng ngày từng chi tiết về sự
tiến bộ của các em, ghi chép những kĩ
năng học sinh đạt được trong mỗi
ngày làm căn cứ, thước đo để đánh
giá cuối mỗi tháng học. Qua đó làm
cơ sở để thay đổi, bổ sung các biện
pháp giáo dục kịp thời, từng bước
hình thành các kĩ năng sống cho các
em.
Số lượng học sinh đạt yêu câu về kĩ năng sống
Đâu
năm
Tỉ lệ
(%)
Cuối kì
1
Tỉ lệ
(%)
Cuối
năm
Tỉ lệ
(%)
2016 2017
4.1
27
20
74,1
25
22
75,9
28
96,6
* Về phía giáo viên:
Giáo viên gần gũi chuyện trò với học sinh hơn, giải quy ết h ợp lý,
công bằng với mọi tình huống xảy ra giữa các em học sinh trong lớp.
Trong giảng dạy, giáo viên đã chú ý đến hoạt động cá nhân, hoạt
động nhóm nhiều hơn.
Mạnh dạn, tự tin điều khiển các cuộc họp phụ huynh học sinh, bi ết
tự chuẩn bị, phối hợp chặt chẽ, trao đổi thừơng xuyên với cha mẹ các em.
III. KẾT LUẬN – BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Kết luận
Rèn kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt đ ộng, đ ể h ọc sinh
tự cảm nhận, đánh giá, nhận xét qua các hành vi và từ đó hình thành các kĩ
năng; thực hiện sự phối hợp trong và ngoài nhà trường trong việc rèn kĩ
năng sống cho học sinh.
Giáo dục kĩ năng sống trong trường học góp phần rèn luy ện, hình
thành cho học sinh sống có trách nhiệm hơn và biết lựa ch ọn cách ứng x ử
phù hợp, ứng phó với các sức ép, thách thức trong cuộc sống.
Giáo dục kĩ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi m ở gi ữa
12
thầy, trò, sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong h ọc tập, nâng cao
Tham gia vào việc giáo dục của con cái không nên đ ể t ốn quá nhi ều
thời gian và cũng khộng cần tốn sức tập luyện, cha mẹ chỉ tốn ít th ời gian
khi cho các em thấy cha mẹ rất coi trọng giá trị của việc giáo dục. Việc
tham gia ở mức độ nào không quan trọng nhưng th ời gian đó thật đáng giá
và đó là sự đầu tư cần thiết cho tương lai của các em.
* Môt số điều người lớn cân tránh khi dạy tre kĩ năng sống :
Không hạ thấp các em: Cứ mỗi lần chúng ta nói nh ững l ời hạ thấp
khả năng các em là chúng ta đã phá vỡ những suy nghĩ tích c ực v ề chính
13
bản thân của học sinh. Không nên tạo cho các em thói quen kiêu ng ạo
nhưng cũng không nên nói những lời không hay đối với trẻ.
Không doạ nạt: Người lớn cần nhớ rằng mỗi lần chúng ta doạ nạt là
chúng ta đã làm cho trẻ sợ hãi và căm giận người lớn. Sự đe doạ hoàn toàn
có hại cho đứa trẻ và sẽ không giúp cho hành vi của các em tốt h ơn.
Không bắt các em hứa hẹn: Các em còn trẻ đang trong quá trình hình
thành nhân cách; những điều ta dạy trẻ, trẻ thường hay quên, đòi h ỏi ta
phải thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn cho nên chúng ta không nên b ắt các
em hứa hẹn. Vì khi các em không làm tròn lời hứa thì ở các em sẽ phát triển
cảm giác hối lỗi.
Không nên yêu cầu các em phục tùng theo ý người lớn ngay l ập t ức vì
sự phục tùng một cách thái quá không có sự thoả thuận gi ữa các bên không
tạo điều kiện phát triển tính tự lập ở các em.
Không yêu cầu những điều không phù hợp với các em vì nh ững yêu
cầu ở các em phải thực hiện một hành vi chín chắn mà các em ch ưa có kh ả
năng hoặc các em phải làm các yêu cầu không mang tính th ống nh ất và liên
tục trong việc cho phép hoặc cấm đoán sẽ ảnh hưởng không tốt đ ến s ự
phát triển tính nhận thức của học sinh.
Không nên nhồi nhét lượng kiến thức quá mức so v ới khả năng tiếp