Tài liu lun vn s phm , giáo dc1 of 63.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
======
BÙI THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG
NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC
XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI - 2019
Footer Page 1 of 63.
Tài liu lun vn s phm , giáo dc2 of 63.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
======
BÙI THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Bùi Thị Huệ
Footer Page 3 of 63.
Tài liu lun vn s phm , giáo dc4 of 63.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thực tiễn đảm
bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trong
các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, … nào khác.
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Bùi Thị Huệ
Footer Page 4 of 63.
Tài liu lun vn s phm , giáo dc5 of 63.
4. Khái quát điều kiện tự nhiên ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc
Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ..................................................... 18
4.1. Vị trí địa lý .............................................................................................. 18
4.2. Địa hình .................................................................................................. 19
Footer Page 5 of 63.
Tài liu lun vn s phm , giáo dc6 of 63.
4.3. Địa chất – thổ nhưỡng ............................................................................ 19
4.4. Khí hậu – thủy văn .................................................................................. 20
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 21
3.1. Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu ............................. 21
3.1.1. Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) ........................................... 31
3.1.2. Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) ............................................ 32
3.1.3. Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) ................................................ 32
3.1.4. Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) ............................................... 32
3.1.5. Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) ............................................ 32
3.1.6. Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera) .......................................... 33
3.1.7. Thành phần loài Hai cánh (Diptera) .................................................... 33
3.1.8. Thành phần loài Cánh vảy (Lepidoptera) ............................................. 33
3.1.9. Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) ............................................ 33
3.2. Phân bố của côn trùng nước theo các đợt thu mẫu tại khu vực nghiên cứu .. 34
3.2.1. Số loài và thành phần loài côn trùng nước theo các đợt thu mẫu ......... 34
3.2.2. Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước theo đợt thu mẫu ở khu vực
nghiên cứu ..................................................................................................... 35
3.3. Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu. ................................................................................................................... 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................... 41
khu vực nghiên cứu .............................................................................. 39
Footer Page 8 of 63.
Tài liu lun vn s phm , giáo dc9 of 63.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Côn trùng nước giữ vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái các thủy vực
nội địa. Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính
thích nghi phù hợp, nổi trội bởi số lượng loài cũng như số lượng cá thể lớn… đặc
biệt chúng là mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn [27]. Bên cạnh
việc đóng vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực và là
cầu nối mật thiết với con người, một số loài côn trùng nước lại là tác nhân truyền
bệnh, tác nhân gây bệnh, tác nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp…
Khác với nhóm côn trùng trên cạn, các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong
môi trường nước và trong môi trường cạn. Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng
dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa. Trên thế giới đã có
rất nhiều thành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc
phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến
hóa… Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được quan
tâm nghiên cứu. Đặc biệt ở các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên,
những nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng
nước cao.
Xã Ngọc Thanh là xã vùng núi duy nhất của thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc với tổng diện tích hơn 7.732,68 ha. Địa hình chủ yếu của xã là đồi núi thấp với
độ cao so với mặt nước biển dao động từ 25m đến 300m. Khu vực nghiên cứu có
nhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy vực dạng suối tương đối đa dạng và
phong phú. Các suối này là điều kiện rất tốt cho sự phát triển của các loài thủy sinh
4.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu đa dạng sinh học về loài và đặc điểm các
nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên
thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiên
cứu về côn trùng nước sau này tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc
Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, xây dự
quy hoạch, khai thác hợp lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại khu vực
nghiên cứu.
Footer Page 10 of 63.
2
Tài liu lun vn s phm , giáo dc11 of 63.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Côn trùng nước bao gồm những loài côn trùng mà có một phần hoặc cả vòng
đời sống trong môi trường nước. Chính vì sự đa dạng về thành phần loài, hình thái
cấu tạo và các đặc điểm thích nghi cùng với vai trò quan trọng của chúng đối với hệ
sinh thái và đời sống con người. Do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày
càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại
mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các mối
quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984;
Cummins, 1994) [27]. Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học
nhiệt đới [18].
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực
hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage
(1921, 1924) [33].
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du là
sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạy
cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan
(1991), Bufagni (1997) [34].
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng
sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành. Vòng đời của chúng trải qua 3 giai
đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành. Thiếu trùng thường sống trong nước,
chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn. Bộ
Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ
Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô). Phân bộ
Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố
ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao
Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983). Hai phân bộ còn lại
phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng
phong phú [28].
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình
nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999),
Silsby (2001) [7]. Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng
thành. Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định
loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [1].
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một
trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện
nay. Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc
điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes,
Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực
này. Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng. Trong
khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành. Đặc biệt
trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng
được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989),
Chantaramongkol (1986, 1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000),
Mey (1989, 1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992,
1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong
(2003) [22]. Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng
Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [28].
Footer Page 13 of 63.
5
Tài liu lun vn s phm , giáo dc14 of 63.
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông
cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được
nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang,
1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987). Trong giai đoạn hiện nay, hướng
nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn
trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu. Do đó, các công trình liên
quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins
(1996) [22]. Ở khu vực Bắc Mỹ, Merritt & Cummins (1996), đã xây dựng khóa
định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [27].
Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn
trùng biến thái hoàn toàn. Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trên
cứng [30].
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố,
đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
& Hortle (1989) [27]. Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975,
1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở
miền Ấn Độ - Mã Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện
theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990) [28].
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa
sống ở nước (Dudgeon, 1999). Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu
thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở
khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [29].
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm
bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972,
1973) [28]. Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae
được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới
châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991,
1992), Sites và cộng sự (1997) [29]. Merritt & Cummins (1996), Morse et al (1994)
đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc
Mỹ và Trung Quốc [27] [28].
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và
Leptopodomorpha. Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống
trên bề mặt của nước. Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có
khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen et al, 2005). Theo Bendell
(1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem như
những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27].
Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và
Crambidae sống ở nước. Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là về
Muller - Liebenau, 1980; Baetiella trispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella
albostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000;
Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes
trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis
cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [13].
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba
Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ. Trong đó có một loài ghi
nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [15]. Trong
khoảng thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một
số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [166] [17].
Ở VQG Hoàng Liên được tiến hành với nhiều nghiên cứu khác nhau,
Nguyễn Văn Vịnh (2005b) đã xác định được 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ. Kết
Footer Page 16 of 63.
8
Tài liu lun vn s phm , giáo dc17 of 63.
quả đã công bố được 4 loài mới cho khoa học dựa vào các mẫu chuẩn thu được tại
Sapa, đó là: Isca fasica Nguyen and Bae, 2003; Rhoenanthus sapa Nguyen and Bae,
2004; Afronurus meo, Nguyen and Bae, 2003; Iron longintibius, Nguyen and Bae,
2004... Đồng thời, xác định được 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật
của Việt Nam [14]. Jung et al. (2008) đã xác định được 53 loài, 30 giống, 9 họ. So
với nghiên cứu trước đó của Nguyễn Văn Vịnh, nghiên cứu này không thu được 02
họ (Prosopistomatidae và Neoephemeridae) và 01 giống [23].
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ được tiến hành ở hệ thống suối Mường
Hoa mà chưa tiến hành ở các khu vực suối khác. Cho đến nghiên cứu của của
Nguyễn Văn Hiếu (2016) đã xác định được 78 loài, 43 giống, 13 họ thuộc bộ Phù
Chuồn chuồn ở khu vực này. Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếu
trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít. Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phân
loại đến bậc giống [2].
Nguyễn Thị Minh Huệ (2009) trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước
VQG Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế xác định được 15 loài thuộc 11 họ. Cũng trong
năm đó, Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự khi nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại
VQG Tam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 12 họ tại khu vực này [2][6].
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phân loại học nghiên cứu về ứng
dụng của bộ Chuồn chuồn đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Đặng Ngọc
Thanh và nhóm nghiên cứu (2002), nghiên cứu đã đưa ra những dữ liệu về ấu trùng
Chuồn chuồn dùng để dánh giá chất lượng môi trường nước.
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu
trong thơi gian gần đây. Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick
(1988), Stark và cộng sự (1999) [19], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn
trưởng thành. Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số
loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về
sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam. Thêm vào
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng
thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng. Cao Thị Kim
Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam. Công trình là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [19].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng
nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp. Kết
quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [13].
Cao Thị Kim Thu (2007) công bố hai loài mới thuộc họ Cánh úp lớn
(Perlidae) cho khu hệ Cánh úp Việt Nam là Agnetina den Cao & Bae, 2007 và
Chinoperla rhododendroma Cao & Bae, 2007 [20]. Đến 2009, tác giả trong nghiên
cứu thành phần loài họ Perlidae thuộc bộ Cánh úp ở khu vực miền Trung Việt Nam
Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu
như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913).
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa
định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta. Hoàng Đức Huy (2005) mô
tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vào
giai đoạn ấu trùng [8].
Năm 2016, Nguyễn Văn Hiếu và cs. đã ghi nhận được 36 loài, 35 giống, 17
họ thuộc bộ Cánh lông, trong đó có 1 loài ghi nhận mới cho VQG Hoàng Liên, tỉnh
Lào Cai [3].
Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy
và bộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai
cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản
mạn. Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng
với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn
Footer Page 19 of 63.
11
Tài liu lun vn s phm , giáo dc20 of 63.
Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [31]; Cao Thị Kim Thu,
Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã
[21], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật
không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [8].
Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu
vào những năm đầu của thế kỷ XX. Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera)
được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam.
Tài liu lun vn s phm , giáo dc21 of 63.
Hướng tiếp cận côn trùng thuỷ sinh theo nhóm chức năng dinh dưỡng
(FFGs) cung cấp nhiều thông tin về quá trình chuyển hoá vật chất hữu cơ, mối quan
hệ dinh dưỡng, các dòng năng lượng có trong dòng chảy.
1.2.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nhóm chức năng dinh dưỡng của
côn trùng thủy sinh đã được một số nhà nghiên cứu tiến hành. Tuy nhiên các nghiên
cứu mới chỉ được thực hiện tại các dòng chảy đầu nguồn và hầu hết đều tập trung
khảo sát sự đa của côn trùng thủy sinh và khái quát về đánh giá chất lượng nước
sạch [9].
Tại khu vực nghiên cứu có nhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy
vực dạng suối tương đối đa dạng và phong phú. Các suối này là điều kiện rất tốt cho
sự phát triển của các loài thủy sinh vật nói chung và các loài côn trùng nước nói
riêng. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khu vực
này mới chỉ tập trung nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ở các suối thuộc Trạm
Đa dạng sinh học Mê Linh [30] hoặc đa dạng sinh học về loài Phù du [4] mà chưa
nghiên cứu về nhóm côn trùng nước trong toàn bộ khu vực, đặc biệt các nghiên cứu
về phân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của chúng ở khu vực này còn ít
và tản mạn.
Footer Page 21 of 63.
13
Tài liu lun vn s phm , giáo dc22 of 63.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Footer Page 22 of 63.
14
Tài liu lun vn s phm , giáo dc23 of 63.
tre, nứa và cây gỗ nhỏ và trung bình. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, ít đá tảng lớn. Suối
nhiều mùn bã thực vật. Độ che phủ 80 - 90%.
Điểm 3 (Ký hiệu R3): Độ cao: 117m, tọa độ: N: 21023’57, 3”,
E:105042’52, 6”. Độ rộng dòng nước từ 3-5m. Hai bên suối có rừng cây bụi, rừng
tre, nứa và cây gỗ nhỏ và trung bình. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, đá tảng lớn. Suối
nhiều mùn bã thực vật. Độ che phủ 90 - 95%.
Điểm 4 (Ký hiệu R4): Độ cao: 104m, tọa độ: N: 21023’37,0”, E:105042’52,3”.
Độ rộng của suối từ 2- 4m; hai bên suối có rừng cây gỗ nhỏ, cây bụi và dây leo. Nền
đáy chủ yếu là đá tảng, đá nhỏ. Suối nhiều mùn bã thực vật. Độ che phủ 80-90%.
Điểm 5 (Ký hiệu R5): Độ cao: 90m, tọa độ: N: 21023,601’; E: 105042,871’.
Độ rộng của suối khoảng 7 – 8 m; hai bên suối là rừng nguyên sinh, độ sâu của suối
khoảng 0,2 – 0,5 m vào mùa khô và 0,4 – 0,7 m vào mùa mưa. Nền đáy chủ yếu là
đá tảng, đá cuội xen lẫn sỏi nhỏ và cát. Độ che phủ 70 – 80%.
Điểm 6 (Ký hiệu R6): Độ cao: 85m, tọa độ N: 21023,438’; E: 105042,778’.
Độ rộng của suối khoảng 2 – 3,5 m. Hai bên suối là rừng nguyên sinh, độ sâu của
suối khoảng 0,3 – 0,6m. nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng xen lẫn có sỏi nhỏ và
cát, lượng bùn đất khá nhiều, nước suối tương đối đục. Độ che phủ khoảng 10 –
20%.
Điểm 7 (Ký hiệu R7): Độ cao: 83m, tọa độ N: 21023,377’; E: 105042,767’.
Độ rộng của suối khoảng 5.5 – 7,5m. Hai bên suối là rừng nguyên sinh, độ sâu của
suối khoảng 0,2 – 0,5 m. Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng xen lẫn có sỏi nhỏ và
là 0,1 m2; kích thước mắt lưới 250µm).
Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân
đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước). Ở nơi có nhiều bụi cây
dùng vợt tay để thu mẫu. Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được
thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu.
Mẫu định tính được thu ở các điểm bất kì, ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh
dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ
hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay.
Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 5 mẫu. Diện tích thu mẫu là
0,1m2. Như vậy, tổng diện tích thu mẫu cho mẫu định lượng tại mỗi điểm là 0,5m2.
Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất. Do các cá thể côn trùng
nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại
thực địa. Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và
đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Động vật,
Khoa Sinh - Kỹ Thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
3.2. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay thêm ít nước. Dùng
panh nhặt hết các ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước cần nghiên cứu cho vào lọ
và bảo quản trong cồn 800.
Footer Page 24 of 63.
16
Tài liu lun vn s phm , giáo dc25 of 63.
Phương pháp phân tích: Dụng cụ phân tích gồm: kính hiển vi, kính lúp, đĩa
Petri, lam kính, lamen, kim nhọn, panh…
Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại được
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau
đây:
Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt
Nếu chỉ số đa dạng từ 1 – 3: ĐDSH khá
Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém
Nguồn: Nguyễn Huy Chiến, 2007 [1]
Footer Page 25 of 63.
17