HẠN CHẾ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HẰNG NGÀY của NGƯỜI CAO TUỔI và THỰC TRẠNG CHĂM sóc tại CỘNG ĐỒNG ở PHƯỜNG tân dân, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ năm 2017 - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHAN TRỌNG ĐỨC

H¹N CHÕ HO¹T §éNG SINH HO¹T H»NG
NGµY
CñA NG¦êI CAO TUæI Vµ THùC TR¹NG CH¡M
SãC
T¹I CéNG §åNG ë PH¦êNG T¢N D¢N,
THµNH PHè VIÖT TR× N¡M 2017
Chuyên ngành : Y học gia đình
Mã số

:60720140

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS TRẦN KHÁNH TOÀN


Hà Nội – Năm 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp và
cán bộ, người dân sinh sống tại phường Tân Dân.

- Nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công
bố ở Việt Nam.


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
BSGĐ
CLCS
CSYT
DVYT
HĐSHHN
KCB
NCS
NCT
TP
TYT
VNAS
WHO

Bảo hiểm Y tế
Bác sỹ gia đình
Chất lượng cuộc sống
Cơ sở y tế
Dịch vụ y tế
Hoạt động sinh hoạt hàng ngày
Khám chữa bệnh
Người chăm sóc
Người cao tuổi
Thành phố
Trạm y tế


4.2. Tình trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người cao
tuổi...........................................................................................................59
4.3. Thực trạng chăm sóc của NCT có hạn chế HĐSHHN............................66
KẾT LUẬN ...................................................................................................74
KHUYẾN NGHỊ.............................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Số lượng người cao tuổi (NCT) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đang có xu hướng tăng nhanh. Năm 1950, thế giới chỉ mới có 205 triệu
người từ 60 tuổi trở lên, đến năm 2012, tăng lên gần 810 triệu người và ước
tính đến năm 2050 sẽ được tăng lên đến 2 tỷ người. Tỷ lệ người cao tuổi ở
nhiều nước châu Âu đã chiếm đến gần 30% dân số[ CITATION Quỹ12 \l
1033 ]. Ở Việt Nam, số liệu gần đây cho thấy nước ta đã chính thức bước vào
giai đoạn già hóa dân số, với tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8% năm
1999 lên 10,5% năm 2013. Tỉ lệ già hoá dân số (tổng số người trên 60 tuổi/100
người dưới 15 tuổi) tăng nhanh từ 24,3% năm 1999 lên 43,5% năm 2013. Với
mức gia tăng tỷ lệ người cao tuổi như hiện nay, Việt Nam là một trong mười
nước có tốc độ già hoá dân số cao nhất trên thế giới[ CITATION BộY15 \l
1033 ].
Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu quan trọng của loài
người. Già hóa là kết quả của quá trình phát triển. Con người sống lâu hơn nhờ
các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y
tế, giáo dục và đời sống kinh tế. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những
thách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội
và cộng đồng trên toàn cầu. Quá trình lão hoá gắn liền với sự suy giảm chức

4

khỏe của đa số người dân ở nước phát triển nhìn chung cao hơn nhiều so với
các nước đang phát triển.
1.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
Giai đoạn cao tuổi gắn liền với quá trình già hoá một cách hệ thống của
các cơ quan trong cơ thể, đặc trưng bởi sự suy giảm nghiêm trọng về mặt
chức năng cả về sinh lý lẫn trí tuệ, giảm khả năng đề kháng dẫn đến gia tăng
nguy cơ ốm đau bệnh tật. Bên cạnh đó, sự thay đổi về sinh lý cộng với những
thay đổi về môi trường xã hội thường dẫn đến những thay đổi tâm lý của
người cao tuổi. Các đặc điểm tâm sinh lý chính của người cao tuổi bao gồm:
− Năng lực cảm nhận sút giảm do sự suy giảm chức năng các cơ quan
dẫn đến khả năng phản ứng chậm chạp với các thay đổi của bên ngoài.
− Gặp khó khăn trong việc thích nghi, tinh thần luôn ở trạng thái dễ bị
kích động dẫn đến những phản ứng tâm lý tiêu cực như mặc cảm tự ti, tâm
trạng sầu muộn, buồn chán.
− Lòng tự trọng dễ bị tổn thương dẫn đến những phản ứng tâm lý cố
chấp, thô bạo hoặc có thể trầm lặng, tiêu cực. Phần lớn những thay đổi tâm lý
của người cao tuổi thường diễn ra theo hướng tiêu cực và nếu kéo dài có thể
dẫn đến các biến đổi bệnh lý[CITATION Trư04 \l 1066 ].
1.2. Xu hướng già hóa dân số
1.2.1. Tình hình già hóa dân số trên thế giới
Theo quy ước của Liên hiệp quốc, một quốc gia có tỷ lệ NCT từ 10% trở
lên thì quốc gia đó được gọi là dân số già. Pháp đạt tỷ lệ này từ năm 1935,
Thụy Điển năm 1950. Thời gian để một nước tăng tỷ lệ NCT từ 7% lên 10%
đạt ngưỡng dân số già rất khác nhau, Pháp 70 năm (1865 - 1935), Mỹ 35 năm
(1935 -1975), Nhật Bản chỉ có 15 năm (1970 - 1985). Như vậy, tốc độ già hóa
dân số song song với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ phát triển ở mỗi



trong đối phó với tình trạng dân số già trong tương lai khi quá trình già hóa
dân số diễn ra trong bối cảnh Việt Nam mới được xếp vào nước có thu nhập
trung bình thấp. Người cao tuổi vừa là chủ thể của sự già hóa, vừa là đối
tượng chịu tác động của già hóa trên các phương diện về kinh tế và việc làm,
tinh thần và xã hội, sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Về điều kiện sống và việc làm, tỷ lệ NCT vẫn sống ở khu vực nông thôn
năm 2009 là 72,5%[ CITATION Ủyb12 \l 1066 ] và năm 2012 là 68,2%
[ CITATION Kết12 \l 1066 ] với công việc chủ yếu là làm nông nghiệp. Hiện
vẫn có trên 59% số người từ 60 đến 69 tuổi và khoảng 41% người trên 70 tuổi
vẫn đang làm việc, 56,8% trong lĩnh vực nông nghiệp[ CITATION Hội12 \l
1066 ]. Đáng chú ý là, có rất nhiều NCT, đặc biệt là người từ 60 - 69 tuổi, có
nhu cầu làm việc, nhưng không có việc làm do không tìm được công việc phù
hợp, do phải làm việc nhà và điều kiện về sức khỏe. Do điều kiện lịch sử và
những khó khăn hiện tại, khả năng tích lũy vật chất của NCT còn hạn chế. Có
tới 70% số NCT không có tích lũy vật chất, 18% số người thuộc hộ gia đình
nghèo[ CITATION BộY13 \l 1066 ].
Người cao tuổi cũng đang chịu tác động của sự thay đổi cấu trúc gia đình
khi tỷ lệ hộ gia đình có cha mẹ sống chung với các con đã giảm rõ rệt, từ 80%


7

năm 1993 theo điều tra về mức sống dân cư xuống còn khoảng 69,5% năm
2011[ CITATION Hội12 \l 1066 ]. Thay vào đó là sự gia tăng số hộ gia đình
chỉ có ông bà sống với các cháu (gọi là gia đình “khuyết thế hệ” có nguyên
nhân từ sự di cư của người lao động trẻ tuổi từ nông thôn ra thành thị), từ
6,8% đến 7,1% [ CITATION Hội12 \l 1066 ]. Thực trạng này có thể làm cho
cuộc sống của NCT càng thêm khó khăn hơn, kể cả về kinh tế, xã hội và tâm
lý.
Người cao tuổi thường ít nhiều có rối loạn về tâm lý, hoặc có những ưu

của NCT. Tuy nhiên, với các mối quan hệ ngoài gia đình, thân tộc, thì số NCT
không có bạn bè thân thiết chiếm một tỷ lệ khá cao. Có 30% số người không
có bạn thân, số người có từ 1 đến 2 và từ 3 đến 4 người bạn thân là 18% và
20%.
Trong các mối quan hệ, đa số NCT (82 %) cảm thấy hài lòng và đánh giá
khá tốt về quan hệ xã hội của họ, trong khi số người cho rằng, mức độ quan
hệ xã hội kém là 18%[ CITATION Hoà \l 1066 ]. Người cao tuổi cũng nhận
được sự tôn kính, biết ơn của thế hệ trẻ và họ còn xem việc dành sự tôn trọng
đối với thế hệ cha ông cũng chính là phương châm sống với những câu thành
ngữ như “kính lão đắc thọ” hay “thương già, già để tuổi cho”. Điều này cũng
cho thấy truyền thống đạo đức, nền tảng gia đình, thuần phong mĩ tục của
người Việt Nam vẫn được bảo tồn và phát huy.
1.3. Sức khoẻ và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NCT
1.3.1. Đặc điểm về sức khoẻ, bệnh tật của người cao tuổi
Do sự lão hoá về tổ chức, sự rối loạn về chức năng và sự suy giảm khả
năng đề kháng nên người cao tuổi rất dễ bị mắc bệnh. Các triệu chứng biểu
hiện, diễn biến của bệnh, khả năng đáp ứng và hồi phục ở người cao tuổi cũng
có những đặc điểm khác biệt so với người trưởng thành. Do sự thoái hoá và
suy giảm chức năng của nhiều cơ quan khác nhau dẫn đến giảm sức đề kháng
và dễ tổn thương nên người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh đồng thời, trong


9

đó thường có một, hai bệnh chính có triệu chứng rõ rệt hơn và có mức độ
nguy hiểm cao hơn cần được ưu tiên điều trị trước. Đặc biệt người cao tuổi
thường mắc nhiều bệnh mạn tính cùng lúc. Bên cạnh các bệnh gây gánh nặng
tử vong lớn như tim mạch, ung thư, ... người cao tuổi có tỷ lệ mắc cao các
bệnh mạn tính do thoái hoá làm tăng gánh nặng do tàn tật ở người cao tuổi.
Các bệnh lý này khiến cho người cao tuổi giảm khả năng thực hiện các hoạt

phàn nàn về các triệu chứng như mệt mỏi, táo bón. Việc xử trí các vấn đề này
ngoài các biện pháp điều trị còn cần phải hướng tới mục đích phòng bệnh và
cả phục hồi chức nǎng. Theo thống kê, các hội chứng hay gặp trong lão khoa
bao gồm: hội chứng dễ bị tổn thương, hội chứng giảm hoạt động chức năng,
hội chứng suy dinh dưỡng protein năng lượng, hội chứng rối loạn dáng đi và
ngã, hội chứng giảm vận động, hội chứng loét ở người cao tuổi, hội chứng
mất nước, hội chứng trầm cảm, hội chứng giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ, hội
chứng đau mạn tính,...[CITATION Trư04 \l 1066 ]
Trên thực tế, rất khó có thể thǎm dò và xác định tất cá các vấn đề nội
khoa, tâm lý, xã hội, kinh tế và đời sống gia đình trong mỗi một lần khám
bệnh. Bệnh nhân cao tuổi có thể được quản lý, chăm sóc tốt hơn khi người
thầy thuốc y học gia đình làm việc trong một nhóm và có mối liên hệ phối
hợp chặt chẽ với các thành viên trong gia đình hoặc người chǎm sóc, với bạn
bè, hàng xóm của bệnh nhân[CITATION Trư99 \l 1066 ].
1.3.3. Hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày và chất
lượng cuộc sống ở NCT
1.3.3.1. Khái niệm về hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày
Thuật ngữ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (Activities of daily living ADLs) được sử dụng trong chăm sóc sức khỏe để chỉ hoạt động tự chăm sóc
hàng ngày của con người. Khái niệm về ADLs ban đầu được đề xuất vào
những năm 1950 bởi Sidney Katz và cộng sự

của ông tại Bệnh viện

Benjamin Rose ở Cleveland, OH và đã được thêm vào và chỉnh sửa bởi nhiều
nhà nghiên cứu kể từ thời điểm đó[ CITATION Noe \l 1033 ]. Khái niệm này
được sử dụng đặc biệt cho những người bị chấn thương, người khuyết


11



Một cách để suy nghĩ về các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày cơ bản là
những điều nhiều người làm khi họ thức dậy vào buổi sáng và sẵn sàng để đi ra
khỏi nhà:

ra khỏi giường, đi vào nhà vệ sinh, tắm, ăn uống, mặc quần

áo[ CITATION Wil14 \l 1033 ].
Hạn chế HĐSHHN cơ bản tức là không thể tự chăm sóc được bản thân,
cần thiết phải được chăm sóc và phụ thuộc một phần hay hoàn toàn vào người
chăm sóc. Có nhiều bảng điểm để đo lường sự hạn chế HDSHHN cơ bản, ở
đây chúng tôi dựa theo bảng điểm của Katz bao gồm 6 mục tình trạng chức
năng như trên. Từ bảng điểm này có thể phân chia theo tình trạng chức năng
tốt (không bị hạn chế hoặc bị dưới hai hạn chế trong HĐSHHN) và tình trạng
chức năng kém (bị ít nhất ba hạn chế trong HĐSHHN). Một số tác giả chia
thành 4 loại: loại O (độc lập) không có bất kì hạn chế nào trong HĐSHHN;
loại A (hạn chế mức độ nhẹ) hạn chế 1 hoặc 2 HĐSHHN; loại B (hạn chế mức
độ trung bình) hạn chế 3 hoặc 4 HĐSHHN và loại C (hạn chế mức độ nặng)
hạn chế 5 hoặc 6 HĐSHHN[ CITATION Gil121 \l 1066 ].
Hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng phương tiện (IADL’s):
không phải là những hoạt động cơ bản, nhưng là hoạt động để cho một cá
nhân sống độc lập trong một cộng đồng. Chức năng HĐSHHN có sử dụng
phương tiện được coi là phức tạp hơn và thường bị mất trước chức năng
HĐSHHN cơ bản. Đánh giá chức năng này hữu ích hơn trong việc xác định
một người đang hoạt động sinh hoạt ở hiện tại như thế nào, để xem người đó
được cải thiện hay bị suy giảm theo thời gian ra sao. Có 8 lĩnh vực chức năng
để đo trong công cụ này[ CITATION Car07 \l 1066 ].
− Sử dụng phương tiện đi lại: Đi đến cơ quan bằng cách nào? Có phải
lái xe? Có đi cả ban đêm? Có sử dụng các phương tiện đi lại công cộng như
xe buýt không? Có giấy xác nhận tàn tật không?

vậy, đo lường CLCS phải chú ý tới những đặc trưng về tính toàn diện, đa khía


14

cạnh, mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi đặc thù kinh tế-văn hóa-xã
hội cụ thể[ CITATION Vươ13 \l 1033 ].
Người ta nhận thấy rằng chất lượng cuộc sống của NCT có liên quan với
chức năng hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Mặc dù không có bệnh nhưng cá
nhân người cao tuổi vẫn yêu cầu có một hoạt động sinh hoạt hàng ngày tốt để
duy trì tình trạng sức khỏe của họ. Độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hằng
ngày là một yếu tố quan trọng trong chất lượng cuộc sống của
NCT[ CITATION YuN \l 1066 ].
1.4. Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
1.4.1 Chiến lược của WHO
Khung y tế - xã hội cho già hóa khỏe mạnh: cơ hội cho các can thiệp y tế - xã
hội (A public-health framework for Healthy Ageing: opportunities for publichealth action) của World Report on Ageing and Health, WHO 2015.
1. Can thiệp về dịch vụ y tế: bao gồm các can thiệp cung cấp dịch vụ y tế dự
phòng, chẩn đoán sớm và kiểm soát bệnh mạn tính ở giai đoạn 1 của quá
trình già hóa; đảo ngược, hoặc làm chậm sự suy giảm năng lực ở giai đoạn
2 và quản lý các bệnh mạn tính đã tiến triển ở giai đoạn cuối.
2. Can thiệp chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi từ giữa giai đoạn 2 (giai
đoạn suy giảm năng lực): hỗ trợ người cao tuổi nâng cao năng
lực,năng
hànhlựcvi
Suy giảm
Năng lực tốt và ổn định

Suy giảm năng lực


sự mất mát về năng
lực
sống
giai đoạnchậm
cuối.
giảm
năng lực

Chăm sóc dài hạn:

Hỗ trợ các hành vi giúp
cải thiện năng lực

Bảo đảm nhân phẩm,
chất lượng cuộc sống cuối đời

Thúc đẩy các hành vi giúp cải thiện năng lực
Can thiệp môi
trường xã hội:

 Quản lý các
bệnh mạn tính
đã tiến triển

 
Loại bỏ các rào cản đối với sự tham gia
hoạt động Xã hội; hỗ trợ, bù đáp sự mất mát năng lực


15

khám và điều trị bệnh tật như đối với các lứa tuổi khác, việc chăm sóc sức khoẻ
cho người cao tuổi có những vấn đề đặc biệt cần được quan tâm nhiều hơn nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống trong những năm cuối đời. Việc chăm sóc sức
khoẻ cho người cao tuổi cần quan tâm đến các vấn đề sau đây.
1.4.2.1. Vấn đề ăn uống
Với người cao tuổi do chức năng tiêu hoá và hấp thu đã bị suy giảm cộng
thêm với nhiều loại bệnh tật có liên quan đến chế độ ăn uống nên cần phải
quan tâm đầy đủ đến chế độ ăn uống. Nhiều loại bệnh tật hay gặp ở người cao
tuổi đòi hỏi phải có chế độ ăn kiêng hợp lý như tăng huyết áp, đái tháo đường.
Các bệnh này nhiều khi chưa cần phải dùng thuốc mà chỉ cần điều chỉnh chế
độ ăn phù hợp. Các thói quen của người cao tuổi về ăn kiêng, uống rượu và
hút thuốc lá cũng cần được quan tâm thu thập để có tư vấn, hướng dẫn và điều
chỉnh hợp lý. Việc sử dụng thuốc ở người cao tuổi cũng cần phải có sự quan
tâm đặc biệt, rà soát các loại thuốc đang được sử dụng, loại bỏ những loại
thuốc không cần thiết hoặc có hại cho sức khoẻ của người cao tuổi.


17

1.4.2.2. Dự phòng và nâng cao sức khoẻ
Đối với người cao tuổi, việc luyện tập thể dục có những lợi ích cho huyết
áp, hệ tim mạch, hằng định nội môi về glucose, tỷ trọng xương, có tác dụng
tốt đối với toàn thân, chống mất ngủ, táo bón. Tuy nhiên, khi tập luyện cần
loại bỏ những động tác quá mạnh với cột sống nhất là với những người loãng
xương. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, người thầy thuốc gia đình cần tư vấn
hướng dẫn cho người cao tuổi có các hoạt động tập luyện phù hợp. Việc tập
luyện phục hồi chức năng nên có sự hướng dẫn của nhân viên vật lí trị liệu và
cần chú ý biện pháp đề phòng ngã gây tai nạn, chấn thương. Có thể tạo miễn
dịch chủ động với một số bệnh: Cúm, viêm phổi do phế cầu khuẩn, uốn ván.
Ngoài ra cần hạn chế việc sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá.

cả những điều tưởng nhỏ nhặt, như: hay quên, lú lẫn, rối loạn tình dục, tiểu
tiện không tự chủ. Chú ý những nguy cơ có thể có để tìm cách ngăn chặn, như
đối với những người giảm nhận thức, hay hút thuốc lá có thể gây hỏa hoạn do
vô ý, hoặc người dùng nhiều thuốc ngủ có nguy cơ tắc ruột do ứ phân, mê
sảng, lú lẫn. Khi bệnh nhân có các dấu hiệu bệnh lý cần phải can thiệp sớm và
kip thời bởi các triệu chứng có thể không rõ ràng, rầm rộ như ở người trẻ.
1.4.2.5. Hỗ trợ xã hội
Chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi còn cần phải quan tâm đến các
vấn đề công ăn việc làm phù hợp, nhà ở và môi trường, xây dựng các chương
trình giáo dục, sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình và mạng lưới cộng
đồng. Người cao tuổi cần phải được tạo điều kiện để có thể tham gia hoà nhập
với cộng đồng, cần được tôn trọng và tạo điều kiện để có những đóng góp phù
hợp cho xã hội. Làm tốt công tác an sinh xã hội và phấn đấu để người cao tuổi
có thể được chăm sóc toàn diện tại gia đình, cộng đồng là một trong những
mục tiêu phấn đấu của hệ thống y tế và cần được sự quan đầu tư của nhà
nước, gia đình và cộng đồng.
1.5. Một số nghiên cứu về hạn chế HĐSHHN và chăm sóc NCT



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status