HIỆN TƯỢNG VÔ CẢM TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
- VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC ĐẶT RA NGHIÊN CỨU NGHIÊM TÚC
TSKH. Trịnh Thị Kim Ngọc
Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam
Abstract
The human insensitivity is a human desease - the psychophysical (mental) and social
(disease of the mind and the soul). Last years, in Vietnamese society increased wide
discussions on social insensitivity as a big barrier for sustainable development, in general,
and human development, in particular. But it seems that, the problem still has not been
properly addressed with it urgency on the both sides - theoretical and practical. Before this
project of the Institute of Human studies, the phenomenon Human insensitivity as a
scientific concept has not been mentioned in no more other works in Viet Nam, the
definition of this concept has not been explained in the diferent dictionary. While the social
impact of insensitivity to community is not only potential risks, it warned a new challenge
in preserving and promoting the traditional values of Vietnamese Nation, as in thi building
a healthy spiritual foundation of our society. That, thinking and acting together for "a
society without indifference" has become an urgent requirement.
Từ khóa: Vô cảm (insensitivity), tác động xã hội (Social impact), nền tảng tinh thần
(spiritual foundation), thách thức (challenge), phát triển (development)
I. Đặt vấn đề
Chưa bao giờ, hiện tượng “vô cảm” và những thách thức của nó đối với xã hội ta lại
trở nên đáng quan tâm như hiện nay. Chúng ta có thể gặp từ “vô cảm” hàng ngày trên các
trang báo, trên nhiều chương trình truyền hình, cũng như trên các diễn đàn tranh luận của
giới trẻ.... Là người quan tâm đến những vấn đề của con người và văn hóa, chúng tôi dễ
cảm thông hơn với cộng đồng trước những bức xúc hiện nay. Nhất là trong xã hội ta, nơi
mà “tính cộng đồng” và tinh thần “tương thân tương ái” đã trở thành cốt cách của dân tộc,
thì thái độ vô cảm dường như lại là một trong những biểu hiện của sự lệch chuẩn với những
giá trị truyền thống đó. Thêm nữa, trên nhiều diễn đàn xã hội, vấn đề xã hội phức tạp này
dường như chưa được đặt ra đúng với tầm cấp thiết của nó. Trước chiều hướng gia tăng của
các hệ lụy xã hội có nguyên nhân từ “vô cảm” và những tranh cãi về bản chất khái niệm
như vừa nêu trên, đề tài khoa học: Hiện tượng vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện đại và
cho người bệnh dùng, nhằm xóa tan cảm giác đau đớn khi thực hiện các ca phẫu thuật. Sau
này, trên cơ sở các thảo dược đó, các nhà y dược học tiền bối đã sản xuất các loại
morphine. Và chỉ tới giữa TK. XX, khi gây mê - hồi sức chính thức được công nhận là một
chuyên khoa độc lập của y học hiện đại, thì thuật ngữ vô cảm (trơ lì, không phản úng) với
những tác động vật lý từ bên ngoài (Anaesthesia, insensitivity) cũng mới được khẳng định.
2
Với nghĩa nêu trên, vô cảm trước hết được hiểu như một thuật ngữ y sinh học, nó chỉ một
trạng thái tinh thần vô thức của con người, khi con người bị ức chế nhờ được sử dụng một
số liệu pháp an thần..., họ trở nên mất tri giác về đau đớn (trơ lỳ với cảm giác đau) khi
điều trị ngoại khoa1.
Trên cơ sở hiện tượng vô cảm y sinh nêu trên, các nhà y khoa thế kỷ XX đã tìm thấy
hiện tượng vô cảm bẩm sinh với nhiệt độ và sự đau đớn thẻ xác (congenital insensitivity to
pain and anhidrosis, CIPA) của một số người. Các nhà y khoa không cho đó là một khả
năng đặc biệt của con người, mà xác định nó là một loại bệnh bẩm sinh hiếm gặp, liên quan
đến hệ thần kinh ngoại vi, bởi vì nó được xuất phát từ hệ thống thần kinh ngoại biên, kết
nối bộ não, cột sống và các cơ bắp, gây trơ lì tại các tế bào thần kinh cảm giác như sờ,
ngửi, cảm nhận nhiệt độ và đau đớn....của con người. Những người mắc căn bệnh này,
ngay từ khi sinh ra họ đã mất tri giác về nhiệt độ và các tác động vật lý từ bên ngoài vào cơ
thể, họ có thể bị đánh, bị các vật sắc đâm vào hay bị bỏng..., nhưng không có cảm giác. Do
đó, người bệnh rất dễ bị tổn thương và có thể dẫn tới tử vong. Vì vậy, các nhà y khoa luôn
cảnh báo các bậc cha mẹ cần quan tâm đến sự phát triển khả năng tri nhận vật lý của trẻ
em, ngay từ khi sinh ra, tránh những tổn thương đáng tiếc.
Tuy nhiên, Con người - về bản chất - là một thực thể tự nhiên và xã hội 2, nên ý thức
và tình cảm được xác định như những đặc trưng bản chất của loài người, được hình thành
và tích lũy đồng thời cùng với sự xuất hiện của loài người với lịch sử tiến hóa hàng trăm
triệu năm. Nhờ có tình cảm và ý thức trách nhiệm lẫn nhau, loài người đã vượt qua muôn
ngàn hiểm nguy trong quá trình tiến hóa để trở thành con người nhân văn, hiện đại như
cảm nhận được cái hạnh phúc được sống trong thế giới tình cảm của Con người. Vì vậy,
cũng có thể coi đó là một những khuyết tật của con người. Khi con người có khuyết tật của
thần kinh ngoại vi, người đó mắc căn bệnh vô cảm về thể chất; còn với các căn bệnh về
xúc cảm và ý thức trách nhiệm, con người đang gặp những khuyết tật về tâm hồn (Moral
defect).
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là những tác động xã hội của vô cảm, khi mỗi con
người là một tế bào của xã hội. Khi con người mắc bệnh vô cảm y sinh, nguy cơ tổn
thương về thể chất chỉ đe dọa cuộc sống của riêng người đó, có chăng sẽ gây sự đau đớn về
tâm hồn cho những người thân khi người bệnh kia không thể chiến thắng được căn bệnh
của chính mình. Trong trường hợp này, bản thân sự vô cảm y sinh không gây ra các hệ lụy
xã hội từ các phản ứng nổi loạn, hay các hành động gây rối cho cộng đồng. Còn với căn
bệnh vô cảm về tâm hồn, hiện tượng đang có thể trở thành một xu hướng tâm lý của một
bộ phận trong giới trẻ, lại đang có những diễn biến phức tạp, trở thành nguyên nhân của
nhiều vấn đề trong cuộc sống: thái độ bàng quan, ích kỷ, chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng
mình, nên không ít bạn trẻ đã quên cả trách nhiệm với cha mẹ, người thân; trào lưu thích
bạo lực, gây rối..., thích thể hiện “sức mạnh” và những điều kỳ cục, khác người....Với căn
bệnh này, ở đâu chúng ta cũng thấy những hệ lụy không mong muốn.
Trong gia đình, vì vô cảm và thiếu trách nhiệm lẫn nhau, biết bao nhiêu cặp vợ chồng
khi li tán đã bỏ lại sau lưng mình những đứa con đáng thương cho các thành viên khác
trong gia đình và cho xã hội; Còn cũng có những đứa con, cũng vì vô cảm với cha mẹ mà
xúc phạm những bậc sinh thành nên mình, đẩy họ ra đường với những nỗi đau mà người
già không thể chia sẻ cùng ai??? Liệu có thể chấp nhận được khi ngày càng nhiều hơn các
trường hợp cha mẹ, anh em trở nên thù oán lẫn nhau, thậm chí giết hại lẫn nhau chỉ vì hơn
kém vài mét đất....
4
Ngoài cộng đồng, chỉ vì một lý do nào đó không hợp với ý chí của mình, một bộ
phận giới trẻ có thể dễ dàng dùng bạo lực để uy hiếp, khống chế, chiếm đoạt, thậm chí cả
của “cái tôi” của truyền thống phương Tây: “cái tôi” là “cái cá nhân” và luôn được tôn trọng những gì thuộc về cá
nhân. Đó là “cái tôi” luôn được gắn liền với trách nhiệm xã hội của cá nhân và những cơ chế giám sát thực thi chặt chẽ
các trách nhiệm xã hội đó. Hơn nữa, bản thân con người trong xã hội phương Tây cũng ý thức được rất rõ, để đảm bảo
được tự do cá nhân, trước hết họ phải hoàn thành trách nhiệm của mình trước xã hội.
5
cảm cũng đang công phá vào “vốn xã hội” quý báu của dân tộc ta, làm mai một đi niềm tin
về sự nghiêm minh của pháp luật, về sự công tâm, mẫn cán của chính quyền, của các chủ
trương nhân văn của Đảng và Nhà nước ta về mục tiêu của công cuộc đổi mới là vì sự phát
triển của con người..... Một quốc gia có thể có một nền kinh tế lớn, nhưng khi có những
biểu hiện suy thoái về văn hóa và nền tảng tinh thần của xã hội, thì quốc gia đó không thể
có cơ hội để trở thành một cường quốc, bởi không thiếu tính bền vững trong sự hùng
cường. Một trào lưu tâm lý xã hội như vô cảm lại có những hệ lụy khôn lường mà những
kiến giải trên chỉ là một phần của tính vấn đề và sự cấp thiết.
2. Về mặt thực tiễn
Với tư cách là một hiện tượng xã hội, một xu hướng tâm lý xã hội đang diễn ra ở
khắp mọi nơi, không thể nghiên cứu vô cảm trong thư viện hoặc phòng thực nghiệm. Đề tài
đã tận dụng mọi cơ hội gặp gỡ, mọi diễn đàn, tính đến tất cả các ý kiến khác nhau trên các
phương tiện thông tin truyền thông....., để làm rõ nhận thức xã hội về vô cảm, thực trạng và
xu hướng diễn tiến của thái độ vô cảm trong xã hội Việt Nam của ngày hôm nay.
2.1. Làm rõ tính cấp thiết của thực tiễn xã hội của đất nước
Nhiệm vụ khoa học này được thai nghén và đề xuất từ sự quan sát, tổng hợp và tích
lũy nhiều nguồn tư liệu về những vấn đề của cuộc sống đương đại. Trước hết là việc nghiên
cứu một số tư liệu được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, qua đó cũng thấy rất rõ
sự bức xúc của xã hội trước hiện tượng mà trên các trang mạng đều gọi là “bệnh vô cảm”.
Thứ nhất, vào năm 2010, Báo Điện tử VnExpress đã tiến hành một cuộc khảo sát
rông rãi và được 17.256 độc giả tham gia thể hiện thái độ của mình khi chứng kiến học
sinh đánh nhau (xem biểu đồ sau của vnexpress.com.vn cung cấp).
2.2. Một số kết quả nhận được từ thực tiễn
Để thực hiện nhiệm vụ này, đề tài đã triển khai nghiên cứu thông qua phỏng vấn sâu
về nhận thức của cộng đồng với những phản ứng tâm lý ở 100 đối tượng là HS - SV tại 4
4
các báo là: Đời sống & Pháp luật, Pháp luật & xã hội, Hôn nhân pháp luật, Pháp luật & cuộc sống, Pháp luật &
thời đại, Bảo vệ pháp luật, Gia đình & xã hội, Tuổi trẻ & đời sống, An ninh thủ đô, An ninh thế giới, Tuổi trẻ, Thanh
niên,
5
Chỉ với tiêu đề Bài văn nghị luận về bệnh vô cảm của em Phan Hoàng Yến trong 035 giây tác giả bài viết này đã tìm
được 245 trang web có thông tin về bài nghị luận này
7
trường đại học và một số trường phổ thông tại 2 thành phố Huế và Hà Nội; thực hiện nhiều
cuộc tọa đàm với các nhóm giáo viên và phụ huynh; tiến hành thảo luận và chia sẻ kinh
nghiệm với 2 nhóm cán bộ lãnh đạo các cơ sở thuộc Đoàn TNCS HCM tại Hà Nội và các
lãnh đạo Đoàn trên toàn quốc. Nhìn chung, công trình đã nhận được sự tham gia nhiệt
thành của các bạn trẻ ở mọi nơi, ở đâu nhóm nghiên cứu đặt chân đến.
Thứ nhất, hầu hết giới trẻ là HS-SV đều đã quan tâm tới hiện tượng vô cảm, đã nhận
thức được bản chất và tác động không mong muốn của nó đối với xã hội (với 93/100 ý
kiến). Nhiều ý kiến còn mạnh dạn gọi đó là bệnh xã hội như bệnh bằng cấp, bệnh hình
thức, bệnh sính ngoại đã tạo nên nhiều “nạn xã hội” đáng quan tâm.... Số ý kiến thể hiện
chưa nắm rõ khái niệm vô cảm và cũng khẳng định là khái niệm này còn khá xa lạ với cộng
đồng, chủ yếu lại là ý kiến của một số em học sinh phổ thông từ các vùng ven thành phố
Huế, nơi tính cộng đồng còn đang được gìn giữ và phát huy tác dụng.
Thứ hai, hầu hết ý kiến khác cũng cho rằng (với 99/100 ý kiến): vô cảm là một hiện
tượng xã hội lệch chuẩn, nhưng chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, ở các trung tâm thương
mại và dịch vụ.... Điều đó được khẳng định là dễ nhận thấy; nó đã gây bối rối cho không ít
1. Đây là một đề tài mới, phức tạp, đề cập đến nhiều vấn đề nhạy cảm trong xã hội,
chưa thể đem lại kết quả mong muốn chỉ trong giai đoạn đầu triển khai nghiên cứu như
hiện nay.
Sau khi đã cày vỡ khái niệm và nghiên cứu tổng quan như hiện nay, các tác giả mong
muốn vấn đề sẽ được tiếp tục đặt ra ở một vài cách tiếp cận chuyên sâu như sau:
1) Tiếp cận tâm vật lý (y sinh học) về vô cảm trong các bệnh xã hội ở Việt Nam;
2) Tiếp cận tâm lý học xã hội của người Việt Nam về vô cảm;
3) Tiếp cận văn hóa và giá trị truyền thống Việt Nam với vô cảm;
4) Tiếp cận giáo dục học với hiện tượng vô cảm gia đình và học đường;
5) Nghiên cứu vô cảm từ quan điểm phát triển bền vững xã hội và con người;
Chỉ từ những tiếp cận chuyên sâu nêu trên, hiện tượng xã hội phức tạp này với những
biểu hiện đa dạng của nó mới được nghiên cứu cụ thể ở mức cần thiết.
2. Nhận thức được tính phức tạp của vấn đề và tránh những dư âm bất lợi trong xã hội.
Trong công trình này, nhóm tác giả đã giới hạn đối tượng nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo
sát trong HS-SV, phụ huynh và những người làm công tác xã hội. Tuy nhiên, trong tương
lai, vấn đề cần phải được đưa ra bàn luận rộng rãi trên nhiều diễn đàn xã hội, trong đó một
diễn đàn đặc biệt quan trọng là của giới học giả và các nhà hoạch định chính sách, nhằm
thu hút sự quan tâm và nguồn vốn ưu tiên cho bình diện văn hóa - xã hội của phát triển.
3. Bên cạnh các hiện tượng xã hội, mà “vô cảm” chỉ là một trong số đáng quan tâm,
trong xã hội vẫn còn biết bao tấm gương sáng từ cuộc sống: hàng triệu con tim tham gia
“góp đá xây Trường sa”; cả trăm ngàn những người trẻ tuổi đã tình nguyện hiến máu cứu
9
người bệnh; còn rất nhiều “cô Tấm và ông Bụt” thời hiện đại đang lặng lẽ chia sẻ khó khăn
với các em nhỏ tại các cô nhi viện... Và còn hàng ngàn đôi tay đang sẵn sàng nối dài các cơ
hội mới cho những đối tượng thiệt thòi. Cần phải đặt hiện tượng vô cảm trong bức tranh
đối lập với những giá trị truyền thống nhân văn của dân tộc, thể hiện rõ tương quan bất
song hành của hai xu hướng xã hội; qua đó, tôn vinh những tác dụng tích cực của truyền