BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐÀO NGỌC ĐỨC
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ, ĐÁNH
GIÁ VÀ MÔ TẢ ẢNH HƯỞNG CỦA RỐI LOẠN
GIẤC NGỦ TRÊN ĐỐI TƯỢNG NHÂN VIÊN Y
TẾ TẠI
BỆNH VIỆN BẠCH MAI TỪ 2018 - 2019
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI –2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐÀO NGỌC ĐỨC
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ, ĐÁNH
GIÁ VÀ MÔ TẢ ẢNH HƯỞNG CỦA RỐI LOẠN
GIẤC NGỦ TRÊN ĐỐI TƯỢNG NHÂN VIÊN Y
TẾ TẠI
BỆNH VIỆN BẠCH MAI TỪ 2018 - 2019
CPAP
: Continuous Positive Airway Pressure
(Thở áp lực dương liên tục)
NTKNDTN
: Ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn
NREM
: Non Rapic Eye Movement
(Giai đoạn không động mắt nhanh)
OSAS
: Obstructive sleep apnoea syndrome
(Hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn)
REM
: Repid Eye Movement
(Giai đoạn động mắt nhanh)
RLGN
: Rối loạn giấc ngủ
MỤC LỤC
2.4. tiêu chí đánh giá rối loạn giấc ngủ........................................................32
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu.....................................................................33
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ.............................................................34
3.1. Xác định tỉ lệ rối loạn giấc ngủ.............................................................34
3.1.1. Tỉ lệ theo tuôi và giới......................................................................34
3.1.2. Thời gian ngủ trong ngày................................................................34
3.1.3. Tỉ lệ mất ngủ...................................................................................35
3.1.4. Tỉ lệ thức dậy ban đêm và triệu chứng ban đêm.............................35
3.1.5. Triệu chứng ban ngày......................................................................36
3.1.6. Tỉ lệ dùng các chất kích thích.........................................................36
3.1.7. Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến giấc ngủ.........................37
3.1.8. Số buổi trực trung bình/ tháng........................................................37
3.1.9. Buồn ngủ ban ngày.........................................................................37
3.1.10. Mất tập trung và suy giảm trí nhớ.................................................38
3.1.11. Tần suất gặp ‘’hoặc suýt bị’’ tại nạn giao thông hoặc tai nạn lao
động/ sinh hoạt liên quan đến rối loại giấc ngủ........................................38
3.1.12. Các bệnh lý phổi hợp....................................................................39
3.2. Đặc điểm rối loạn giấc ngủ...................................................................39
3.2.1 Các rối loạn giấc ngủ phần lớn liên quan đến những nguyên nhân nào....39
3.2.2. Kết quả của một số bộ câu hỏi lượng giá........................................39
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN..........................................................40
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................40
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ.................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới...............................................34
Bảng 3.2. Chỉ số khổi cơ thể...........................................................................34
góp phần vào sự xuất hiện của bệnh tật và làm nặng hơn
bệnh hiện tại. Giấc ngủ cũng góp phần cân đối lại sự mất cân
bằng dinh dưỡng, sự mất cân bằng mà chúng ta biết là hậu
quả của toàn cầu. Ảnh hưởng của giấc ngủ đối với hành vi là
rất lớn có thể tác động nghiêm trọng đến cuộc sống của cá
nhân cũng như toàn xã hội.Tại Hoa Kỳ Ước tính khoảng 50–70
triệu người trưởng thành bị một hoặc nhiều rối loạn giấc ngủ
[3] Tác động của rối loạn giấc ngủ có thể có tác động sâu rộng
đến sức khỏe bao gồm tăng nguy cơ tai nạn xe cộ liên quan
đến lái xe buồn ngủ, tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính
như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, bệnh tim mạch,
trầm cảm và thậm chí ung thư, và một số cũng có thể làm
tăng nguy cơ tử vong [3].
2
Nhân viên y tế là đối tượng nguy cơ cao của rối loạn giấc
ngủ: do đặc thù công việc: trực đêm, làm thêm giờ… [4] mặt
khác công việc đòi hỏi độ tập trung và chính xác cao.
Theo một nghiên cứu trên 715 nhân viên y tế tại bệnh
viện Dr. Masih Daneshvari 2012 (Iran) chỉ ra rằng có 6,9 %
nhân viên y tế có nguy cơ cao bị ngừng thở khi ngủ liên quan
đến thời gian ngủ ban đêm ít, rối loạn nhịp ngày đêm và một
số các yếu tố nguy cơ khác [5].
Có nhiều phương pháp thăm dò và đánh giá về giấc ngủ
và rối loại giấc ngủ như:
Đánh giá khách quan: Đa ký giấc ngủ ban đêm, đa
ký hô hấp ban đêm, đo cử động liên tục …
Đánh giá chủ quan: thang điểm thị giác đơn thuần,
dành gần một phần ba cuộc đời của mình để ngủ. Cho đến
nay có nhiều giả thuyết đưa ra để giải thích về cơ chế cũng
như chức năng của hoạt động sinh lí này.
Đặc điểm chung hệ thống thức [7]
- Duy trì sự mất đồng bộ hóa neuron thần kinh, liên quan
chặt chẽ với cơ chế thức
- Nhiều hệ thống hoạt động với nhau theo mạng lưới
- Về mặt giải phẫu các hệ thống này hợp lại ở phần dưới
của não, não giữa, cầu não
4
- Có sợi trục dài => chiếu tỏa rông lên vỏ não, liên kết
vơi hệ thống limbic, não trung gian =>Vì vậy đảm nhân
nhiều chức năng cùng một lúc: vận động, cảm giác, thực
vật
- Kiểm soát điện thế màng tế bào thần kinh của tế bào thần
kinh đồi thị-vỏ
- Sự kích thích của một trong các hệ thống đủ để kích
hoạt sự thức tỉnh
- Sự ức chế của một trong các hệ thống không đủ để ức
chế sự thức tỉnh như thể có sự bù trừ bởi hệ thống khác
- Sự ức chế của các hệ thống gây tình trạng đồng bộ hóa tế
bào thần kinh
Cơ chế hệ thống thức [7]
- Vùng dưới đồi sau tiết ra histamine làm tế bào hoạt động
trong trạng thái thức, giảm trong giai đoạn ngủ chậm và
bất hoạt trong giai đoạn ngủ nghịch thường do vậy thuốc
kháng histamine gây buồn ngủ; tổn thương tại chỗ gây
6
Hình 1.1: giải phẫu các vùng bài tiết các chất trong
quá trình thức [7]
Hệ thống đi vào giấc ngủ: Các tín hiệu kích thích của sự
thức
Phải tắt trong khu vực vỏ não. Các tín hiệu này sẽ bị gián
đoạn ở khu vực đồi thị. Về cơ chế: khi ta thức sẽ giải phóng
serotonin gây kích hoạt các khu vực trước thị ( tế bào GABA)
nằm ở vùng dưới đồi trước gây ức chế vùng dưới đồi sau ( ức
chế histamine)
7
Mệt mỏi và thức kéo dài gây tích tụ
các chất gây ngủ
ức chế hệ thống thức
Giấc ngủ ập đến
Đồng hộ nội sinh học gây tiết
chất melatonin
Đồng thời nhiệt độ cơ thể giảm
45%, N3: 25% và REM: 25% [9].
Thức giấc (W-wake): người thư giãn, mắt nhắm:
- Điện não (ECG): sóng alpha ở vùng não sau
- Điện cơ (EMG): tăng trương lực cơ tư thế (cằm)
- Điện cơ mắt (EMO): cử động mắt có chu kỳ
- Điện tim (ECG): nhịp tim ổn định
Sóng
delta
(ngủ sâu)
Sóng
Theta
(ngủ
nông)
Sóng Beta
(thức
giấc, hoạt
động)
9
Sóng
Alpha
(thức
giấc, nghỉ
ngơi)
Hình 1.2. Các dạng sóng của não [10]
Giấc ngủ chậm nông thì 1: (N1)
- Điện não (ECG): sóng alpha biến mất, sóng chậm
mắt nhanh: (REM sleep) là sự kết hợp ngược nhau hoạt động
của não gần như lúc thức giấc và mất trương lực cơ tư thế
(các xung động thần kinh vận động không được truyền cho
thân não để đi đến ngoại biên
-
Điện não (ECG): mất tính đồng bộ, nhịp nhanh hơn,
giống thì 1 gợi ý thức giấc
- Điện cơ (EMG): mất trương lực cơ tư thế, đây là điểm
nghịch lý
- Điện cơ mắt (EMO): cử động giật mắt nhanh
- Điện tim (ECG): nhịp tim và nhịp thở không đều
11
Hình 1.3 các giai đoạn của giấc ngủ của người trưởng
thành
Hình 1.2. Các giai đoạn của giấc ngủ [11]
1.2. Liên quan của giấc ngủ và các chức năng sinh lý
1.2.1 Liên quan với hoạt động hô hấp
Giống như tất cả các hoạt động sống khác của cơ thế,
hoạt động hô hấp chịu sự chi phối của não bộ và được điều
12
hòa theo cơ chế thần kinh- thể dịch. Các hoạt động hô hấp
được điều trị và không điều trị khác biệt rõ rệt, tương ứng là
24% và 58% [14]. Peker và cộng sự năm 2006 kết luận ngừng
thở khi ngủ là một yếu tố nguy cơ bệnh lí tim mạch, độc lập với
các yếu tố nguy cơ tim mạch khác [15].
1.2.3. Nhu cầu về giấc ngủ
- Nhu cầu về giấc ngủ thay đổi theo tuổi và từng đối tượng
- Nhu cầu giấc ngủ ở người lớn: trung bình khoảng 7-8 giờ/
ngày [Ohayon et al 2005] [16]
- Có tính chất di truyền.
- Có khả năng thích nghi, có thể ‘’luyện tập’’ được.
- Người ngủ ít: khoảng 6 giờ mỗi ngày.
- Người ngủ nhiều: trên 9 giờ mỗi ngày
Hình 1.4. Sự tiến triển của giấc ngủ ở trẻ sơ sinh [17]
14
Hình 1.5. Giấc ngủ thay đổi theo tuổi [17]
1.2.4. Rối loạn giấc ngủ
1.2.4.1. Khái niệm và phân loại RLGN
Nhu cầu ngủ của mỗi người là khác nhau: những
người ngủ nhiều cần khoảng 9 – 10 tiếng mỗi đêm, và một số
người lại ngủ ít. Tuy nhiên, độ dài của giấc ngủ không luôn
liên quan đến RLGN.
Một nghiên cứu năm 2002 trên 1 triệu người cả nam và nữ đã
chỉ ra rằng những người ngủ trên 8.5 giờ hoặc ngủ ít hơn 3.5
giờ mỗi đêm có nguy cơ tử vong cao hơn 15% so với những
người ngủ trung bình 7 giờ một đêm. Các tác giả chưa tìm
thấy nguyên nhân rõ ràng giải thích cho việc này nhưng có lẽ
16
- Hội chứng rối loạn hô hấp khác liên quan đến giấc
ngủ.
1.2.4.3. Các RLGN thường gặp
1. Mất ngủ:
- Triệu chứng: Mất ngủ được chẩn đoán khi người bệnh
than phiền không ngủ, khó vào giấc ngủ hoặc khó giữ giấc
ngủ, các triệu chứng này cần kéo dài ít nhất ba tháng. Mất
ngủ được đặc trưng bởi hai dấu hiệu: khó vào giấc ngủ và hay
thức giấc. Người bệnh có thể mất ngủ đầu giấc, họ đi nằm
ngủ như bình thường nhưng nằm mãi mà không ngủ được.
Các bệnh nhân này thường cho biết phải đến 1-2 giờ sáng họ
mới có thể vào được giấc ngủ. Tuy nhiên, giấc ngủ không sâu
và dễ thức giấc. Mất ngủ đầu giấc hay gặp ở người trẻ tuổi.
Có thể mất ngủ ở giữa giấc, biểu hiện bằng việc hơi khó đi
vào giấc ngủ. Ngủ được đến 2-3 giờ sáng thì thức giấc. Sau đó
phải mất từ 1-2 giờ thì mới có thể tiếp tục ngủ tiếp được. Mất
ngủ giữa giấc hay gặp ở người trung niên.
Người cao tuổi thường than phiền có mất ngủ cuối giấc.
Họ thường vào giấc ngủ không quá khó nhưng giấc ngủ không
kéo dài, đến khoảng 1-2 giờ sáng thì thức giấc và không sao
ngủ lại được.
Mất ngủ hoàn toàn thường hiếm gặp. Thường không thể
ngủ được trong vòng 24 giờ. Do mất ngủ nên bệnh nhân hay
cáu gắt và tỏ ra rất lo lắng cho giấc ngủ của mình. Các trường
hợp này thường có biểu hiện hơi hưng phấn vào buổi tối. Họ
quan tâm đến việc làm sao để được ngủ đầy đủ, vì thế họ
18
2. Chứng ngủ nhiều:
Ngủ nhiều được chẩn đoán khi bệnh nhân ngủ quá nhiều
trong ngày, kéo dài ít nhất một tháng mà không có nguyên
nhân. Một số người có giấc ngủ kéo dài, một số khác thì giấc
ngủ ngắn hơn nhưng có nhiều lần ngủ trong ngày, vì vậy tổng
số thời gian ngủ vẫn khá dài. Thời gian ngủ của họ tuy kéo dài
nhưng điện não đồ và sinh lý giấc ngủ vẫn bình thường. Hiệu
quả của giấc ngủ và nhịp sinh học giấc ngủ của họ trong giới
hạn bình thường. Người bệnh không than phiền về chất lượng
giấc ngủ nhưng việc ngủ hàng ngày và khó tỉnh táo vào buổi
sáng ảnh hưởng xấu đến cảm xúc, vận động và công việc của
họ. Ngủ nhiều có thể xuất hiện vào một thời điểm trong đời và
có tính chất gia đình. Các trường hợp này thường than phiền
họ rất dễ rơi vào giấc ngủ.
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-5:
A. Luôn than phiền ngủ quá nhiều mặc dù giấc ngủ chính chỉ
kéo dài ít nhất là 7 giờ, kết hợp với một hay nhiều các triệu
chứng sau:
- Ngủ hoặc buồn ngủ nhiều lần trong ngày.
- Tổng thời lượng các giấc ngủ trong ngày nhiều hơn 9
giờ mà vẫn không cảm thấy thoải mái.
- Khó giữ được trạng thái tỉnh táo hoàn toàn sau khi thức
dậy.
B. Ngủ quá nhiều diễn ra ít nhất 3 lần một tuần và kéo dài ít
nhất ba tháng.