NGHIÊN cứu kết QUẢ PHẪU THUẬT nội SOI TRONG điều TRỊ VIÊM PHÚC mạc TOÀN THỂ DO VIÊM RUỘT THỪA - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm ruột thừa (VRT) là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp nhất.Tại
Pháp, Mỹ hàng năm có khoảng 250.000 – 300.000 trường hợp cắt ruột thừa,
chiếm 43% các trường hợp cấp cứu bụng đến khám và điều trị tại các khoa
cấp cứu. Ở Việt nam, tỉ lệ viêm ruột thừa cấp chiếm 40-45% các trường hợp
mổ cấp cứu. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi với tỷ lệ mắc bệnh trong đời là 6-9%
[1]. Viêm ruột thừa có bệnh cảnh đa dạng, dễ lầm với các hội chứng lâm sàng
khác, chẩn đoán càng muộn thì tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tử vong càng cao.
Viêm phúc mạc ruột thừa (VPMRT) chiếm tỉ lệ 10 – 20% các trường hợp
VRT cấp, thường gặp nhiều ở đàn ông (với tỷ lệ 2/3), hay gặp ở BN trên 40
tuổi [2].
Điều trị viêm phúc mạc ruột thừa vẫn chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ ruột
thừa và lau rửa ổ bụng kèm dẫn lưu ổ bụng, gồm hai phương pháp: mổ mở và
mổ nội soi. Năm 1894, Mc Burney [2] đã mô tả phẫu thuật cắt ruột thừa mổ
mở và cho đến nay phẫu thuật này vẫn còn được sử dụng để điều trị viêm ruột
thừa cấp vì tính hiệu quả. Kể từ khi phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa được thực
hiện đầu tiên bởi Kurt Semm vào năm 1980 [3], phương pháp này đã được áp
dụng phổ biến trên toàn thế giới và đã khẳng định có nhiều ưu điểm hơn so
với phương pháp mổ mở kinh điển. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên
cứu cho thấy phẫu thuật nội soi có các ưu điểm trong điều trị VPMRT như
giúp chẩn đoán chính xác, dễ dàng xử trí ruột thừa ở vị trí bất thường, bệnh
nhân ít đau, thời gian liệt ruột ngắn, giảm các biến chứng vết mổ, rút ngắn
thời gian nằm viện và giảm tỷ lệ dính ruột sau mổ [4], [5], [6].
Nhưng với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa toàn thể
(VPMRTTT) thì vẫn còn thái độ dè dặt của các phẫu thuật viên và chưa nhiều
các nghiên cứu tổng kết một cách có hệ thống. Những tiêu chuẩn để chỉ định,
đặc biệt là hiệu quả, độ an toàn của phẫu thuật nội soi trong điều trị viêm



thừa có thể dài ra theo mọi hướng và đầu RT có thể ở bất kỳ vị trí liên quan
đến tất cả các tạng trong ổ bụng trừ lách [7].
Đặc điểm hằng định duy nhất của RT là vị trí xuất phát ở manh tràng:
chỗ hội tụ của ba dải cơ dọc. Điểm này thường nằm ở bờ sau trong của manh
tràng, khoảng 1,7 – 2,5 cm dưới phần tận cùng của chỗ nối hồi – manh tràng.
Chiều dài RT thay đổi từ 2 đến 20 cm, trung bình 8,3 cm. Y văn mô tả nhiều
vị trí của RT, thường gặp nhất là các vị trí: hướng lên trên sau manh tràng,
hướng qua trái sau hồi tràng và hướng xuống dưới vào tiểu khung [7]. Lỗ hồi
tràng chiếu lên điểm McBurney ở thành bụng (điểm giữa của đường nối rốn –
gai chậu trước trên bên phải). Nguyên ủy RT chiếu lên điểm McBurney, điểm
Lanz (nối 1/3 phải và 2/3 trái của đường nối gai chậu trước trên hai bên).Tuy


4
nhiên, do vị trí manh tràng thay đổi, các điểm quy chiếu này chỉ có giá trị như
các điểm định hướng sơ khởi.
Một nghiên cứu công bố trước đây của Cecil P.G.W. và cs (1933) với
cỡ mẫu lớn khoảng 10.000 ca cho thấy vị trí ruột thừa sau manh tràng chiếm
tỷ lệ cao nhất (65,0%), kế tiếp là vị trí vùng chậu (31,7%), sau hồi tràng
(3,3%), trước hồi tràng và dưới manh tràng chiếm tỷ lệ thấp nhất (0%) [8].
Nghiên cứu gần đây được thực hiện tại Brazil năm 2015 cũng cho thấy vị trí
sau manh tràng chiếm tỷ lệ cao nhất (43,5%), kế đến là dưới manh tràng
(24,4%) [9].

Hình 1.1. Các vị trí thường gặp của ruột thừa


Nguồn: theo Sandro C. S. và cs (2015) [9].

Thành ruột thừa có cấu tạo gồm bốn lớp giống như manh tràng: lớp


Nguồn: theo Solanke T.F. và cs (1968) [11].


6

1.1.1.2. Sinh lý ruột thừa
Ruột thừa từ lâu đã được cho là một cơ quan có ít chức năng lâm sàng
rõ ràng. Tuy nhiên, nó có thể có một chức năng miễn dịch, đặc biệt là ở trẻ em
và thanh thiếu niên. Mô bạch huyết đầu tiên xuất hiện bên dưới biểu mô của
ruột thừa trong tuần thứ 14 của thai kỳ, mô bạch huyết dần dần tăng theo thời
gian cho đến khi niên thiếu, và sau đó thoái triển. Mô bạch huyết ruột thừa,
cùng với mô bạch huyết của amiđan và các mảng của Peyer, khác với các
hạch bạch huyết điển hình ở chỗ không có mạch bạch huyết nào dẫn ra từ mô
này. Một số người cho rằng mô bạch huyết của ruột thừa có vai trò trong giám
sát miễn dịch của ruột [12].
Việc cung cấp máu cho ruột thừa là động mạch ruột thừa, một nhánh
tận của nhánh sau manh tràng của động mạch hồi đại tràng, chính nó bắt
nguồn từ động mạch mạc treo tràng trên. Do động mạch là động mạch tận nên
không thể tăng tưới máu khi viêm cấp tính, dẫn đến thiếu máu cục bộ và gia
tăng thủng sau đó. Đặc điểm cấu trúc được đánh giá thấp này của tưới máu có
thể là một yếu tố quan trọng nhân quả trong nguyên nhân tổng thể của viêm
ruột thừa [12].
1.1.2. Giải phẫu và sinh lý phúc mạc
1.1.2.1. Giải phẫu phúc mạc
Phúc mạc là màng thanh mạc trơn láng, bọc lót phần trong mặt bụng,
bao bọc kín hay che phủ một phần các tạng trong xoang bụng. Diện tích
khoảng 1,8 – 2,2 m² (tương đương diện tích da). Phúc mạc bao gồm lá thành
lót mặt trong thành ổ bụng và lá tạng bao bọc các tạng và ống tiêu hóa, trừ
đoạn cuối trực tràng. Lá phúc mạc thành trước được chi phối bởi sáu đôi dây

nước và chất hòa tan thấm qua theo nồng độ thẩm thấu. Khi bị viêm, lá phúc
mạc sẽ tiết rất nhiều dịch. Lá phúc mạc dày thêm khoảng 1 mm tương đương
lượng dịch ứ đọng là 1,8 lít. Do vậy, mất nước trong VPM tương đương với


8
diện tích bỏng 80%. Sự chênh lệch áp lực trong ổ bụng khi cơ hoành hoạt
động làm cho dịch di chuyển trong ổ bụng [13].
Khả năng hấp thu: lá phúc mạc có khả năng tái hấp thu dịch, chất điện
giải, máu và khí. Khoảng 70% lượng máu trong ổ bụng được tái hấp thu qua
các kênh bạch huyết ở dưới vòm hoành. Đây là nơi vận chuyển chủ yếu của
các chất, kể cả vi khuẩn, vào trong khoang phúc mạc. Chất khí cũng được hấp
thu theo cách tương tự. Sau phẫu thuật, khí trong ổ bụng sẽ được hấp thu
trong vòng 4 – 5 ngày. Khi phúc mạc bị viêm, nó hấp thu cả độc tố của vi
khuẩn nên dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc.
Chức năng bảo vệ: mạc nối và mạc treo chứa nhiều mạch máu và mạch
bạch huyết bên trong có thể đáp ứng miễn dịch với sự viêm nhiễm trong
khoang phúc mạc. Chúng cung cấp các đại thực bào đồng thời di chuyển đến
vùng viêm nhiễm để bao bọc, khu trú ổ viêm nhiễm lại thành một ổ áp xe
[14].
1.2. SINH LÝ BƠM CO2 KHOANG PHÚC MẠC
Bơm khí vào khoang phúc mạc là yếu tố rất quan trọng đóng góp cho
thành công của phẫu thuật nội soi ổ bụng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ
thể khi bơm hơi vào khoang phúc mạc như áp suất ổ bụng, thể tích ổ bụng, tác
dụng của thuốc gây mê, thuốc giãn cơ…
1.2.1.

Thay đổi về hô hấp

Khi bơm hơi vào ổ bụng , áp lực ổ bụng tang và cơ hoành bị đẩy lên

Khi áp lực ổ bụng từ 12 – 20 mmHg sức cản thành mạch ngoại vi và
huyết áp động mạch thường tăng nhẹ, nguyên nhân có lẽ là do nồng độ CO 2
và H+ tăng kích thích trung tâm co mạch làm tăng huyết áp. Tuy nhiên, hầu
hết các dao động huyết áp đều được điều chỉnh nhanh chóng về mức bình
thường hay gần bình thường do phản xạ cảm thụ áp.
Khi áp lực ổ bụng tăng trên 20 mmHg máu tĩnh mạch về tim giảm có
thể đưa đến trụy mạch, làm giảm máu đến thận và giảm mức lọc cầu thận
[15].


10
1.2.3.

Bơm CO2 khoang phúc mạc trong viêm phúc mạc

Khi bị viêm phúc mạc thì khoang phúc mạc có chứa nhiều vi khuẩn và
tăng hấp thu CO2 do tăng tính thấm của phúc mạc. Trong phẫu thuật nội soi,
việc bơm CO2 và tạo áp lực ổ bụng để có khoảng trống tiến hành phẫu thuật
thì có làm gia tăng nhiễm khuẩn huyết hay không ?
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành thực nghiệm trên động vật trước
khi tiến hành trên người, nhằm chứng minh phẫu thuật nội soi trong viêm
phúc mạc cũng an toàn như trong mổ mở.
Pitombo M.B. và cs (2006) đã chứng minh thực nghiệm trên chuột là
có thể bơm CO2 vào khoang phúc mạc để điều trị viêm phúc mạc bằng phẫu
thuật nội soi, làm giảm sự khuếch tán vi khuẩn vào trong máu và tăng cường
hệ miễn dịch [16].
Tác giả Jacobi C.A. và cs (1997) thì dùng chuột tiến hành thực nghiệm,
ông chia làm 3 nhóm : nhóm mổ nội soi, nhóm mổ mở và nhóm chứng. Ở
nhóm chuột mổ mở thì mở bụng và đóng lại sau 30 phút, ở nhóm mổ nội soi
thì bơm CO2 với áp lực ổ bụng là 10 mmHg trong 30 phút. Sau khi tiêm chất

ruột thừa cấp, chiếm 75% các trường hợp mổ cấp cứu, viêm phúc mạc ruột
thừa chiếm tỉ lệ 23% [24].
Trong thời gian từ tháng 6/2000 đến tháng 12/2003, tại Bệnh viện Hoàn
mỹ, có 62 trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa, chiếm tỉ lệ 15,5% trong các
trường hợp viêm ruột thừa cấp [25].
1.3.2.

Đặc điểm lâm sàng

 VPMTT do VRT có thể thứ phát sau VRT vỡ hoặc hoại tử làm cho các
chất chứa trong lòng RT đổ trực tiếp vào khoang PM, hoặc VK lan truyền qua
thành RT hoặc áp xe RT vỡ vào khoang PM.

 VPM RT chiếm tỉ lệ 10 – 20% các trường hợp VRT cấp, thường gặp
nhiều ở đàn ông (với tỷ lệ 2/3), hay gặp ở BN trên 40 tuổi.


12
 Thể theo diễn biến: VPM 1 thì, VPM 2 thì, VPM 3 thì.
-

VPM 1 thì: VPM do thủng ruột thừa: xảy ra ngay sau khi thủng RT,

mức độ nặng hay nhẹ của VPM phụ thuộc vào mức độ lan tràn của vi khuẩn
trong ổ phúc mạc và theo từng loại vi khuẩn. VPM có thể lan tỏa toàn ổ bụng
hay chỉ khu trú ở hố chậu phải.
- VPM 2 thì, VPM 3 thì: xảy ra sau áp xe RT: áp xe trong ổ bụng do
thủng RT có 3 loại:
Loại khu trú ngay tại vùng RT.
Loại ở xa dưới cơ hoành hoặc trong hố chậu nhỏ (áp xe Douglas).

 Khám lâm sàng: nhìn thấy bụng chướng không di động theo nhịp thở ,
mà tăng cường thở bằng ngực, cơ hoành giảm hoạt động [14].
- Sờ bụng có dấu hiệu cảm ứng PM, dấu hiệu Blumberg (+).
- Triệu chứng phản ứng thành bụng có thể chỉ gặp 1/2 các trường hợp.
Dấu hiệu co cứng cơ thành bụng, là triệu chứng hay gặp và có giá trị trong
chẩn đoán, có thể gặp co cứng cục bộ hay phản ứng co cứng toàn thể thành
bụng. Co cứng có nhiều mức độ khác nhau: rất cứng, cứng vừa phải, cứng
toàn bộ hay phản ứng co cứng không đều nhau tùy thuộc vào khu vực khám.
Thông thường dấu hiệu co cứng rõ trong 12-24 giờ đầu, về sau thì co cứng
yếu dần do bệnh nhân mệt [14]. Tuy nhiên các triệu chứng này nếu rõ ràng sẽ
giúp chẩn đoán xác định.
- Nghe bụng thấy âm ruột giảm hoặc yếu ớt, thường gặp trong viêm
phúc mạc toàn thể.
- Thăm trực tràng thấy túi cùng Douglas căng, đau là triệu chứng rất
có giá trị giúp chẩn đoán [14].
1.3.3. Đặc điểm cận lâm sàng
- Bạch cầu thường tăng trong viêm phúc mạc cấp, thường các bệnh
nhân có số lượng bạch cầu >10x109/1[14].
- CRP tăng.


14
- Trên phim chụp bụng không chuẩn bị không có hình ảnh liềm hơi
(có thể thấy hình ảnh dịch ở ruột non, hoặc hơi ở hồi tràng). Có thể thấy hình
ảnh sỏi phân [27].
- Siêu âm có thể thấy hình ảnh VRT rõ: đường kính RT tăng hơn bình
thường, điển hình hơn có thể thấy hình ảnh mất cấu trúc các lớp của RT và
hình ảnh mất liên tục của thành RT cùng với hình ảnh có dịch khu trú hoặc tự
do trong khoang PM tùy theo số lượng [28].
- Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng có cản quang cho thấy các hình ảnh như

Streptococci là những chủng loại thường gặp.
Cytomegalovirus kết hợp trong viêm ruột thừa được tìm thấy ở bệnh
nhân có hội chứng suy giảm miễn dịch [21].
1.3.6. Chẩn đoán viêm phúc mạc ruột thừa
1.3.6.1. Chẩn đoán xác định
 Lâm sàng:
-

Đau bụng vùng hố chậu phải, sau lan ra khắp ổ bụng.

-

Dấu hiệu nhiễm trùng: sốt, môi khô, lưỡi bẩn, có thể có sốc nhiễm

-

Triệu chứng kèm theo: nôn, da khô, độ đàn hồi da giảm …

-

Co cứng thành bụng.

-

Cảm ứng phúc mạc hay phản ứng thành bụng.

-

Nhu động ruột giảm hoặc mất.


- Tắc ruột
- Viêm phúc mạc nguyên phát
1.4. ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC RUỘT THỪA
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đề cập đến phần điều trị viêm phúc
mạc ruột thừa. Nguyên tắc điều trị viêm phúc mạc ruột thừa là phẫu thuật kết
hợp với điều trị nội khoa.
- Mục đích của phẫu thuật là: cắt bỏ ruột thừa viêm và làm sạch ổ
bụng, dẫn lưu ổ bụng.
- Mục đích của điều trị nội khoa là: hồi sức, chống sốc, bồi hoàn nước
điện giải và chống nhiễm trùng.
Hiện có 2 phương pháp mổ:
1.4.1.

Mổ mở

 Đường rạch thành bụng
- Đường Jalaguier: rạch da dọc theo bờ ngoài cơ thẳng bụng bên phải,
không tách cơ, có thể mở rộng lên trên hoặc xuống dưới để cắt ruột thừa và
rửa bụng.
- Đường trắng giữa dưới rốn: dễ dàng và thuận tiện hơn trong việc cắt
ruột thừa và rửa ổ bụng.
 Xử lý ruột thừa


17
Tổn thương ruột thừa trong viêm phúc mạc ruột thừa là ruột thừa hoại
tử, thủng hoặc mủn nát. Cần xác định chính xác tình trạng gốc ruột thừa để xử
lý hoặc cột gốc ruột thừa, hoặc khâu vùi, hoặc cắt xéo manh tràng bằng
stapler, hoặc dẫn lưu manh tràng ra da qua gốc ruột thừa.


nhân:
- Phúc mạc, cân cơ đóng thành một lớp, khâu da kín.
- Phúc mạc, cân cơ đóng thành một lớp, khâu da thưa hoặc để hở da,
khâu da thì hai.
- Phúc mạc, cân cơ và da đóng chung một lớp bằng chỉ đơn sợi
( thường là dùng chỉ thép).
1.4.2. Mổ nội soi
Chúng tôi sẽ trình bày kỹ phần này dưới đây.
1.5. PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC RUỘT
THỪA
1.5.1. Vài nét về lịch sử phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa
1.5.1.1. Thế giới
- Phẫu thuật nội soi cắt RT đã được thực hiện từ khá sớm trước khi có
cắt túi mật nội soi. Năm 1977, Dedok thực hiện cắt ruột thừa có nội soi hỗ trợ.
RT được phẫu tích bằng nội soi và được cắt qua một lỗ nhỏ ở thành bụng
[29].
- Năm 1980, Kurt Semm, một bác sĩ sản khoa, báo cáo cắt RT cơ hội
đầu tiên khi thực hiện nội soi thám sát ổ bụng với một kính soi trực tiếp có độ
phóng đại 2 – 6 lần [3], [29].
- Năm 1986, Patrick Oregan cắt RT nội soi trong điều trị viêm RT cấp
[29]. Từ đó, phẫu thuật nội soi cắt RT phát triển ngày càng rộng rãi trên toàn
thế giới.
1.5.1.2. Việt Nam
- Trước đây so với thế giới, việc áp dụng phẫu thuật nội soi ở Việt
Nam chưa được phổ biến rộng rãi vì hạn chế về điều kiện kinh tế. Tại Bệnh


19
viện Việt Đức áp dụng phẫu thuật cắt RT nội soi từ năm 1993 và tại khoa
Ngoại, Bệnh viện Bạch Mai, phẫu thuật nội soi cắt RT được áp dụng từ năm


20
 Màn hình màu.
 Nguồn sáng.
 Hệ thống bơm hơi ổ bụng: khí CO2.
 Máy đốt điện.
- Dụng cụ phẫu thuật nội soi
 Kính nội soi 300 hoặc 450.
 Trocar 10 mm, 5 mm.
 Dụng cụ phẫu tích: Kelly nội soi. Dụng cụ nắm: Grasper nội soi.
Dụng cụ cắt: kéo.
 Ống hút.
 Dụng cụ đẩy chỉ.
 Kẹp mang kim nội soi.
- Bộ dụng cụ nội soi
Kẹp khăn, Kelly, kéo, kẹp mang kim, nhíp có mấu, chỉ đóng cânVicryl
1 (có thể dùng cột gốc ruột thừa nếu không có clip hem-o-lock), chỉ khâu da.
1.5.5.

Kỹ thuật mổ

- Bệnh nhân nằm ngửa, phẫu thuật viên và người phụ đứng bên trái
bệnh nhân. Dàn máy nội soi đặt đối diện với phẫu thuật viên. Phẫu thuật viên,
phẫu trường và màn hình nằm trên một đường thẳng.
- Đặt các trocar và bơm CO2 vào ổ bụng: Rạch một đường thẳng hoặc
một đường vòng cung dài 10 mm dưới rốn. Phẫu tích các lớp cho đến khi vào
đến ổ phúc mạc theo phương pháp kín hoặc hở. Đặt một trocar 10mm, qua đó
bơm CO2 vào ổ bụng. Dùng kính soi 10 mm thẳng hoặc nghiêng 30 0 hoặc
nghiêng 450quan sát toàn thể ổ bụng để khẳng định chẩn đoán và loại trừ các
bệnh lý khác. Đặt một trocar 10 mm ở hạ vị, một trocar 5 mm ở hố chậu phải.

dịch, tránh vấy bẩn dịch sang nơi khác. Có thể tưới rửa với ít nước và hút
sạch.
- Tìm RT và bộc lộ mạc treo: bước đầu tiên là bộc lộ mạc treo RT,
bằng cách nâng ruột thừa lên thành bụng. Dùng kẹp nắm vào mạc treo RT.

Hình1.5. Bộc lộ ruột thừa và mạc treo ruột thừa


Nguồn: theo Carlos E. D. và cs (2014) [32].

- Xử lý mạc treo RT: có nhiều cách để xử lý mạc treo RT. Có thể tạo
một cửa sổ mạc treo RT trước, xử trí mạc treo bằng clip để kẹp động mạch
RT, buộc chỉ, hoặc dùng stapler hoặc chỉ dùng dao đốt điện.
- Xử trí gốc RT: sau khi đã cắt mạc treo RT tới sát gốc RT, buộc một
nơ tại gốc, cắt RT cách gốc 3 – 5 mm để tránh tụt nơ. Xử trí gốc RT có thể
bằng hem-o-lok hoặc chỉ làm sẵn hoặc tự tạo trong lúc mổ hoặc dùng clip
hoặc stapler [32].
- Trong trường hợp có hoại tử sát gốc RT, cột không an toàn thì cần
phải khâu gốc RT, hoặc cắt manh tràng bằng stapler [32].


23

Hình1.6. Xử trí gốc ruột thừa bằng chỉ cột


Nguồn: theo Carlos E. D. và cs (2014) [32].

- Lấy RT ra ngoài: RT được cho vào bao và lấy ra ngoài qua trocar
10 mm ở hạ vị. Tránh không để RT chạm vào vết mổ. Nếu RT lớn không kéo

thông thường và vùi gốc RT bằng mũi khâu vùi chữ Z hoặc X, cách này phải
áp dụng kỹ thuật khâu trong cơ thể. Cách thứ hai là dùng stapler cắt bỏ RT
kèm một phần nhỏ đáy của manh tràng[12].
- Cắt ruột thừa ngoài ổ bụng
Ở những bệnh nhân có thành bụng mỏng, mạc treo RT không dày mỡ,
có thể kéo RT vào lòng trocar ở hố chậu trái. Rút trocar, xử lý mạc treo và gốc
RT ngoài ổ bụng, sau đó thả manh tràng về lại hố chậu phải [12].
- Sử dụng các dụng cụ có đường kính rất nhỏ
Phương pháp phẫu thuật với các dụng cụ nhỏ (2 – 3 mm) gọi là
“needlescopic surgery”, có thể nói là “phẫu thuật nội soi với các dụng cụ có
đường kính như cái kim” có thể được áp dụng rất tốt cho cắt ruột thừa. Khi đó
ngõ vào dưới rốn sẽ dành cho kính soi 3 hay 5 mm, ngõ vào ở hố chậu trái là
5 mm và hố chậu phải là 2 mm. Tổng cộng chiều dài cả 3 ngõ vào chỉ khoảng
10 – 12 mm. Để cầm nắm mô được chắc, cần xoay kềm quanh trục của nó. Vì
lưỡi kéo nhỏ nên mỗi nhát chỉ cắt được ít mô. Ngõ 2 mm chỉ cần dán băng


25
dính mà không cần khâu. Các ngõ 5 mm chỉ khâu dưới da. Thời gian cuộc mổ
có thể dài hơn mổ nội soi thông thường nhưng sau mổ bệnh nhân ít đau hơn
[12].
- Phẫu thuật một trocar
Một trong những tiến bộ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng được chấp
nhận hiện nay là phẫu thuật một trocar hay một đường mổ. Về cơ bản là đưa
tất cả dụng cụ phẫu thuật nội soi ổ bụng qua một đường mổ ở rốn qua một
dụng cụ gọi là TriPort. Tuy nhiên phương pháp này cần phải có những dụng
cụ chuyên biệt không thường có tại các bệnh viện hiện nay [34].
- Phẫu thuật cắt ruột thừa nội soi qua ngả âm đạo
Đối với viêm ruột thừa cấp ở bệnh nhân nữ có thể cắt RT qua ngả âm
đạo: một vết mổ được thực hiện trong vòm sau âm đạo, cho phép tiếp cận vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status