HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
GIA ĐÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
GIA ĐÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 62 22 03 08
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.
PGS,TS Bùi Thị Ngọc Lan
2.
TỐ TÁC ĐỘNG
2.1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới và về vai trò của gia đình
trong xây dựng nông thôn mới
2.2. Những yếu tố tác động đến vai trò của gia đình vùng đồng bằng sông Hồng
trong xây dựng nông thôn mới
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Thực trạng thực hiện vai trò của gia đình vùng đồng bằng sông Hồng
trong xây dựng nông thôn mới hiện nay và nguyên nhân
3.2. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện vai trò của gia đình vùng đồng bằng
sông Hồng trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY
4.1. Quan điểm cơ bản nhằm phát huy vai trò của gia đình vùng đồng bằng
sông Hồng trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
4.2. Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của gia đình vùng đồng bằng
sông Hồng trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
KẾT LUẬN
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
giá chủ thể tham gia vào xây dựng nông thôn mới
Biều đồ 3.7. Tỷ lệ đánh giá mức độ gia đình tham gia góp ý, xây dựng kế
hoạch, chương trình, quy định,... của địa phương
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Gia đình là hạt nhân của xã hội, là nơi sản sinh nuôi dưỡng con người, vì
vậy, gia đình có vị trí, vai trò quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của mỗi
cá nhân mà cả đối với xã hội được thể hiện trong việc thực hiện các chức năng
kinh tế, xã hội, giữ gìn và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc. Ở giai đoạn nào, gia đình cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Gia
đình là gốc của nước, vì vậy sự phát triển của gia đình sẽ tác động trực tiếp tới sự
phát triển bền vững của đất nước.
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành nhiều văn bản khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của gia đình đối
với sự phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã chỉ rõ: “Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình
thành nhân cách” [31, tr.76-77]; đến Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh “Thực
hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp,
xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” [33, tr.128].
Quán triệt quan điểm trên, thực hiện vai trò của gia đình được trong bối
cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông
nghiệp, nông thôn càng trở nên cấp thiết, biểu hiện nổi bật là trong triển khai
“Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”. Xây dựng nông
thôn mới (NTM) là chương trình lớn của quốc gia góp phần hiện thực hóa mục
tiêu phấn đấu tới năm 2030 Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu trước mắt và lâu dài nêu trên, cùng
đình vùng ĐBSH thực hiện vai trò trong xây dựng NTM, tạo sự cân bằng và phát
triển bền vững của nông nghiệp, nông thôn của vùng nói riêng và của Việt Nam
nói chung. Đề tài “Gia đình vùng đồng bằng sông Hồng trong xây dựng
nông thôn mới hiện nay” mà nghiên cứu sinh lựa chọn góp phần đáp ứng yêu
cầu đặt ra về phát huy vai trò gia đình trong phát triển nông nghiệp, nông dân,
nông thôn.
3
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình và vai trò gia
đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM, từ đó luận án đề xuất những quan điểm, giải
pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
-
Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu về gia đình, xây dựng
NTM và vai trò của gia đình trong xây dựng NTM.
-
Luận giải những vấn đề lý luận chung về nông thôn, xây dựng nông
thôn mới; gia đình và vai trò của gia đình trong xây dựng NTM; làm rõ những
yếu tố tác động đến gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM hiện nay.
-
Vùng đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố nhưng để đáp ứng
yêu cầu đối tượng nghiên cứu, luận án đi sâu khảo sát tại một số tỉnh/ thành
phố như:
(1)
Thành phố Hà Nội (gồm huyện Đan Phượng, huyện Chương Mỹ)
(2)
Tỉnh Vĩnh Phúc
(3)
Tỉnh Quảng Ninh
(4)
Tỉnh Hải Dương
(5)
Tỉnh Nam Định
(6)
Tỉnh Thái Bình
Luận án lựa chọn các địa bàn trên để khảo sát phục vụ cho các nội dung
của đề tài vì: Thành phố Hà Nội là trung tâm vùng ĐBSH, trong đó hai huyện
Đan Phượng và huyện Chương Mỹ là hai huyện điển hình trong quá trình xây
dựng NTM.
-
Phương pháp điều tra khảo sát xã hội học bao gồm: Định lượng thông
qua 300 phiếu hỏi các chủ hộ đại diện cho gia đình của 6 tỉnh (Vĩnh Phúc,
Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, Hải Dương), mỗi tỉnh phát 50
phiếu điều tra; và định tính thông qua phỏng vấn sâu (một số cán bộ và người
dân) tại một số địa bàn nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của Luận án
-
Làm rõ lý luận về mối quan hệ giữa vai trò của gia đình với một số
tiêu chí xây dựng NTM gắn trực tiếp đến gia đình.
-
Phân tích, luận giải, tổng kết, đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của
gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM.
-
Từ đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy
vai trò của gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM giai đoạn tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
-
Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, VAI TRÒ CỦA GIA
ĐÌNH, GIA ĐÌNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về gia đình, vai trò của gia đình
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về gia đình, vai trò của gia đình ở
trong nước
Gia đình được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, phân tích và tiếp cận ở
nhiều góc độ khoa học khác nhau: như góc độ kinh tế, văn hóa, xã hội học, lịch
sử, triết học,...; gia đình, xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa cũng là một
đề tài dành được sự quan tâm nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học. Các
công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm gia đình, vai trò, chức năng của gia đình
và sự biến đổi của cơ cấu gia đình trong xã hội hiện đại.
Các công trình cùng hướng nghiên cứu về khái niệm gia đình, vai trò,
chức năng của gia đình như:
-
Tác giả Thanh Lê, Xã hội học gia đình [56] đã nghiên cứu quá trình hình
thành và phát triển của gia đình và hoạt động của gia đình trong xã hội cụ thể,
như mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, các mối quan hệ trong gia đình, chức
năng gia đình, quy mô gia đình,... Tác giả đưa ra khái niệm “gia đình là một
nhóm gồm những người gắn bó với nhau bằng quan hệ vợ chồng và cha mẹ
(huyết thống)” [56, tr.26].
-
gian [23].
Tác giả tiếp cận và viết về gia đình theo một cách riêng của xã hội học,
phản ánh sự đa dạng các hình thái gia đình, hôn nhân và gia đình theo quan điểm
giới, biến đổi gia đình và các cách tiếp cận lý thuyết về gia đình.
Ngoài ra một số công trình nghiên cứu khác cũng làm rõ vai trò của gia
đình trong giáo dục phẩm chất của các thành viên, như: Tác giả Lê Thi với bài
“Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” [96].
Luận án “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện
nay”của Nghiêm Sỹ Liêm [60], v.v..
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về biến đổi của gia đình
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, gia đình chịu tác động
của quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa, nền kinh tế thị trường nên cũng có những
biến đổi trong bối cảnh mới- đây cũng là một khía cạnh được các tác giả nghiên
cứu. Tác giả Lê Thi, “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” [97].
9
Cuốn sách cung cấp cho người đọc những tài liệu tham khảo về tình hình gia
đình Việt Nam, mối quan hệ giữa các thành viên trong bối cảnh đổi mới của đất
nước. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị và tiếp cận chủ yếu dưới góc độ về
giới và gia đình văn hóa. Tác giả Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom và Wil
Burghoorn với bài “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” [58], đã chỉ
ra ở Việt Nam hiện nay 70 - 80% dân số sống ở nông thôn trong các gia đình mở
rộng và gia đình hạt nhân. Trong công trình này, phân tích những biến đổi của
gia đình nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH, biểu hiện sự di cư của
thanh niên nông thôn đi tìm việc làm ở thành thị, vai trò giáo dục của cha mẹ với
con cái, điều kiện kinh tế của hộ gia đình cũng ảnh hưởng đến chức năng giáo
dục của gia đình; tác động đến tuổi kết hôn, cách chọn “bạn đời”, tình dục trong
hôn nhân và quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn. Như
vậy, các nghiên cứu này cho thấy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
dựng luật pháp và chính sách đến việc thực hiện, xây dựng cơ chế và biện pháp
cụ thể để đảm bảo việc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất và bền vững.
Cùng hướng nghiên cứu, tác giả Bùi Thị Ngọc Lan có các bài viết về gia
đình và giải pháp xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới như bài viết “Gia
đình Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ giới” [53] và bài “Mấy vấn đề đặt ra
trong xây dựng gia đình văn hóa thời kỳ đổi mới” [54].
Tác giả Đỗ Thị Thạch có bài viết “Về xây dựng gia đình văn hóa Việt
Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng” [89], tác giả đã trình bày quan điểm
của Đảng về vai trò của gia đình Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc
tế hiện nay. Tác giả đã chỉ ra, Đảng ta cần tập trung vào những giải pháp xây
dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong giai đoạn tới, trong đó nhấn mạnh đến hai
giải pháp là sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp
phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt
Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ; hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật
xây dựng gia đình văn hóa.
11
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về gia đình, vai trò của gia đình ở
nước ngoài
Gia đình cũng là một đề tài được các nhà nghiên cứu ở nước ngoài quan
tâm và có các công trình tiêu biểu sau:
-
Robert Cliquet có công trình nghiên cứu với tựa đề “Những xu hướng
chính ảnh hưởng đến gia đình trong thiên niên kỷ mới ở Tây Âu và Bắc Mỹ”
[84].
Nghiên cứu nêu lên thực trạng biến đổi về cấu trúc và chức năng gia đình ở
12
những biến đổi sâu sắc của xã hội liên quan đến kinh tế, văn hóa, không gian đô
thị... có tác động đến các thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống hoặc
hôn nhân.
Như vậy, gia đình là một đề tài được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới
nhiều góc độ từ khái niệm gia đình, vai trò, chức năng của gia đình, những thay
đổi của gia đình trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước, phát triển kinh tế hộ gia
đình vùng ĐBSH. Đây là những tài liệu tham khảo có giá trị lớn đối với luận án.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về gia đình vùng đồng bằng sông Hồng
Hiện nay gia đình vùng đồng bằng sông Hồng cũng đã được tiếp cận, phân
tích dưới các góc độ như: đặc điểm gia đình vùng ĐBSH, mối quan hệ giữa gia
đình vùng ĐBSH và xã hội, bình đẳng giới,... Điều này được thể hiện rõ trong
các công trình như: Mai Huy Bích, “Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng”
[22], tác giả nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc, chức năng của các gia đình vùng
ĐBSH từ góc độ dân tộc học và xã hội học, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa tính
cộng đồng và chức năng tái sinh sản, chức năng xã hội hóa, mục đích của hôn
nhân trong gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại.
-
Luận án của Sim Sang Joon, “Gia đình người Việt ở Châu thổ sông
Hồng và mối liên hệ của nó với cộng đồng xã hội” [86] đã trình bày gia đình
người Việt trong quan hệ nội tại và ngoại hàm cộng đồng xã hội, khái quát bản
sắc gia đình người Việt nói riêng và một phần về bản sắc văn hóa dân tộc Việt
nói chung. Một số dự báo và hướng giải quyết các vấn đề sẽ phát sinh trong gia
đình người Việt dưới tác động của nền kinh tế thị trường.
-
mạnh trong quá trình đổi mới ở nông thôn ĐBSH, nền kinh tế đã bắt đầu chuyển
đổi theo cơ chế thị trường, điều này đã kéo theo sự thay đổi các giá trị chuẩn
mực và các quy tắc ứng xử trong gia đình, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình.
-
Luận án của tác giả Khúc Thị Thanh Vân, “Vai trò của vốn xã hội trong
phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay
-
Nghiên cứu trường hợp tại Nam Định và Bắc Ninh” [130] lại tiếp cận một
hướng cụ thể để phát triển kinh tế hộ gia đình đó là vai trò của vốn xã hội. Tác
giả đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn xã hội và vai trò của
vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Nghiên cứu vốn xã hội ở ĐBSH
hiện nay và đầu tư, duy trì, khai thác vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia
đình vùng ĐBSH.
-
Tác giả Đỗ Văn Quân có cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về phát triển
kinh tế hộ gia đình ở đồng bằng sông Hồng với bài viết “Phát triển kinh tế hộ
gia đình trong tiến trình xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Hồng hiện
nay” [81]. Tác giả đã đánh giá tương quan giữa học vấn, nghề nghiệp, độ tuổi
14
với cơ cấu ngành nghề của chủ hộ, của gia đình, đất đai - tư liệu sản xuất của hộ
gia đình; thu nhập của hộ gia đình; tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ sản
khi chương trình xây dựng NTM chưa được triển khai nhưng các nội dung về
phát triển bền vững nông thôn mà tác giả đưa ra khá gần với các tiêu chí xây
dựng NTM, vì vậy công trình có giá trị tham khảo tốt khi triển khai luận án.
15
-
Tác giả Đỗ Đức Quân, "Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững
nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu
công nghiệp (Qua khảo sát các tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình)" [80].
Điểm nổi bật của công trình là đưa ra các quan điểm có tính khả thi nhằm phát
triển bền vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ như quan điểm đặt việc xây dựng và
phát triển các khu công nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong chiến lược
chung, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội toàn vùng nhằm tạo điều kiện
kinh tế để giải quyết tốt các vấn đề xã hội; việc thu hồi đất nông nghiệp để xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp phải thận trọng và khoa học; tăng cường
liên minh công - nông - trí thức và giữ vững ổn định chính trị - xã hội; phải thực
hiện gắn với quy hoạch xây dựng và phát triển các khu công nghiệp với quy
hoạch về phát triển nguồn nhân lực tại chỗ và quy hoạch phát triển NTM hiện đại
[80, tr.114-118].
-
Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, Viện Chính sách và chiến
lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Viện Khoa học Lao động và xã hội,
Nhóm nghiên cứu Kinh tế Phát triển, Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam, kết
quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2008 tại 12 tỉnh [135]. Cuốn sách là kết
quả số liệu thống kê kinh tế nông thôn Việt Nam qua điều tra bằng phương pháp
Trong cuốn sách tác giả đã giới thiệu những nhân tố tác động đến sự phát triển
của nông nghiệp Hàn Quốc, các chính sách và biện pháp chủ yếu giải quyết
những vấn đề cơ bản trên con đường phát triển hiện đại của nông nghiệp Hàn
Quốc, từ đó tác giả cũng đưa ra nhận xét đánh giá về hiệu quả của các chính sách
cải cách nông nghiệp của Hàn Quốc, những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải
quyết và các chủ trương chính sách của Chính phủ Hàn Quốc, một số giải pháp
cho nông nghiệp Việt Nam từ kinh nghiệm của Hàn Quốc.
[94].
Hoàng Bá Thịnh, "Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc và Việt Nam"
Bài viết chỉ ra ở Hàn Quốc bắt đầu từ những năm 1970 đã tiến hành phong
trào Saemaul Undong (Làng mới). Qua đó, Hàn Quốc đã đạt được những thành
tựu vô cùng ấn tượng, có sức lan tỏa và ảnh hưởng quốc tế. Bài viết phân tích, so
sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa phong trào Làng mới của Hàn
Quốc và chương trình xây dựng NTM của Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm có thể vận dụng vào thực hiện Chương trình NTM trong những năm tiếp
theo ở Việt Nam.
-
Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại
học quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Hợp tác quốc tế vì
phát triển nông thôn ở Việt Nam: sự kết nối chính sách và thực tế” [47]. Trong
kỷ yếu có đăng các tham luận về NTM trên thế giới như: Dr Edward Lahiff,
“Rural development: International experience and recent trends (Phát triển nông
thôn: Kinh nghiệm quốc tế và xu hướng hiện nay)”; H.E. Meirav Eilon
trên thế giới, trong đó có Thái Lan. Chỉ ra quan điểm, định hướng chiến lược
phát triển nông nghiệp và những thành tựu, hạn chế trong phát triển nông nghiệp
bền vững ở Thái Lan, từ đó chỉ ra những kinh nghiệm với Việt Nam.
Như vậy, nghiên cứu xây dựng NTM ở các nước trên thế giới nhằm rút ra
bài học kinh nghiệm để hoạch định chính sách xây dựng NTM ở Việt Nam.
18
Xây dựng NTM được xác định là một nhiệm vụ chiến lược của nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Chính vì thế, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn
đề xây dựng NTM và đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp,
nông thôn và xây dựng NTM, nhưng liên quan trực tiếp và có ý nghĩa đối với
luận án có một số công trình sau:
- Tác giả Trương Giang Long, Nguyễn Thành Long, “Liên kết “4 nhà” giải pháp cơ bản góp phần xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu
Long” [57]. Cuốn sách là tổng hợp các bài viết chỉ ra thực trạng và những vấn đề
đặt ra trong quá trình thực hiện liên kết “4 nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà
doanh nghiệp, nhà nông) ở đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua và chỉ
ra vai trò định hướng của nhà nước và các cấp chính quyền, vai trò của nhà khoa
học, vai trò của nhà doanh nghiệp và vai trò của nông dân trong liên kết “4 nhà”
ở
đồng bằng sông Cửu Long. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích và
làm rõ vai trò của 4 chủ thể quan trọng trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long.
-
Tác giả Vũ Văn Phúc đã tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, lãnh
đạo các cơ quan trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về kinh nghiệm
phí [76, tr.407].
Bước đầu xây dựng NTM ở các tỉnh, thành đã cho thấy kinh nghiệm cần
huy động sức mạnh nội lực của quần chúng nhân dân, đồng lòng, đồng sức cùng
Đảng và Nhà nước thực hiện thắng lợi mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM. Đây
cũng là căn cứ để luận án lựa chọn làm rõ vai trò của một “thiết chế xã hội đặc
thù” trong xây dựng NTM - đó là gia đình.
-
Phạm Huỳnh Minh Hùng, “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong
xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” [44]. Tác giả đã
trình bày cơ sở lý luận, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng và thực trạng phát huy
vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng NTM vùng đồng bằng sông Cửu
Long. Qua đó, tác giả đã chỉ ra một số quan điểm, giải pháp có tính khả thi để
nông dân phát huy hơn nữa vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NTM vùng
đồng bằng sông Cửu Long.